Tích hợp kiến thức văn học Nam Định vào dạy học chương trình Ngữ văn lớp 10, trung học phổ thông - Pdf 26

PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
Tích hợp kiến thức văn học địa phương vào chương trình ở các cấp học không phải là
một vấn đề mới lạ trong quá trình dạy học môn Ngữ văn hiện nay. Mục tiêu của việc tích
hợp này là nhằm giúp học sinh tiếp cận, tìm hiểu nền văn học của địa phương, cũng như biết
cách vận dụng những kiến thức trong nhà trường với những vấn đề đang được đặt ra cho
chính địa phương mình. Đồng thời, việc khai thác, tìm hiểu kiến thức văn học địa phương sẽ
góp phần làm phong phú, đa dạng thêm chương trình chính khóa, từ đó giúp học sinh hiểu
biết và hòa nhập hơn với môi trường mình đang sống, có ý thức giữ gìn, bảo vệ, phát huy
những giá trị văn hóa của quê hương, bồi dưỡng tình yêu, lòng tự hào với quê hương, xứ sở
của mình. Đó là những mục tiêu chính đáng và quan trọng trong quá trình giáo dục nhân
cách cho học sinh trong giai đoạn xã hội có nhiều những biến động như hiện nay. Tuy nhiên,
việc tích hợp kiến thức văn học địa phương vào chương trình, mới chỉ được chú trọng ở cấp
trung học cơ sở chứ chưa được chú trọng ở cấp trung học phổ thông, chính vì thế mà chưa
tạo ra được sự thống nhất trong chương trình Ngữ văn.
Một trong những mục tiêu của môn Ngữ văn là nhằm cung cấp cho học sinh những
kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ và văn học, phù hợp với
trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong thời kì công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Hơn nữa, với độ tuổi của học sinh ở cấp trung học phổ thông, các
em đang trong quá trình hình thành phát triển nhân cách, đã có những nhìn nhận, đánh giá
sâu sắc về cuộc sống, văn học, nghệ thuật…các em cần được tìm hiểu về chính quê hương,
xứ sở mình trên nhiều lĩnh vực để bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước, để bảo tồn và
phát huy những giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống của quê hương. Cho nên, sẽ là thiếu sót
nếu như trong chương trình Ngữ văn cấp trung học phổ thông không đề cập đến mảng văn
học địa phương.
Nam Định là một trong những trung tâm của vùng Đồng bằng Bắc Bộ, là mảnh đất
người xưa đã từng truyền tụng: “ Bắc Kỳ đa sĩ, Nam Định vi ưu”. Bản sắc văn hóa Nam
Định không thể tách rời nền văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, trên mảnh đất này, trải qua những
năm tháng thử thách của lịch sử vẫn có những dấu ấn riêng, tạo nên cốt cách của người Nam
Định, tạo nên một màu sắc văn hóa riêng, trong đó có nền văn học. Chính những sắc màu
riêng của nền văn học địa phương nói chung và của văn học Nam Định nói riêng đã mang tới

- Việc tích hợp kiến thức văn học địa phương vào chương trình Ngữ văn lớp 10 trung học
phổ thông đang diễn ra như thế nào?
- Giáo viên cần lựa chọn những mảng kiến thức nào trong quá trình tích hợp kiến thức văn
học Nam Định vào chương trình Ngữ văn lớp 10?
2
- Hiệu quả của tích hợp kiến thức văn học Nam Định vào dạy học chương trình Ngữ văn lớp
10 trung học phổ thông như thế nào?
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Quá trình tích hợp kiến thức văn học Nam Định vào dạy học chương trình Ngữ văn lớp 10.
- Học sinh lớp 10 tại trường THPT Nguyễn Khuyến, Nam Định, năm học 2013-2014.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp so sánh, đối chiếu, khảo sát, thực nghiệm, thống kê, phân tích.
- Phương pháp khái quát, hệ thống hóa; nghiên cứu tiếp thu chọn lọc các tài liệu liên quan.
6. Ý nghĩa nghiên cứu
- Cung cấp những kiến thức cơ bản về nền văn học tỉnh Nam Định cho học sinh lớp 10 cấp
THPT. Bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào về truyền thống văn hóa, văn
học của quê hương.
- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tạo động cơ, hứng thú trong quá trình học tập
cho học sinh. Góp phần vào việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học môn Ngữ văn
trong giai đoạn hiện nay.
3
PHẦN 2: NỘI DUNG
QUY TRÌNH VÀ CÁC GIẢI PHÁP KINH NGHIỆM CỤ THỂ
2.1. Thực trạng ( trước khi tạo ra giải pháp )
2.1.1. Không nằm ngoài quá trình phát triển của nền văn học dân tộc, văn học Nam Định
cũng phát triển mạnh mẽ ở hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết. Văn học dân gian
Nam Định xuất hiện trước khi có chữ viết và song song tồn tại với dòng văn học thành văn.
Văn học dân gian bao gồm hai bộ phận chính là thơ ca dân gian và văn xuôi dân gian.
Dấu ấn của Nam Định thể hiện trong ca dao, tục ngữ không chỉ là những tên làng, tên
xã cùng với đặc điểm địa lý, tự nhiên của vùng miền đó, mà còn là những phương ngôn về

