skkn giúp học sinh rèn luyện kĩ năng xác định vấn đề nghị luận và luận điểm, luận cứ trong bài văn “nghị luận về hiện tượng đời sống” theo hướng mở thpt xuan thọ - Pdf 25

Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng xác định vấn đề nghị luận và luận điểm,
luận cứ trong bài văn “nghị luận về hiện tượng đời sống” theo hướng mở
TÊN ĐỀ TÀI:
GIÚP HỌC SINH RÈN LUYỆN KĨ NĂNG XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHỊ
LUẬN VÀ LUẬN ĐIỂM, LUẬN CỨ TRONG BÀI VĂN “NGHỊ LUẬN VỀ
HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG” THEO HƯỚNG MỞ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Đặt vấn đề
Văn nghị luận là một thể loại có truyền thống từ lâu đời, có giá trị và tác dụng
hết sức to lớn trong trường kì lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Có
thể kể từ “Chiếu dời đô”(1010) của Lí Công Uẩn, “Hịch tướng sĩ” (1285) của
Trần Quốc Tuấn, “Đại cáo bình Ngô” (1427) của Nguyễn Trãi, “Chiếu Cần
vương” (1885) của vua Hàm Nghi…
Từ thế kỉ XX, văn nghị luận ngày càng phát triển mạnh mẽ với hàng loạt
tên tuổi nổi tiếng mà tiêu biểu nhất là Hồ Chí Minh với bản “Tuyên ngôn độc
lập” (1945).
Văn nghị luận phản ánh rõ nét đời sống tinh thần, tư tưởng, ý chí và khát
vọng của cả dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, gắn liền với
từng chặng đường lịch sử của dân tộc; phản ánh nhận thức thẩm mĩ và quan
niệm của con người về văn chương nghệ thuật.
Văn nghị luận phong phú và đa dạng về thể loại tuy nhiên nhìn từ đề tài ta
có thể chia văn nghị luận thành hai loại lớn: nghị luận xã hội và nghị luận văn
học.
Trên thực tế, việc đưa văn nghị luận vào giảng dạy trong chương trình
môn Ngữ văn thể hiện sự cần thiết trong quá trình đào tạo học sinh- con người-
khả năng để đáp ứng đời sống. Tất nhiên, không phải để học sinh biết viết những
áng văn thật hay, thật tuyệt như kinh điển mà vấn đề là ở chỗ “chuẩn bị hành
trang vào đời”. Và như thế, ứng với hai loại văn nghị luận trên là hai kiểu bài
văn nghị luận học sinh được học và rèn luyện: nghị luận xã hội và nghị luận văn
học.
Trong nhà trường, về lí thuyết, học sinh được học chính thức cách làm bài

giản: chất lượng bộ môn có tính chất công cụ này là chính là thước đo mặt bằng
kết quả giáo dục, là cơ sở để đánh giá nhìn nhận lại cả quá trình dạy học- hiệu
quả giáo dục! Vấn đề này đã nhiều lần được đưa ra trao đổi-thảo luận trên
báo ngành (báo GD&TĐ).
Trước đây, có những bài viết của tác giả Trần Đình Sử, Đỗ Ngọc Thống
đề cập về vấn đề dạy Làm văn trong sách giáo khoa chỉnh lí năm 2000, trong Tài
liệu Hướng dẫn chương trình sách giáo khoa 12 môn Ngữ văn theo chương
trình đổi mới năm 2008: “Học sinh phải biết lập dàn ý của bài, tìm luận điểm,
luận cứ trong bài”
“Không có học sinh nào không hàng ngày tiếp xúc với các con người, sự
việc điều quan trọng là học sinh có suy nghĩ và tinh thần, thái độ như thế
nào?”
Tuy nhiên, làm thế nào để học sinh học tập thực sự có chất lượng lại phụ
thuộc vào nhiều yếu tố. Vai trò của giáo viên là phải nắm bắt tất cả điều đó và
trở thành “ một đạo diễn” cho các hoạt động dạy –học để hướng dẫn học sinh
tiếp cận kiến thức và thực hành.Trong quá trình giảng dạy, chúng tôi cố gắng
nghiên cứu soạn giảng sao cho phù hợp, có hiệu quả thiết thực. Chuyên đề thể
hiện một phần của quá trình đó với kiểu đề bài xây dựng theo hướng mở.
2. Cơ sở thực tế
Người thực hiện: Trịnh Văn Huy-trường THPT Tôn Đức Thắng 2
Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng xác định vấn đề nghị luận và luận điểm,
luận cứ trong bài văn “nghị luận về hiện tượng đời sống” theo hướng mở
Nét đặc thù của trường THPT Tôn Đức Thắng là tuyển sinh đầu vào lớp 10
quá thấp, thậm chí không đủ đầu vào. Khả năng học tập của các bộ môn văn
hóa mà đặc biệt là môn Ngữ văn thường rất yếu, các em thường thụ động trong
giờ học, không tự mình tìm hiểu, khám phá mà chỉ tiếp thu một chiều kiến thức
giáo viên giảng và ghi.
Do kĩ năng làm văn của các em còn nhiều hạn chế nên khi viết bài văn về
một hiện tượng đời sống, một tư tưởng đạo lí các em thường lúng túng, diễn đạt
chung chung, sơ sài chưa thể hiện được những suy nghĩ, tình cảm, thái độ của

quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng như lí tưởng, lòng yêu nước, yêu con
người, mối quan hệ với người thân, tình yêu, tình bạn; đối với bản thân là sự tu
dưỡng, rèn luyện,…
1.3.2 Nghị luận về một hiện tượng đời sống
Là kiểu bài văn nghị luận bàn về những hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực
trong đời sống xã hội, các hiện tượng tự nhiên, các vấn đề xã hội.
1.4 Các dạng đề văn nghị luận xã hội
1.4.1 Đề văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí
Thường thể hiện dưới bốn hình thức để người viết bàn luận và thể hiện tư
tưởng, quan điểm, thái độ của mình:
- Nêu trực tiếp vấn đề .
- Trích dẫn một câu danh ngôn, một nhận định, một đánh giá,…
- Trích dẫn một câu (đoạn, bài) thơ.
- Một câu chuyện (một truyện ngắn)
1.4.2 Đề văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
Thường nêu lên một hiện tượng, một vấn đề có tính thời sự được dư luận
xã hội trong nước cũng như cộng đồng quốc tế đang quan tâm.
Tất nhiên hai mặt của một vấn đề luôn được xem xét để nói đến trong một
bài văn. Tuy nhiên ở đây chúng tôi nêu ra với tính chất là: Thấy cái xấu mà
tránh, cái sai mà không làm. Tức là “hãy làm cái này, đừng làm cái kia”. Vấn đề
thự tế rất rộng nhưng ta có thể định hướng về những hiện tượng gần gũi trong
đời sống như sau:
-Ở phạm trù tích cực, mặt tốt:
+ Phát ngôn (lời ăn tiếng nói): lời nói đúng nơi đúng chỗ, bảo vệ cái đúng,
cái tốt.
+ Hành động dũng cảm: cứu người, đấu tranh chống cái xấu cái ác, tiêu
cực
+ Hành động chia sẻ, quan tâm, yêu thương
…v….v…v
-Hiện tượng tiêu cực, mặt trái:

