TÊN SÁNG KIẾN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ DẠY
TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3
1. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
Để cung cấp kiến thức hiểu biết cơ bản ban đầu về các sự vật, sự kiện hiện
tượng trong tự nhiên, xã hội với mối quan hệ trong đời sống thực tế của con
người thì môn tự nhiên xã hội có vai trò quan trọng. Nhưng trong thực tế thì còn
khá nhiều học sinh sau khi học xong nội dung bài thì đã quên mất kiến thức hay
chỉ nhớ mơ hồ. Không hình thành được kĩ năng kiến thức cơ bản để các em vận
dụng vào cuộc sống hàng ngày của các em, vì các em không nhớ những khái
niệm ban đầu, những đặc điểm, những ích lợi cơ bản để các em áp dụng vào
cuộc sống hàng ngày và học tập các môn học khác có liên quan. Chính vì thế tôi
xin trình bày ý kiến của mình một số giải pháp nâng cao hiệu quả giờ dạy Tự
nhiên và xã hội lớp 3.
2. Phạm vi triển khai thực hiện:
Trong quá trình nghiên cứu Sáng kiến này được triển khai chỉ đạo thực
hiện giảng dạy ở toàn khối 3 Trường Tiểu học Chà Là môn Tự nhiên và xã hội
lớp 3.
3. Mô tả sáng kiến:
3.1. Thực trạng.
Qua 3 năm được Nhà trường phân công phụ trách chỉ đạo công tác chuyên
khối 3, tôi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn trong giảng dạy môn tự
nhiên và xã hội như sau:
3.1.1. Thuận lợi.
Được sự quan tâm chỉ đạo của sâu sát của lãnh đạo Phòng Giáo dục và
Ban giám hiệu nhà trường.
Cán bộ giáo viên của trường nhiệt tình giảng dạy, học hỏi đổi mới phương
pháp giảng dạy.
Nhà trường có khá đầy đủ về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy
học.
3.1.2. Khó khăn
cho các hoạt động bài dạy thực hiện như thế làm cho giáo viên trình bày bảng
không hay, đặt biệt là học sinh rất khó nhớ nội dung kiến thức của bải. Sau đây
là cấu trúc của bài dạy của giáo viên thường hay sử dụng từ trước đến nay.
Ví dụ 1: Bài 4: Phòng bệnh đường hô hấp
Hoạt động 1: Động não
Kết luận: Tất cả các bộ phận của hô hấp đều có thể bị bệnh. Những bệnh
hô hấp thường gặp là bệnh viêm mũi, viêm họng, viêm phế quản và viêm phổi.
Hoạt động 2: Làm việc với sách giáo khoa
Kết luận:
Nguyên nhân chính: do nhiễm lạnh, nhiễm trùng hay biến chứng của các
bệnh truyền nhiễm (cúm, sởi )
Cách đề phòng: giữ ấm cơ thể, giữ vệ sinh mũi, họng; giữ nơi ở đủ ấm,
thoáng khí tránh gió lùa; ăn uống đủ chất, luyện thể dục thường xuyên.
Hoạt động 3: Chơi trò chơi bác sĩ.
Ví dụ 2: Bài 44: Rễ cây (tiếp theo)
Hoạt động 1: Làm việc theo nhóm.
Kết luận: Rễ cây đâm sâu xuống đất để hút nước và muối khoáng đồng
thời còn bám chặt vào đất giúp cho cây không bị đổ.
Hoạt động 2: Làm việc theo cặp.
Kết luận: Một số cây có rễ làm thức ăn, làm thuốc, làm đường
Qua cấu trúc bài dạy như hai ví dụ trên theo hướng lấy phương pháp đặt
tên cho hoạt động bài dạy, nếu giáo viên trình bày bảng như thế thì học sinh và
người ngoài nhìn vào rất khó hiểu về nội dung của bài dạy. Như thế khi ta đặt
câu hỏi để hỏi học sinh về mục tiêu của bài thì phần lớn là số học sinh khá giỏi
mới trả lời được, số học sinh trung bình và yếu không nhớ bài và không trả lời
được. Vì tên của các hoạt động nó không ứng với các mục tiêu bài của bài, nội
dung của bài làm cho học sinh khó nhớ bài do không có tên nội dung chính của
đề mục đó.
Ví dụ như dạy hoạt động 2 của bài 44: Rễ cây (tiếp theo)
Hoạt động 2: Làm việc theo cặp.
hô hấp thường gặp là bệnh viêm mũi, viêm họng, viêm phế quản và viêm phổi.