Ngữ văn các cấp là rất cần thiết, thế nhưng việc làm đó đang gặp rất nhiều khó khăn. Khó
khăn đầu tiên là sự phân bố, sắp xếp chương trình chưa đồng đều. Chúng ta mới chỉ thấy có
sự phân bố thời lượng cho chương trình văn học địa phương ở cấp trung học cơ sở mà chưa
có ở chương trình Ngữ văn cấp trung học phổ thông, cụ thể: lớp 6 có 4 tiết ( tiết 69, 70 ở HK
I, tiết 139, 140 ở HK II); lớp 7 có 6 tiết ( tiết 70 ở HK I, tiết 74, 133, 134, 137, 138 ở HK II);
lớp 8 có 5 tiết ( tiết 31, 52 ở HK I, tiết 92, 121, 137 ở HK II); lớp 9 có 5 tiết ( tiết 42, 63 ở
HK I, tiết 101, 133, 143 ở HK II). Không chỉ thế, đối với chương trình văn học địa phương ở
cấp trung học cơ sở cũng gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình dạy học như về tư liệu hỗ
trợ giảng dạy, các điều kiện để tổ chức các hoạt động ngoại khóa,… cho nên phần lớn thời
lượng dạy học chương trình văn học địa phương vẫn chỉ tập trung vào phần Tiếng Việt ( sửa
lỗi chính tả, phát âm… cho học sinh) mà chưa chú ý đến phần Văn học của địa phương. Tuy
rằng Bộ GD-ĐT cũng đã có hướng dẫn thực hiện “ Phần văn học địa phương, nếu chưa
hoặc không có văn bản đáp ứng, có thể sử dụng cho hoạt động ngoại khóa, tham quan quê
nhà văn hoặc gặp gỡ các văn nghệ sĩ ở địa phương, gặp gỡ Hội văn nghệ…” ( Theo Phân
phối chương trình THCS môn Ngữ văn – Phần Hướng dẫn thực hiện – T.34), song dường
như mảng văn học địa phương vẫn còn rất mơ hồ, như một “mảng trống chưa được lấp đầy”
đối với chương trình, với giáo viên và cả với học sinh.
Khó khăn đó không chỉ thấy ở cấp trung học cơ sở mà chúng ta còn thấy rõ hơn ở cả
cấp trung học phổ thông. Trong chương trình Ngữ văn lớp 10, 11, 12 không có thời lượng
dành cho văn học địa phương, càng không có một tài liệu hướng dẫn nào đối với mảng kiến
thức này. Nếu muốn thực hiện, giáo viên phải tự mình tìm hiểu tài liệu, xây dựng thành các
chuyên đề, các buổi hoạt động ngoại khóa… cho học sinh. Nhưng không phải giáo viên nào,
nhà trường nào cũng có điều kiện thiết kế và tổ chức các buổi học theo chuyên đề hay các
buổi hoạt động ngoại khóa và càng khó có thể đưa hoạt động tìm hiểu văn học địa phương
trở thành một hoạt động thường niên trong quá trình dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường.
5
Vấn đề dạy học văn học địa phương của tỉnh Nam Định cũng đang đối mặt với những
khó khăn đó. Chúng ta chưa có điều kiện để sưu tầm, biên soạn chương trình, nội dung cụ
thể, phù hợp để phục vụ công tác giảng dạy. Ngay với mảng văn học dân gian, chúng ta cũng
chưa thể đánh giá được hết trữ lượng của thơ ca dân gian Nam Định. Trước đây, cũng đã có

