SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LÀM BÀI VĂN NGHỊ
LUẬN VỀ HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG"
1
PHẦN I - MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống đề cập và có liên quan tới nhiều phương
diện của đời sống ( bao gồm đời sống tự nhiên và xã hội). Thông thường, những hiện
tượng mà đề bài đề cập tới thường là những hiện tượng nổi bật, tạo được sự chú ý và có
tác động tới đời sống xã hội.
Tính chất đa dạng, phong phú của hiện tượng đời sống cũng được thể hiện trong nội dung
đề bài. Không chỉ đề cập tới những hiện tượng tốt đẹp, tích cực trong đời sống, kiểu bài
nghị luận này còn lưu ý học sinh những hiện tượng mang tính chất tiêu cực, đang bị xã
hội lên án, phê phán.
Cũng giống như yêu cầu đối với dạng đề nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, học sinh cần
làm rõ hiện tượng đời sống ( qua việc miêu tả, phân tích nguyên nhân, các khía cạnh của
hiện tượng…), từ đó thể hiện thái độ, sự đánh giá của bản thân cũng như đề xuất các ý
kiến, giải pháp trước hiện tượng đời sống. Để miêu tả hiện tượng, học sinh có thể giải
thích sơ lược hiện tượng nếu cần thiết, từ đó trình bày các biểu hiện của hiện tượng.
Khi phân tích nguyên nhân, có thể phân tích theo hai nhóm nguyên nhân – chủ quan và
khách quan để bài viết có hệ thống và chặt chẽ.
Học sinh cần xác định cách viết linh hoạt trước đề bài về một hiện tượng đời sống, tránh
cách làm bài máy móc, chung chung. Ví dụ: cùng liên quan đến một hiện tượng đời sống
như “Internet” đối với thanh niên - học sinh hiện nay, tùy theo yêu cầu cụ thể của đề bài
mà xác định “liều lượng” của các ý. Chẳng hạn đề bài yêu cầu trình bày suy nghĩ về vai
trò của Internet, cần nhấn mạnh tác dụng, vai trò quan trọng của Internet. Trong khi đó,
lại phải chú ý nhiều hơn đến mặt hạn chế, tác động tiêu cực của nó đối với đề bài có yêu
cầu trình bày trước hiện tượng “nghiện” Internet trong thanh niên – học sinh hiện nay…
Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy rằng học sinh chưa chú ý đến dạng đề bài này
đồng thời các em chưa biết cách nhận dạng yêu cầu của đề bài, cũng như chưa biết cách
- Làm tài liệu tham khảo cho học sinh lớp 9, lớp 11 và lớp 12.
PHẦN II - NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN NHẬN DIỆN
ĐỀ VÀ CÁCH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG.
I. Cơ sở của việc chọn sáng kiến.
1. Cơ sở lí luận.
3
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong nghị quyết Trung
ương 4 khóa VII (1-1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996), được thể chế
hóa trong Luật Giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các Chỉ thị của Bộ Giáo dục và
Đào tạo đặc biệt Chỉ thị số 14 (4-1999).
Luật Giáo dục, điều 28.2 đã ghi ‘‘ phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp
học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.’’
Yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học nên GV cần vận dụng các phương pháp
soạn giảng cho phù hợp để tăng khả năng thực hành, vận dụng lý thuyết khi làm bài cho
HS, từ đó có thể phát huy tính tự giác tích cực của học sinh.
Qua thực tiễn giảng dạy tôi thấy rằng việc hướng dẫn các em nhận diện đề và cách làm
bài văn về một hiện tượng đời sống ngay từ cấp Trung học cơ sở
(THCS) sẽ tạo tiền đề để khắc sâu kiến thức, làm bước đệm vững chắc cho các em ở cấp
Trung học phổ thông (THPT).