đề nghị luận, khẳng định, đánnh giá và khái quát vấn đề sau khi phân tích.
Trường hợp học sinh yếu phải tập luyện từ cách đọc-xác định yêu cầu đề-
lập ý và cách thức phân tích (thao tác cơ bản), sau đó mới tới các hoạt động đã
nói ở trên.
-Thường xuyên kiểm tra việc luyện tập ở nhà của học sinh thông qua các
bài viết đã được hướng dẫn. (Có thể là bài viết học sinh tự tìm kiếm thông tin và
luyện tập). Yêu cầu của các bài viết cần phù hợp với các đối tượng học sinh: từ
thấp đến cao, từ tái hiện đến suy nghĩ, sáng tạo.
-Hướng dẫn, lưu ý học sinh cách sử dụng sách tham khảo sao cho có hiệu
quả dựa trên uy tín tác giả, nhà xuất bản; học chọn lọc “cái cần”, “không phải
là sao chép”.
-Công tác kiểm tra, đánh giá: Ra đề đúng, chính xác và khoa học; không
khó, không bắt bí (dựa vào chuẩn kiến thức kĩ năng). Chấm bài đúng, công
bằng, khách quan.
-Luôn nhắc nhở học sinh kết hợp giữa lí thuyết và thực hành viết bài.
Không nên đóng khung bài học, bài làm khô khan qua phần “Ghi nhớ” của sách
giáo khoa. Tức là luôn linh hoạt trong cấu trúc bài viết, không phải là khuôn
mẫu.
Người thực hiện: Trịnh Văn Huy-trường THPT Tôn Đức Thắng 5
Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng xác định vấn đề nghị luận và luận điểm,
luận cứ trong bài văn “nghị luận về hiện tượng đời sống” theo hướng mở
2.2 Những biện pháp cụ thể
2.2.1 Xác định vấn đề nghị luận
Thực tế, còn gọi là xác định luận đề (vấn đề trọng tâm- chủ đề)
Đây là thao tác không thể bỏ qua khi học sinh tiếp nhận đề bài. Đọc đề kĩ
càng từng câu từng chữ chính là cách để xác định đúng luận đề của bài viết (vấn
đề nghị luận).
Thực tế cho thấy đối tượng học sinh càng yếu càng lướt qua điều này.
Điều giáo viên căn dặn học sinh là luôn chú ý từng câu, từng chữ trong đề bài để
tránh lạc đề, xa rời vấn đề. Đặc biệt, với dạng đề mở, nắm vững nguyên tắc này

Người thực hiện: Trịnh Văn Huy-trường THPT Tôn Đức Thắng 6
Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng xác định vấn đề nghị luận và luận điểm,
luận cứ trong bài văn “nghị luận về hiện tượng đời sống” theo hướng mở
Sau đó mới xác lập luận cứ (ý nhỏ) để cụ thể hoá luận điểm (ý lớn).
Xác định qua “công thức”: biểu hiện-nguyên nhân-ảnh hưởng, tác động-
khắc phục, bài học
3.Vận dụng vào thực tế
3.1 Xác định vấn đề nghị luận
Qúa trình giảng dạy chúng tôi sử dụng những đề thi của Sở SD-ĐT Đồng
Nai, đề tốt nghiệp, cao đẳng-đại học những năm trước có liên quan. Ở đây là
một số đề bài, bài tập tiêu biểu mà chúng tôi nghiên cứu, xây dựng.
Các thao tác thực hiện trên một mặt tuân thủ nguyên tắc làm bài, một mặt
triển khai theo ý tưởng sáng tạo, phát hiện hiện tượng từ trải nghiệm đời sống.
Điều này thể hiện rõ nhất trong đề bài số 5 với độ “mở” rõ nhất.
Thực hiện ví dụ với đề bài 1:
Hiện tượng ô nhiễm môi trường sống ở địa phương em.
Khi đọc, học sinh phải thấy rằng, hiện tượng ô nhiễm môi trường được
giới hạn ở địa phương mình sống (không quá đà ôm đồm tất cả). Phải xác định
như thế mới có hệ thống luận điểm (ý) phù hợp.
Độ “mở” của bài văn: Vấn đề ở địa phương học sinh sống, điều này đòi
hỏi sự quan sát, hiểu biết của chính học sinh- sự trải nghiệm.
Ví dụ với đề bài 2:
Hiện tượng giới trẻ phát ngôn bừa bãi trên các trang mạng xã hội.
Khi đọc đề bài trên, học sinh có thể chú ý tới hai cụm từ: Một là, “hiện
tượng giới trẻ phát ngôn bừa bãi”. Hai là: “trên các trang mạng xã hội”. Vế thứ
hai là giới hạn của luận đề mà khi viết bài cần quan tâm sau khi đã xác định rằng
giới trẻ phát ngôn bừa bãi (không phải là tất cả mọi người).
Độ “mở” của bài văn: Vấn đề xuất phát từ sự phát triển của công nghệ
thông tin- mạng in-tơ-nét. Hiện tượng này không xa lạ với giới trẻ nói chung,
học sinh nói riêng; độ mở nằm ở sự kiến giải về hiện tượng- vấn đề: giải thích,