đoạn chèo “ Thần đồng đất Việt”, Tìm hiểu giai thoại dân gian Nam Định… Đối với bộ
phận văn học viết, chương trình Ngữ văn lớp 10 mới chỉ dừng lại ở mảng văn học trung đại (
từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỉ XIX ) cho nên chúng tôi thấy có thể đưa ra các chuyên đề sau:
Vài nét về văn học Nam Định dưới thời Lý, Văn học Nam Định dưới triều đại nhà Trần,
Trần Nhân Tông – ông Vua thi sĩ của triều Trần….Đó là những chuyên đề có thể đưa vào để
giúp học sinh tiếp cận với nền văn học của quê hương. Tuy nhiên, để xây dựng được hệ
thống các chuyên đề đó, cũng như để có thể lồng ghép với chương trình chính khóa trong
quá trình dạy học môn Ngữ văn lớp 10 tại các nhà trường một cách thường xuyên, thì đòi hỏi
phải có thời gian. Trong phạm vi nghiên cứu của giải pháp này, tôi xin đưa ra mô hình dạy
học của một vài chuyên đề sau:
Chuyên đề 01: Vài nét khái quát về văn học dân gian Nam Định
Chuyên đề 02: Vài nét về chèo Nam Định và trích đoạn chèo “Thần đồng đất Việt”
Chuyên đề 03: Vài nét về văn học Nam Định dưới triều nhà Lý – Trần
Cả ba chuyên đề trên đã được đưa vào dạy thực nghiệm ở khối lớp 10 tại trường THPT
Nguyễn Khuyến thành phố Nam Định. Để minh họa cho quá trình dạy thực nghiệm, chúng
tôi đã tiến hành quay video giờ học của chuyên đề thứ 02: Vài nét về chèo Nam Định và
trích đoạn chèo “Thần đồng đất Việt” và nộp kèm theo bản sáng kiến kinh nghiệm.
Sau đây là phần thiết kế giáo án thực nghiệm theo từng chuyên đề:
Chuyên đề 01:
Vài nét khái quát về văn học dân gian Nam Định
A.Mục tiêu bài học.
Giúp học sinh:
- Về kiến thức: Có thêm hiểu biết về văn học dân gian của quê hương.
- Về kỹ năng: Biết cách tiếp cận và tìm hiểu các thể loại văn học dân gian của quê hương qua
đặc trưng từng thể loại.
- Về thái độ: Hiểu được những giá trị to lớn của văn học dân gian quê hương, tâm hồn của
người dân lao động quê mình từ đó có thái độ trân trọng đối với di sản văn học của quê
hương, yêu quý người dân lao động cũng như những sáng tác của họ.
B.Đối tượng và thời lượng dạy học
- Đối tượng: Học sinh lớp 10 Ban cơ bản

Gồm 02 thể loại chính là tục ngữ và ca dao, có thể được chia thành các nhóm sau:
+ Về địa danh từng vùng
+ Về nghề nghiệp
+ Về đặc sản, sản vật
8
+ Về dòng họ
+ Về chợ búa, hội hè
+ Về trang phục
* Văn xuôi dân gian Nam Định:
Gồm 02 thể loại chính là truyền thuyết, sự tích; có thể được chia thành các nhóm sau:
+ Về các nhân vật, sự kiện, địa danh
+ Về các dòng họ
-Văn học dân gian Nam Định vẫn tiếp tục phát triển cho đến ngày hôm nay, và tác động
không nhỏ tới nền văn học viết của Nam Định. Văn học dân gian Nam Định đã góp phần bồi
đắp tâm hồn, tài năng cho nhiều các thế hệ các nhà thơ, nhà văn Nam Định như: Trần Tế
Xương, Trần Tuấn Khải, Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ…
* Sân khấu dân gian Nam Định:
- Nam Định là một trong những chiếc nôi của chiếu chèo vùng Sơn Nam hạ. Hoạt động theo
kiểu phường và gánh.
+ Phường là bán chuyên, mỗi năm chỉ biểu diễn có 2 mùa xuân thu nhị kỳ. Nam Định có các
phường nổi tiếng là phường chèo xã Yên Nhân, Yên Phong (Ý Yên), phường chèo xã Hải
Châu (Hải Hậu), phường Mỹ Hà (Mỹ Lộc), Giao Hà (Xuân Thuỷ).
+ Gánh chèo: có tính chuyên nghiệp, hát ở các đình đám, hội hè hết mùa đình đám thì đi
hát ở các rạp trong tỉnh. Nổi tiếng ở Nam Định là gánh hát chèo của cụ Trùm Khúc.
+ Phường chèo và gánh chèo thường diễn những tích cổ có sẵn như: "Quan Âm thị Kính",
"Lưu Bình Dương Lễ", "Xuý Vân giả dại", "Đôi ngọc lưu ly" Mỗi phường, mỗi gánh tuỳ
từng nơi diễn trong các lớp hề họ có lối "cương" sáng tạo riêng để hợp với từng nơi diễn.
-Bên cạnh đó sân khấu dân gian Nam Định còn có múa rối nước. Nổi bật là rối nước Nam
Chấn (huyện Nam Trực), múa rối cạn chùa Bi, chùa Cổ Lễ, chùa Keo ở Hành Thiện.
Hoạt động 2. Tìm hiểu về thơ ca dân gian Nam Định