2. Cơ sở thực tiễn.
Trong thực tế, văn nghị luận nói chung và nghị luận về một hiện tượng đời sống nói riêng
được đưa vào chương trình phổ thông ở cả hai cấp học
(THCS và THPT) với vị trí trọng yếu trong thể loại văn bản, được lựa chọn đưa vào tìm
hiểu và rèn luyện kỹ năng thành lập.
Nhưng nhìn chung, chương trình THCS chỉ mang tính giới thiệu và thực hành ở mức độ
sơ giản, chưa tập trung vào việc khắc sâu tri thức và rèn luyện kỹ năng làm bài dạng nghị
luận này. Đến cấp THPT, chương trình lớp 11 có tập trung vào nghị luận về một hiện
Ba na 2,0
Ê đê 23,2
Gia Lai 2,0
Kinh 39,2
Khơ me 4,0
Lào 2,0
M Nông 17,7
H’ Mông 2,0
5
Mường 2,0
Nùng 2,0
Tày 3,9
Tổng số 100,0
Về độ tuổi sau khi khảo sát thống kê:
(Bảng phân bố phần trăm độ tuổi học sinh được nghiên cứu)
(%)
Độ
tuổi
%
15 55,4
16 38,3
17 4,2
18 2,1
Tổng
số
100,0
Số học sinh có độ tuổi 15 chiếm tỉ lệ cao nhất (55,4%), độ tuổi 16 đứng thứ 2 (38,3%), độ
tuổi tương đối lớn đối với học sinh lớp 9 là 17chiếm tỉ lệ ( 4,2%). Ngoài ra, HS ở độ tuổi
18 chiếm tỉ lệ thấp (2,1%). Có sự khác biệt độ tuổi của học sinh do đặc điểm có nhiều em
đi học muộn, chủ yếu các em là dân tộc thiểu số. Đặc điểm về độ tuổi cũng ảnh hưởng tới
III. Hệ thống lí thuyết làm văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
1. Khái niệm.
7
Nghị luận về một hiện tượng đời sống là kiểu bài lấy một hiện tượng xảy ra trong đời
sống để bàn bạc. Từ hiện tượng này, người nghị luận phải phân tích để tìm ra ý nghĩa xã
hội về tư tưởng, đạo đức mà bàn bạc, đánh giá. Đề tài bàn bạc gần gũi với đời sống, phù
hợp với trình độ nhận thức của HS như : nhận thức về vấn đề tai nạn giao thông, hiện
tượng môi trường bị ô nhiễm, những tiêu cực trong thi cử, nạn bạo hành trong gia đình,
phong trào thanh niên tiếp sức mùa thi, cuộc vận động giúp đỡ đồng bào hoạn nạn, những
tấm gương người tốt việc tốt,
2. Các thao tác lập luận cơ bản.
Các thao tác lập luận cơ bản thường được sử dụng trong kiểu bài này là giải thích, phân
tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận.
3. Nội dung cơ bản.
- Nêu rõ hiện tượng bàn luận và vấn đề đặt ra trong hiện tượng đời sống bàn luận .
- Phân tích mặt đúng, mặt sai, mặt tích cực, mặt tiêu cực, mặt lợi, mặt hại …của hiện
tượng đời sống .
- Chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xã hội đó.
CHƯƠNG 2. HƯỚNG DẪN NHẬN DIỆN ĐỀ VÀ CÁCH LÀM BÀI VĂN
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG
1. Nhận diện đề.
Trước bất cứ đề nghị luận nào, giáo viên đều phải hướng dẫn học sinh đọc kỹ, gạch chân
những từ quan trọng và tự đặt ra câu hỏi.
- Vấn đề đặt ra trong đề bài là gì?
- Cần sử dụng thao tác nào để nghị luận ?
Đối với đề bài dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống có ba dạng :
- Dạng 1 : Dạng đề bài bàn về một hiện tượng đời sống có tính chất tiêu cực.
- Dạng 2 : Dạng đề bài bàn về một hiện tượng đời sống có tính chất tích cực.