Hoạt động 2: Nguyên nhân và cách phòng bệnh về đường hô hấp
Kết luận:
Nguyên nhân chính: do nhiễm lạnh, nhiễm trùng hay biến chứng của các
bệnh truyền nhiễm (cúm, sởi )
Cách đề phòng: giữ ấm cơ thể, giữ vệ sinh mũi, họng; giữ nơi ở đủ ấm,
thoáng khí tránh gió lùa; ăn uống đủ chất, luyện thể dục thường xuyên.
Hoạt động 3: Chơi trò chơi bác sĩ.
Ví dụ 1: Bài 44: Rễ cây (tiếp theo)
Hoạt động 1: Chức năng của rễ cây
Kết luận: Rễ cây đâm sâu xuống đất để hút nước và muối khoáng đồng
thời còn bám chặt vào đất giúp cho cây không bị đổ.
Hoạt động 2: Lợi ích của rễ cây
Kết luận: Một số cây có rễ làm thức ăn, làm thuốc, làm đường
Như vậy khi dạy giáo viên dựa vào cấu trúc bài dạy để hệ thống kiến thức
một cách rất nhẹ nhàng và học sinh sẽ biết được mục tiêu của bài học hình thành
kĩ năng áp dụng vào cuộc sống. Ví dụ khi dạy bài 4: Phòng bệnh đường hô hấp,
giáo viên dạy các hoạt động của bài và hỏi học sinh các câu hỏi để kết luận các
hoạt động. Hoạt động: Em hãy kể tên một số bệnh về đường hô hấp? Hoạt động
2: Nêu nguyên nhân chính gây bệnh về đường hô hấp? Nêu cách phòng bệnh về
đường hô hấp? Dựa vào các hoạt động vừa học, học sinh trả lời rất dễ dàng từ
đó giáo viên liên hệ thực tế để giáo dục cho các em áp dụng vào cuộc sống hàng
ngày của các em.
4. Kết quả hiệu quả mang lại
Qua việc áp dụng dạy theo cấu trúc lấy mục tiêu của các hoạt động để đặt
tên cho các hoạt động bài dạy Tự nhiện xã hội lớp 3 ở trường Tiểu học Chà Là
từ đầu năm học 2011 - 2012 đến nay đã đem lại kết quả rất khả quan.
Giáo viên giảng dạy nhẹ nhàng hơn trong việc hình thành kiến thức, kĩ
năng cơ bản, học sinh dễ hiểu bài hơn, chất lượng được nâng cao hơn, đặc biệt là
sau khi học xong bài học là đại đa số học sinh hiểu bài, áp dụng kiến thức đã học
sinh.
Giáo viên: Giảng dạy bài cảm thấy rất nhẹ nhàng trong việc hình thành
kiến thức kĩ năng cho học sinh, tạo nên sự hương phấn trong giảng dạy. Nâng
cao chất lượng giảng dạy về môn Tự nhiên xã hội và rèn kĩ năng sống cho học
sinh.
Học sinh: Giúp học sinh tự tin trong học tập và tích cực tham gia học tập,
học sinh đã có vốn kiến thức ban đầu theo chuẩn kiến thức kĩ năng cơ bản về
lĩnh vực tự nhiên và xã hội để các em áp dụng thực hành trong cuộc sống hàng
ngày của các em.
6. Kiến nghị, đề xuất:
Tổ chức những cuộc hội thảo chuyên đề cấp huyện về các lĩnh vực, nhất
là lĩnh vực chuyên môn về đổi mới phương pháp giảng dạy để giáo viên rút kinh
nghiệm trong công tác giảng dạy.
Trên đây là sáng kiến về một số giải pháp nâng cao hiệu quả giờ dạy Tự
nhiên và xã hội ở lớp 3 dựa vào mục tiêu hoạt động để đặt tên cho các hoạt động
của bài mà tôi đã rút kinh nghiệm trong quá trình chỉ đạo thực hiện ở trường
Tiểu học Chà Là rất mong được sự đóng góp của các cấp lãnh đạo và đồng
nghiệp để tôi áp dụng chỉ đạo thực hiện ở trường mình được tốt hơn.
Xin thành thật biết ơn!
Ý kiến xác nhận
của Thủ trưởng đơn vị
Chà Là, ngày 06 tháng 03 năm 2013
Người viết
Ngô Văn Huy