Đèn nhang sắp để trong nhà
Giấy tiền vàng bạc đem ra bày hàng
g.……….rút kén, ươm tơ
Chợ trâu … , bánh đa làng ….
h.……… có tiếng từ xưa
Biển đình Phong Lạc, bia chùa Phúc Lâm
Khách về khách vẫn hỏi thăm
Nước chè cầu ngói, tơ tằm chợ Lương
Đáp án:
a. Nam Chân, Giao Thủy
b. Nam Chân, Hải Hậu
Nam Chân tức là Nam Trực ngày nay. Thời Bắc thuộc, Nam Trực được gọi là Tây
Chân, thời Lê Trung Hưng được đổi thành Nam Chân.
Cổ, Hoành, An là những chữ đầu tiên trong tên các xã của các huyện Nam Chân, Giao
Thủy, Hải Hậu.
c. Cồn Quay, Cồn Bẹ, núi Nẹ, Thần Phù.
Năm 1511, vua Lê Tương Dực (1509-1516) phê chuẩn Quần Cường ấp thành xã Quần
Anh: phía Đông là Cồn Quay, Cồn Bẹ (nay thuộc xã Hải Thanh và thôn Xuân Hà xã Hải
Đông), phía Tây là Núi Nẹ, Thần Phù (nay nằm ngoài khơi huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình),
phía Bắc giáp Đại Hà (sông lớn-sông Ninh Cơ), phía Nam vươn ra biển ở độ sâu 18 sải nước.
Từ đây Quần Anh có tên trên bản đồ quốc gia Ngày 27/12/1888 (Nguyễn Đồng Khánh thứ
3, năm Quý Mùi) Kinh Lược Bắc Kỳ ra quyết định, được Tổng Trú sứ Trung-Bắc kỳ chuẩn y
thành lập huyện Hải Hậu.
d. Nam Định, đò Chè ( thuộc thành phố Nam Định )
e. Nam Định
f. Vị Hoàng ( thành phố Nam Định )
g. Bình Lãng ( Nghĩa Thắng, Nghĩa Hưng ), Quỹ Nhất ( Nghĩa Hòa, Nghĩa Hưng), Vò ( Yên
Phúc, Ý Yên ).
10
h. Quần Anh ( Hải Hậu ngày nay)

1.Làng Vân lò rèn
Làng Sen go khổ
2.Trời mưa cho ướt lá dâu.
Lấy chồng Hành Thiện, chẳng giàu cũng sang
3.Hay đan trại Cối
Múa rối làng Tè
Rè rè Liên Tỉnh
4.Hoành Nha họ Vũ
Trà Lũ họ Trần
5.Văn quan Phủ
Phú quan Nghè
Kinh nghĩa chỉ huy là quan Hoàng giáp.
6.Đậu phụ Thuỷ Nhai, Tú tài Hành Thiện…
7.Bỏ con bỏ cháu, không bỏ hai mươi sáu chợ
Ninh.
Bỏ tổ bỏ tiên không ai bỏ chợ Viềng mồng tám
8.Tháng Giêng gà gáy cơm đèn
Chị em sớm sửa đồng tiền rong chơi
Tháng hai về đồng Yên Hoà
Tháng ba kiếm củi gánh ra chợ Dần
Tháng tư cắt lúa tám xuân
Tháng năm cắt rạ ngày ăn quan tiền
Tháng sáu lúa rải thấp tho
Kiếm dăm ba thúng ăn cho nở nồi
Tháng bảy xới lúa rong chơi
Tháng tam cắt là bán nơi chợ Gà
Tháng chín phủ Khoái, Thanh Hà
Nghe đồn có lúa em ra kiếm tiền
Từ rày đã sang tháng mười
Đi đập lang sớm trồng chơi vài sào

Lẻ chợ Cồn Cốc, chẵn âu Đông Cường.
15.Trình Xuyên, Cốc Gạo, Dương Lai
Áo nái mặc ngoài, áo vải mặc trong
Khoe ra vẻ thúy sắc nồng
12
Tháng chạp cá mánh kiếm tiền…
9.Mồng một chơi cửa, chơi nhà
Mồng hai chơi xóm, mồng ba chơi đình
Mồng bốn chơi chợ Quả Linh
Mồng năm chợ Trình, mồng sáu non Côi
Qua ngày mùng bảy nghỉ ngơi
Bước sang mồng tám, đi chơi chợ Viềng
Chợ Viềng một năm mới có một phiên
Cái nón em đội cũng tiền anh mua.
10. Chợ Vị Hoàng một tháng sáu phiên
Gặp cô hàng xén kết nhân duyên cho rồi
Gánh hàng cô những quế hồi
Có mẹt bồ kết, có nồi phèn chua
Hương thơm xếp để trong bồ
Trần bì cam thảo, sài hồ hoàng liên
Hàng cô đáng giá bao tiền
Để ta chung vốn, góp tiền buôn chung
Buôn chung ta lại bán chung
Được bao nhiêu lãi, ta cùng chia nhau.
16.Xanh mắt là chị hàng na
Mặn mà hàng chuối, ngọt hoa hàng đường
17.Tiền thì trong túi rỗng không
Muốn ăn thuốc Ngữ ba đồng một hoa
18.Điếu này mua ở tỉnh Đông
Em nay là gái má hồng tỉnh Nam