8
- Dạng 3 : Dạng đề bài bàn về một hiện tượng đời sống có cả tính chất tích cực và tiêu
và chủ quan ).
+ Hậu : là Hậu quả của hiện tượng đời sống mang lại, gồm có hậu quả tốt và hậu quả
xấu.
+ Biện : là Biện pháp tác động vào hiện tượng đời sống để ngăn chặn (nếu gây ra hậu
quả xấu) hoặc phát triển (nếu hậu quả tốt).
Kết bài : Tóm – Rút – Phấn
+ Tóm : Tóm tắt, khái quát lại vấn đề đã nghị luận.
+ Rút : Rút ra ý nghĩa, bài học từ hiện tượng đời sống đã nghị luận.
+ Phấn : Phấn đấu, bày tỏ thái độ của bản thân về hiện tượng đời sống đã nghị luận.
3. Hướng dẫn cụ thể.
3.1 Gợi ý dạng đề bài bàn về một hiện tượng đời sống có tính chất tiêu cực.
Đề bài : Ý kiến của anh / chị về nạn bạo hành trong xã hội.
* Gợi ý :
- Miêu tả hiện tượng :
+ Nạn bạo hành – sự hành hạ, xúc phạm người khác một cách thô bạo, làm ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần của người khác.
+ Nạn bạo hành thể hiện ở nhiều góc độ, nhiều phương diện của đời sống xã hội :
Không chỉ là sự hành hạ thể xác người khác bằng bạo lực mà còn hành hạ về tinh thần.
Nạn bạo hành diễn ra trong gia đình, trường học, xã hội ; phụ nữ, trẻ em thường là nạn
nhân của nạn bạo hành.
- Nguyên nhân của hiện tượng :
+ Do bản tính hung hăng, thiếu kiềm chế của một số người.
+ Do ảnh hưởng của phim ảnh mang tính bạo lực ( nhất là tầng lớp thanh thiếu niên).
+ Do áp lực cuộc sống.
+ Do sự thiếu kiên quyết trong việc xử lí nạn bạo hành.
- Tác hại to lớn của hiện tượng.
+ Làm tổn hại tới sức khỏe, tinh thần của con người.
+ Làm ảnh hưởng tới tâm lí, sự phát triển nhân cách, đặc biệt là tuổi trẻ.
10
- Ý kiến, thái độ của bản thân.
trọng và phổ biến hiện nay. Nó thể hiện qua một số biểu hiện chính sau:
• Xin điểm, chạy điểm.
• Mua bằng cấp.
• Xin chạy cho con vào trường chuyên, lớp chọn.
• Thi hộ, thi thuê.
• Chạy chức, chạy quyền…
+ Bệnh thành tích trong giáo dục:
• Báo cáo không đúng thực tế.
• Bao che khuyết điểm để lấy thành tích.
• Coi trọng số lượng chứ không coi trọng chất lượng.
• HS: Học để lấy bằng cấp, phát biểu chỉ để được cộng điểm…
• Số Giáo sư, Tiến sĩ, các nhà khoa học nhiều nhưng ít có những cải tiến sáng tạo.
- Phân tích đúng, sai, lợi, hại.
+ Lợi: trước mắt cho cá nhân - không cần bỏ công sức nhiều nhưng vẫn đạt kết quả cao.
+ Hại: để lại hậu quả nghiêm trọng và lâu dài.
• Các thế hệ học sinh được đào tạo ra không có đủ trình độ để tiếp cận với công
nghệ hiện đại, đất nước ít nhân tài.
• Tạo thói quen cho học sinh ngại học, ngại thi, ngại sáng tạo.
• Tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội.
- Nguyên nhân của hiện tượng.
+ Do gia đình: Không muốn con vất vả mà vẫn đạt kết quả cao.
+ Do nhà trường: Muốn học sinh có thành tích cao để báo cáo.