Độ mở của đề bài: Đó là mặt trái, thiếu văn hoá, thẩm mĩ…điều học sinh
cần có sự kiến giải phù hợp từ góc nhìn của tuổi trẻ. Ví dụ như: Cái mới thì có
thể chấp nhận nhưng lố lăng, phản cảm thì không nên.
Ví dụ với đề bài 5:
Việc làm nhỏ, ý nghĩa lớn
Đây là đề khó, hoàn toàn mở, vấn đề ở chỗ học sinh hiểu rằng: việc làm
tuy (tưởng) như không đáng (không ý nghĩa- rất nhỏ), nhưng thực ra có ý nghĩa
lớn lao mà ta cần làm! Học sinh phải biết hệ thống hoá dẫn chứng để phân tích
và bàn luận xác đáng. Vấn đề này giúp học sinh thể hiện cá tính, sự sáng tạo cao
trong bài viết.
Như thế, với 05 ví dụ ở trên được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao, từ
dễ đến khó. Với quá trình tiếp cận, luyện tập, học sinh sẽ quen dần và các kĩ
năng cần thiết: đọc đề, xác định yêu cầu đề (vấn đề nghị luận- trọng tâm) sẽ
nâng cao dần trong quá trình rèn luyện. Với đối tượng khá-giỏi, những bài viết
như thế sẽ là điều kiện để các em phát huy năng lực của mình.
3.2 Xây dựng luận điểm, xác lập luận cứ
Thực hiện ví dụ với đề bài 1:
Hiện tượng ô nhiễm môi trường sống ở địa phương em.
Đây là hiện tượng xấu ảnh hưởng tới đời sống của nhân loại.
- Trước nhất, hiện tượng ô nhiễm này ở địa phương miền núi có thể biểu
hiện ở các khía cạnh lớn (các luận điểm) :
+Nước thải
+Rác thải sinh hoạt
Người thực hiện: Trịnh Văn Huy-trường THPT Tôn Đức Thắng 8
Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng xác định vấn đề nghị luận và luận điểm,
luận cứ trong bài văn “nghị luận về hiện tượng đời sống” theo hướng mở
+Rác thải trong sản xuất nông nghiệp
- Những hậu quả
- Hướng khắc phục
Đó là 5 ý lớn cho bài văn.

- Những phát ngôn bừa bãi trên các trang mạng xã hội như: facebok,
youtube, blog…đó là:
+ Những phát ngôn không chính xác, mơ hồ “chỉ nghe nói”
+ Những lời chửi mắng thiếu văn hoá
Người thực hiện: Trịnh Văn Huy-trường THPT Tôn Đức Thắng 9
Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng xác định vấn đề nghị luận và luận điểm,
luận cứ trong bài văn “nghị luận về hiện tượng đời sống” theo hướng mở
+ Đối tượng: những nhân vật trong làng giải trí, bạn bè, thậm chí thầy cô, cha
mẹ…
- Những ảnh hưởng, hậu quả từ phát ngôn: ảnh hưởng tới phẩm chất, tính
cách con người. Là hình ảnh xấu, phản cảm, thiếu văn hoá…
- Nguyên nhân:
+ Tuổi trẻ nông nổi, bồng bột.
+ Lối sống đua đòi, không phù hợp với văn hoá Việt
+ Thiếu tình thương, thiếu sự quan tâm, giáo dục:
- Hướng khắc phục:
+ Cần có sự học tập, rèn luyện: Dẫn chứng câu nói của cha ông ta như là
“học ăn, học nói, học gói, học mở”; “lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà
nói…” “lời nói, gói bạc”
+ Có nhiều bạn trẻ kinh doanh chân chính từ Facebook của mình: có tiền
mua sắm trang phục, đóng học phí. Đây là điều giới trẻ phải biết…
- Bài học thực tế:
+ Các trang mạng xã hội để giao lưu, học hỏi, là nơi thể hiện văn minh, văn
hoá, không nên có những hành động, lời nói thiếu văn hoá mà ảnh hưởng tới
bản thân, gia đình, xã hội…
+ Sử dụng công nghệ thông tin có ích cho bản thân, cho cuộc sống là điều
cần và nên ý thức, nên thực hiện
Ví dụ với đề bài 3:
Bản tin đã đưa ra vấn đề về hậu quả của sự tác động xấu đến môi trường.
Ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu là do con người gây nên, con người