2. Chọn và kể: Truyền thuyết về Mẫu Liễu:
*Giáng trần lần thứ 1:
Vào đầu thời nhà Hậu Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa
Hưng, trấn Sơn Nam; có ông Phạm Huyền Viên, người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn
Thị Hằng, người ấp Nhuế Duệ, cũng xã Vỉ Nhuế (nay là thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, Ý
Yên, tỉnh Nam Định). Hai ông bà là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm
một nỗi đã ngoài 40 mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là
Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu thai làm con, từ đó bà có
thai. Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh
hào quang. Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám
mây bước xuống thềm nhà, và bà sinh một bé gái. Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.
Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm
đang. Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn
phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu, canh cửi quán xuyến công việc gia đình.
Ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1462), cha của nàng qua đời. Hai năm sau mẫu thân của
nàng cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ
Nghĩa Hưng ( nay là thôn La Ngạn, ở đây có đền thờ Phụ thân và Mẫu thân của Phạm Tiên
Nga ). Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu chu du khắp
nơi làm việc thiện ( lúc này Tiên Nga vừa tròn 35 tuổi ). Bà đã ủng hộ tiền của và công sức
giúp dân đắp đê ngăn nước Đại Hà từ bên kia phía núi Tiên Sơn (nay là núi Gôi) đến Tịch
Nhi ( nay chính là đường đê Ba Sát, nối Quốc lộ 10 chạy dọc xã đến ngã ba Vọng. Đây cũng
chính là con đường nối di tích Phủ Dầy với Phủ Quảng Cung ). Cùng với việc đắp đê, bà còn
cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc
cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương
sư, khuyên họ cố sức dậy dỗ con em nhà nghèo được học hành. Năm 36 tuổi, Bà đến bờ
Sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa. Bên trên thờ
đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ cha và mẹ. Sau đó hai năm, Bà tới tu sửa
chùa Sơn Trường - Ý Yên, Nam Định, chùa Long Sơn - Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện
Thành ở Đồn xá - Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán , lập ra
14

- Về kiến thức:
15
+ Củng cố các kiến thức cơ bản về văn học dân gian: thể loại chèo cổ Việt Nam; về hoạt
động giao tiếp bằng ngôn ngữ,… Nắm được những kiến thức cơ bản về nghệ thuật chèo Nam
Định: quá trình hình thành, phát triển; các làng chèo nổi tiếng; các đặc trưng cơ bản; thành
tựu đã đạt được; các vở diễn và diễn viên, nghệ sỹ tiêu biểu cho nghệ thuật chèo Nam Định.
+ Nắm được các kiến thức cơ bản về tác giả Trần Đình Ngôn, vở chèo“ Thần đồng đất Việt”.
Nắm được những nét chính về cuộc đời, con người Trạng nguyên Nguyễn Hiền – Trạng
nguyên trẻ tuổi nhất trong lịch sử Việt Nam. Nắm được những nét chính về nghệ thuật hát
chèo, diễn chèo trên sân khấu.
- Về kĩ năng: Rèn cho học sinh các kỹ năng sau: Kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Kỹ năng tích
hợp các kiến thức trong quá trình học tập. Kỹ năng thuyết trình, giải quyết các vấn đề, làm
việc nhóm. Kỹ năng đọc hiểu một trích đoạn chèo theo đặc trưng thể loại. Kỹ năng biểu diễn
kịch, chèo trên sân khấu.
- Về thái độ: Bồi dưỡng cho học sinh: Tình yêu với nghệ thuật chèo Việt Nam nói chung và
nghệ thuật chèo Nam Định nói riêng. Niềm tự hào với truyền thống văn hóa, lịch sử của đất
nước, quê hương. Ý chí, nghị lực để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống hiếu
học của quê hương Nam Định.
B. Nội dung dạy học
- Vài nét về nghệ thuật chèo Nam Định: Quá trình hình thành, phát triển, các vở chèo tiêu
biểu, chân dung các nghệ sỹ tiêu biểu.
- Vở chèo Thần đồng đất Việt: Giới thiệu tác giả Trần Đình Ngôn, giới thiệu sơ lược về vở
chèo Thần đồng đất Việt: thể loại, hoàn cảnh sáng tác, bố cục, nội dung, giới thiệu về Trạng
nguyên Nguyễn Hiền.
- Trích đoạn Thần đồng đất Việt : Tìm hiểu ngôn ngữ kịch bản qua ngôn ngữ của nhân vật,
tìm hiểu sự chuyển hóa từ ngôn ngữ kịch bản sang ngôn ngữ sân khấu.
- Minh họa trích đoạn Thần đồng đất Việt do học sinh nhập vai biểu diễn.
C. Phương tiện, phương pháp dạy học
- Phương pháp dạy học: kết hợp linh hoạt các phương pháp: thuyết trình, vấn đáp, làm việc
nhóm, nêu vấn đề, nghiên cứu tài liệu.

Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ
Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay”
Nhà thơ đã nhắc đến địa danh: Thôn Đoài, làng Đặng trong thơ mình. Em nào có thể cho cô
biết: làng Đặng mà tác giả nhắc đến trong bốn câu thơ trên là ở đâu? Và vì sao, Nguyễn Bính
lại nhắc đến địa danh đó?
17
HS: Làng Đặng là làng Đặng Xá ( Mỹ Hà, Mỹ Lộc), là một trong những làng chèo nổi tiếng
của Nam Định chúng ta.
GV: Em nào có thể kể tên những nhà hát chèo, những đoàn chèo nổi tiếng của Việt Nam?
HS: trả lời ( có thể đúng hoặc sai )
GV: Chiếu slide 1 về các nhà hát chèo và các đoàn chèo Việt Nam.
Khẳng định vị trí của nhà hát chèo Nam Định, và nghệ thuật chèo Nam Định
Trong giờ trước, chúng ta đã được tìm hiểu về đoạn trích “ Xúy Vân giả dại”, hôm nay
cô trò chúng ta sẽ trở về với mảnh đất - quê hương Nam Định để tìm hiểu nét đẹp văn hóa
đặc sắc – nghệ thuật chèo Nam Định và trích đoạn Thần đồng đất Việt.
3.Bài mới
Hoạt động 1: Tìm hiểu vài nét về chèo Nam Định
GV: Gọi đại diện nhóm 2 trình bày. Nhóm 1 nhận xét, bổ sung
GV chốt lại, nhấn mạnh các ý
I. Sơ lược quá trình hình thành, phát triển
1. Những mốc sự kiện tiêu biểu
- 1959 Thành lập” Đội văn công nhân dân Nam Định”. Ông Nguyễn Kinh Luân-đội trưởng
- 1998: Sở văn hóa thông tin quyết định thành lập thành hình thức Chiếu chèo Nam
- 2006: Nâng cấp thành Nhà hát chèo Nam Định
2. Các làng chèo nổi tiếng :
Làng chèo ở huyện Mỹ Lộc. Làng chèo ở huyện Giao Thủy. Làng chèo ở huyện Ý Yên.
Làng chèo ở huyện Hải Hậu
3. Các vở chèo tiêu biểu
- Chèo cổ: Lưu Bình – Dương Lễ, Quan Âm thị kính, Tấm Cám, Tống Trân – Cúc Hoa
- Các vở chèo lịch sử: Trần Anh Tông, Trạng Lường Lương Thế Vinh, Thần đồng đất Việt

- Nhỏ tuổi, vua chưa ban chức quan
- Sau khi giải được câu đố của sứ giả Bắc triều được phong làm quan Thượng thư
Hoạt động 3: Tìm hiểu về trích đoạn chèo “ Thần đồng đất Việt”
Gv chiếu cho học sinh xem trích đoạn ngắn về đoạn trích sẽ tìm hiểu và yêu cầu học sinh xác
định vị trí và nội dung đoạn trích.
GV hướng dẫn học sinh tìm hiểu về ngôn ngữ của kịch bản văn học và sự chuyển hóa giữa
ngôn ngữ kịch bản thành ngôn ngữ sân khấu
I. Vị trí, nội dung
- Vị trí: Cuối cảnh 1
- Nội dung: Trạng nguyên giải đố Sứ giả Bắc Triều.
Trích dẫn văn bản:
Nguyễn Hiền tới cùng trang phục của một đưa trẻ chăn trâu, nhưng đĩnh đạc
Nguyễn Hiền: Đứa trẻ chăn trâu ở phủ Thiên Trường. Xin kính chào sứ giả Bắc Quốc!
Sứ giả: Ô! chú bé mục đồng áo manh chân đất. Lại dám xin vào giảng đố của ta sao?
19
Nguyễn Hiền: Xin thưa: Ông Nịnh Thích đã từng lách cách gõ sừng trâu. Ông Sào Phủ đã
từng ê a gọi nghe. Bể học không chia lớn bé. Chữ thánh hiền không kể Bắc Nam. Chửa cần
đến các quan. Đứa trẻ chăn trâu này cũng có thể giảng ngay câu đố.
Sứ giả: Nghe qua khẩu khí. Như thể thần đồng. Vậy chú bé chăn trâu ở lộ Thiên Trường.
Hãy nghe lại, rồi giảng xem có được.
Ngâm nga: Lưỡng nhật bình đầu nhật. Tứ san điên đảo san. Lưỡng vương tranh nhất
quốc. Tứ khẩu tung hoành gian.
Nguyễn Hiền: Xin thưa: Nhà Tống đã bị dồn ép xuống phía Nam. Bắc Kim đã mất về tay
Mông Thát. Vận Nam Tống ngàn cân treo sợi tóc. Nhưng nhà Nguyên còn muốn thu phục
cả Đại Việt chúng tôi. Cho nên, muốn vua Trần lập sổ kê khai. Số nhân khẩu cùng là ruộng
đất. Để nay mai cống người nộp thóc. Mới hay câu đố của ngài ngụ ý sâu xa.
Sứ giả: Ô! Một chú bé chăn trâu ở tận làng quê. Sao hiểu được thế cờ Bắc quốc?
Nguyễn Hiền: Có thể những chuyện ở làng quê vẫn biết. Mà giữa triều đình quan lớn lại
không hay. Muốn am tường kim cổ, Đông Tây. Thì tin nhạn phải có đường có nẻo.
Sứ giả: Ứng đối thật là trôi chảy. Nhưng câu đố bằng thơ nào đã giảng được đâu.