+ Do xã hội: Hệ thống luật chưa nghiêm, chưa cụ thể, chưa thực sự coi trọng nhân tài,
nhận thức của nhiều người còn hạn chế…
- Cách khắc phục.
+ Phải giáo dục nhận thức cho học sinh và toàn thể xã hội để họ nhận thức được rằng chỉ
có kiến thức thực sự họ mới có chỗ đứng trong xã hội hiện đại.
12
+ Xã hội phải thực sự coi trọng những người có kiến thức, có thực tài và lấy đó làm tiêu
chuẩn chính để sử dụng họ.
đời sống giúp các em trong quá trình ôn tập, kiểm tra, nhận diện được yêu cần của đề bài
nhanh hơn, làm bài đạt kết quả cao hơn. Sau khi hướng dẫn học sinh cách nhận diện đề
và cách làm bài văn về một hiện tượng đời sống, kết quả về khả năng nhận diện đề của
học sinh như sau:
( Bảng phân bố phần trăm kết quả khảo sát của giáo viên về khả năng nhận diện đề đối
với học sinh)
( %)
Mức độ nhận diện %
Nhận diện và làm bài
nhanh
68,8
Nhận diện và làm bài
chậm
25,2
Không nhận diện được đề
và không biết cách làm bài
5,0
Tổng số 100,0
2. Khảo nghiệm tính khả thi.
Nếu trong tiết học, giáo viên có hướng dẫn tỉ mỉ học sinh cách nhận diện đề và cách làm
bài thì học sinh sẽ cảm thấy nắm vững cách nhận diện đề và cách làm bài ở mức độ:
( Bảng phân bố phần trăm ý kiến học sinh về mức độ nắm kiến thức và nhận diện đề)-
( %)
Ý kiến %
Nhiều 74,0
Trung bình 15.0
Ít ( lơ mơ) 11,0
Không 0,0
Tổng số 100,0
14
Điểm
trung
bình
Điểm
yếu,
kém
14,7 40,0 43,4 2,9
Qua đối chiếu với các số liệu trên đây thì có thể khẳng định việc hướng dẫn học sinh
nhận diện đề và cách làm bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống đã có hiệu quả
không chỉ đối với học sinh lớp 9. Ngoài ra còn có thể áp dụng cho lớp 11 và lớp 12 vì
trong cấu trúc đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông thì dạng đề nghị luận chiếm tới 3,0
điểm.
15
PHẦN III - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận.
Tóm lại, đối với học sinh nằm ở lứa tuổi 15 - 16 về tâm sinh lí chưa phát triển toàn diện,
khả năng suy luận chưa cao, vì vậy việc cung cấp các bài lí thuyết này không phải dễ
dàng. Do đó, đối với giáo viên đứng lớp phải sáng tạo trong cách dạy, phải bằng mọi
phương pháp hình thành trong nhận thức của các em, giúp cho các em sau khi học xong
phần văn nghị luận về một hiện tượng đời sống có sự hình dung dạng văn nghị luận này
khác với các dạng văn khác mà các em đã học.
Vì vậy, việc hướng dẫn các em nhận diện đề và cách làm bài văn nghị luận về một hiện
tượng đời sống hiệu quả cũng là một quá trình giáo dục về nhân cách cho các em, giúp
các em thấy yêu văn thơ hơn
Trên đây là kết quả tìm tòi nghiên cứu và khảo nghiệm về một vấn đề mang tính
cấp thiết, tìm hướng đi hiệu quả cho việc hướng dẫn các em có thể làm bài văn nghị luận
về một hiện tượng đời sống có hiệu quả tốt nhất. Đặc biệt, đây là một phần hết sức quan
trọng trong rèn luyện kỹ năng thành lập văn bản, đặc biệt đây là một phần không thể
thiếu trong bài thi tốt nghiệp THPT sau này của học sinh.
Chính vì thế, ngay từ cấp THCS việc hướng dẫn các em nhận diện đề và cách làm bài văn
17