+ Tập đoàn Sonadezi thải nước chưa xử lí ra kênh Bà Chèo nhiều lần.
+ Các ví dụ khác…Động đất, sóng thần ở Nhật Bản khiến thiệt hại năng.Ô
nhiễm môi trường, khói bụi dày đặc khiến thủ đô Bắc Kinh Trung Quốc nhiều
ngày trong tình trạng cực kì nguy hiểm. Người bệnh bị ung thư ở Trung Quốc
được chẩn đoán do tác nhân ô nhiễm môi trường đã bị trẻ hóa ( 30 tuổi!), một
điều hết sức kinh khủng.
+ Lũ ống, lũ quét xảy ra thường xuyên ở Việt Nam làm thiệt hại về người và
của cũng do nạn khai thác gỗ lậu ,chặt phá rừng làm nương rẫy…
 Thiệt hại vô cùng to lớn khi nó tác động tới môi trường sống: Nguồn
nước chăn nuôi thủy sản ô nhiễm. Nhiệt độ trái đất tăng dần, nước biển
dâng cao.
+ Con người đã phải trả giá quá nhiều cho sinh mạng đồng loại của mình,
cho cuộc sống hiện tại và tương lai. Vì sự phát triển kinh tế, vì tiền bạc, lợi ích
cá nhân và lợi ích nhóm đã khiến con người ta cố tình bỏ qua những điều thiết
yếu mà họ tưởng như chuyện nhỏ: Căn bệnh ung thư không thuốc chữa, người
chết vì thiên tai mỗi năm càng tăng.
Thái độ, hành động của bản thân về hiện tượng, sự việc, biện pháp giải quyết:
+ Chúng ta phải làm gì?
+ Trước nhất, chúng ta cần chung tay xây dựng một môi trường sống trong
sạch, những hành động thiết thực nhất: học hỏi để hiểu biết, làm việc để chứng
minh: trồng cây, tạo môi trường sống xanh, gần gũi với thiên nhiên
+ Giữ gìn môi trường sống, vì nó là  phải là ý
thức và trách nhiệm của mỗi con người…Với học sinh, phải xuất phát từ việc
xây dựng, gìn giữ vệ sinh trường lớp: bỏ rác vào thùng, ý thức giữ gìn vệ sinh
chung…nhắc nhở, tuyên truyền mọi người chung tay cùng làm việc.
 Những hành động, dù rất nhỏ nhưng giữ gìn môi trường sống là đáng
trân trọng: lấy ví dụ.
Người thực hiện: Trịnh Văn Huy-trường THPT Tôn Đức Thắng 11
Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng xác định vấn đề nghị luận và luận điểm,
luận cứ trong bài văn “nghị luận về hiện tượng đời sống” theo hướng mở

với người giao tiếp.
Ví dụ với đề bài 5:
Việc làm nhỏ, ý nghĩa lớn
Đây là đề khó, hoàn toàn mở, vấn đề ở chỗ học sinh hiểu rằng: việc làm
tuy nhỏ bé nhưng thực ra có ý nghĩa lớn lao. Học sinh phải biết hệ thống hoá
dẫn chứng để phân tích và bàn luận xác đáng.
- Trước nhất, xác định được những hành động tưởng như nhỏ bé, nhỏ nhặt
nhưng lại có ý nghĩa lớn lao.
Người thực hiện: Trịnh Văn Huy-trường THPT Tôn Đức Thắng 12
Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng xác định vấn đề nghị luận và luận điểm,
luận cứ trong bài văn “nghị luận về hiện tượng đời sống” theo hướng mở
- Tiếp theo, xác định những hành động có ảnh hưởng xấu, tác hại lớn
nhưng người ta cho là chuyện nhỏ.
- Nguyên nhân của hai hiện tượng, biểu hiện trên.
- Nêu các ví dụ, phân tích, mô tả.
- Bàn luận và khẳng định, rút ra bài học: phải sống có ích từ những điều
thiết thực, dù đôi khi tưởng như là nhỏ bé.
3.3 Bài viết minh hoạ
Trong phạm vi chuyên đề, chúng tôi giới thiệu bài viết minh hoạ cho đề
số 5:
VIỆC LÀM NHỎ, Ý NGHĨA LỚN
Trịnh Văn Huy
Bài viết 908 chữ
Không biết đã đọc ở đâu, nhưng một câu nói đã để lại cho tôi ấn tượng
sâu sắc, xin được chép lại:
“Đừng thấy việc nhỏ mà không làm
Đừng thấy việc ác nhỏ mà làm”
***
Cuộc sống văn minh hiện đại có nhiều điều kiện để con người hưởng thụ
nhưng mặt trái của nó có nhiều điều đáng bàn. Ví dụ như người ta quá sa đà