Trần Thủ Độ: Ấy kìa, quan chánh sứ!.
II. Tìm hiểu đoạn trích
1. Ngôn ngữ kịch bản
* GV yêu cầu HS xác định các nhân vật trong kịch bản và xác định hình thức ngôn ngữ chủ
yếu trong trích đoạn. HS suy nghĩ, trả lời
- Ngôn ngữ kịch bản thể hiện qua ngôn ngữ của các nhân vật: Trạng nguyên Nguyễn Hiền và
Sứ giả Bắc Triều
- Ngôn ngữ trong đoạn trích được thể hiện chủ yếu qua hình thức: hát và hát nói
- Trạng nguyên Nguyễn Hiền đối đáp lại sứ giả 8 lượt
* GV chia lớp thành 8 nhóm như cũ, tổ chức cho HS thảo luận theo các câu hỏi sau:
Câu 1: Dựa vào bài HĐGT bằng ngôn ngữ, xác định xem Trạng nguyên Nguyễn Hiền có bao
nhiêu lượt đối đáp với Sứ giả Bắc Triều
Câu 2: Chọn một lượt đối đáp bất kì của Trạng nguyên Nguyễn Hiền phân tích để làm rõ đặc
trưng của ngôn ngữ chèo
Thời gian: 3 phút. HS làm việc theo nhóm, trả lời
Lời giải đố của Trạng nguyên Nguyễn Hiền
Trước nói về ý ngụ trong câu.
Sau mới chỉ rõ ràng mặt chữ:
Bốn chữ san chụm đầu vào giữa.
Hai chữ nhật ghép lại kề nhau.
Hai chữ vương ngang dọc khác đâu.
Bốn chữ khẩu chia thành bốn góc.
Bốn câu thơ ý chừng hiểm hóc.
Chẳng qua là một chữ Điền thôi.
- Thể văn biền ngẫu: 8 câu mỗi câu 7 chữ, cân đối nhịp nhàng: Trước – sau, Bốn – một,
- Các câu đều có vần, có nhịp: Nhịp thay đổi giữa hai câu đầu so với các câu sau; vần gieo
cũng linh hoạt
- Dùng các từ nôm na, dễ hiểu, gần với lời ăn tiếng nói của nhân dân
- Âm điệu nhanh, dứt khoát, đường hoàng
21

HS theo dõi, phát hiện, trả lời
* Các lời nói của nhân vật
- Ngôn ngữ kịch bản: đơn thuẩn là các ngôn từ
- Khi chuyển sang ngôn ngữ sân khấu:
+ Có sự kết hợp của nhiều yếu tố: ngôn từ, vẻ mặt, động tác cử chỉ, hóa trang của diễn viên
+ Có thể chuyển từ lời nói trong kịch bản thành lời hát trên sân khấu -> khi đó cần có sự
tham gia của âm nhạc, và phụ thuộc vào tài năng của đạo diễn, diễn viên.
* Các lời hát nói
- Ngôn ngữ kịch bản: đơn thuần là các ngôn từ, được chỉ rõ hình thức thể hiện trong kịch bản
như: ngâm, nói điệu sử rầu, nói lệch
- Ngôn ngữ sân khấu:
Thế mới biết trời sinh ra cỏ này a
Cỏ thời nuôi trâu, trâu lại kéo cày í a
Cho lúa tốt nặng bông, thơm bát cơm đầy i í ì i
22
Cho lúa lại trổ bông i í ì i
+ Thêm các âm điệu
+ Thêm âm nhạc, động tác, cử chỉ, vẻ mặt, hóa trang
=> Lời hát nói: không chỉ thể hiện được tính cách, tâm trạng của nhân vật mà còn thể hiện
được tài năng của người diễn viên, đạo diễn. Nghệ thuật chèo là nghệ thuật độc đáo, hấp dẫn
Hoạt động 4 : Củng cố, nâng cao bài học
GV yêu cầu HS viết ra những đánh giá của các nhân về nghệ thuật chèo Việt Nam nói chung
và nghệ thuật chèo Nam Định nói riêng. Đặt trong bối cảnh hiện nay, khi nghệ thuật chèo
đang ngày càng mai một đi, thì thái độ, và nhiệm vụ của cá nhân sau bài học này?
- Vai trò, vị trí của nghệ thuật chèo trong tiến trình phát triển văn học
- Thực trạng của nền nghệ thuật chèo đang ngày một bị mai một, xa rời quần chúng
- Cần giữ gìn và phát huy nét đẹp văn hóa, nghệ thuật của Việt Nam nói chung và Nam Định
nói riêng
Hoạt động 5: Minh họa lại trích đoạn chèo vừa học qua sự diễn xuất của các học sinh
trong lớp. ( Xem trong video kèm theo )

2.Bài mới
Hoạt động 1. Giới thiệu khái quát về thời kỳ văn học trung đại Nam Định
Giáo viên gọi đại diện một nhóm lên trình bày, các nhóm còn lại nhận xét, bổ sung
Giáo viên chốt lại những kiến thức cơ bản.
Quá trình phát triển: Thời kì văn học trung đại Nam Định kéo dài từ thế kỷ XI đến thế kỷ
XIX, được chia thành các giai đoạn sau:
- Từ TK XI đến hết TK XII là giai đoạn văn học dưới thời Lý đã bắt đầu phát triển
- Từ thế kỷ XIII – XIV là giai đoạn văn học dưới triều Trần.
Ở giai đoạn này, nền văn học viết Nam Định có bước phát triển mạnh mẽ với nhiều tác
giả lớn để lại nhiều tác phẩm có giá trị lâu dài.
Năm 1239, nhà Trần xây dựng cung điện, nhà cửa ở hương Tức Mặc mở ra một thời
kỳ mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, về văn học nói riêng ở chính vùng đất
quê hương.
Đến năm 1262, Thiên Trường trở thành nơi làm việc, nghỉ ngơi và sáng tác thơ ca.
Chùa chiền vừa là chỗ tu hành, vừa là nơi các nhà sư ngâm vịnh và sáng tác.
Từ giữa thế kỷ XIII trở đi, cùng với việc phát triển nền văn học Thăng Long, các vua
quan nhà Trần đã tạo dựng nền văn học Thiên Trường (Nam Định ngày nay), với nhiều nhà
thơ nổi tiếng và những tác phẩm thơ ca bất hủ.
- Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII văn học Nam Định không còn phát triển mạnh như ở thời
Trần. Vẫn còn nhiều người thi đỗ tiến sĩ và cả trạng nguyên, nhưng không khí sáng tác thơ
văn thì không còn sôi nổi như ở giai đoạn trước, chỉ có khoảng 20 tác giả mà nổi bật là
Lương Thế Vinh, Phạm Đạo Phú, Đặng Phi Hiển, Tống Hân, Trần Kỳ, Vũ Vĩnh Trinh,
Nguyễn Địch, Phạm Ngộ Hiên, Vũ Huy Trác Lương Thế Vinh (1441- 1496) là người đầu
tiên ở Việt Nam biên soạn sách "Đại thành toán pháp", đã thất truyền. Ông nghiên cứu về
Phật học và nghệ thuật. "Hí phường phả lục" là cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu
về sân khấu. Ông được vua Lê Thánh Tông cử giữ chức Tao Đàn sái phu (chuyên về đánh
giá, phê bình, biên tập thơ ca trong hội Tao Đàn).
- Thế kỷ XIX, là thời kỳ nở rộ của văn học Nam Định. Trên 40 tác giả với hàng nghìn tác
phẩm xuất hiện đã khiến cho Nam Định trở thành một trong những trung tâm lớn của văn
chương nước nhà.

Thiền sư Không Lộ là người khai sơn Chùa Keo, tức Chùa Nghiêm Quang, sau đổi tên là
Chùa Thần Quang ở Huyện Vũ Thư, Tỉnh Thái Bình. Chùa nguyên ở hữu ngạn Sông Hồng,
vì bị lụt, hư hại, nên đầu thế kỷ 17 đã dời sang tả ngạn sông Hồng và tồn tại đến ngày nay.
Sự nghiệp sáng tác: nổi tiếng nhất là 2 bài: Ngôn Hoài và Ngư Nhàn.
25

Trích đoạn xuất, khuyến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status