đạo lí.
Lời chào thầy cô giáo, tiếng chào khách tới thăm trường của học sinh.
Một học sinh nhặt mẩu giấy vụn trên hành lang tới bỏ vào sọt rác. Sau
hành động đó có cả lời khen, có cái nhìn khác lạ và suy nghĩ: việc của lao công!
Một câu hỏi để tìm lời giải đáp cho một bài toán, bài văn với thầy cô
hoặc bạn bè.
Bọc một cuốn sách, giữ gìn nguyên vẹn sau một năm học, để có thể giúp
bạn nghèo lớp sau không tốn tiền mua.
Ai bảo đấy là những việc nhỏ mà không làm!?. Những hành động trên
chính là ý thức bảo vệ môi trường sống, là để tiếp thu tri thức nhân loại, là cách
sống chia sẻ: mình vì mọi người”!
Những điều đó đâu phải khó làm. Nhưng ai bảo đấy là việc nhỏ. Hãy
sống từ những điều rất nhỏ ấy, mình sẽ đúng là CON NGƯỜI (viết hoa).
Một thiếu nữ ở Bình Định cố tình và lạnh lùng giết người vì cho rằng
người kia đáng chết.
Công ty Vedan xả nước thải ra sông Thị Vải và 10 năm sau cũng khó khôi
phục lại môi trường sống nơi đây. Vì đỡ khoản phí bảo vệ môi trường, vì lợi ích
nhóm mà người ta xem đó là chuyện nhỏ.
Người ta dùng tiền mua bằng cấp, “ông tiến sĩ giấy” và cũng xem đó là
chuyện thường. Mục đích của họ mới là chuyện lớn. Người ta biết tác hại
không!?
Thử hình dung một người trẻ tuổi lẽ ra phải lao động để xây dựng cuộc
sống lại phải ngồi tù để trả giá cho tội ác.
Người dân sống với nghề chăn nuôi thủy sản của tỉnh Đồng Nai, Bình
Dương, thành phố Hồ Chí Minh phải lao đao vì không thể làm ăn bình thường
khi mội trường nước ô nhiễm nặng.
Sẽ như thế nào nếu những người yếu, thiếu kiến thức, kĩ năng, thiếu tấm
lòng (kém tài-thiếu đức) mà đứng ở vị trí lãnh đạo. Họ làm giáo viên thì sẽ ra
sao nhỉ!? Những hành động và hậu họa sẽ chẳng ai lường được.
***

nêu biểu hiện, tác
hại.
Xác định được
luận đề, luận
điểm, dẫn chứng,
nhưng không lập
được dàn ý.
SL TL (%) SL TL (%) SL TL (%) SL TL (%)
12A 40 15 37.5 15 37.5 7 17.5 3 7.5
12B3 35 6 17.1 14 40.0 10 28.5 5 14.2
- Các lớp không được giảng dạy theo cách thức chưa đổi mới với tiến trình,
yêu cầu luyện tập hàng loạt các đề bài trong sách giáo khoa và cũng được kiểm
tra nhanh với một bài tập đã cho ở hai lớp đã thực nghiệm theo phương pháp,
cách thức mới. Kết quả đạt được như sau:
(Lớp 12B4, 12B6)
Tổng số
học sinh
Xác định đúng luận
đề, luận điểm, dẫn
chứng, lập được dàn
ý
Xác định được luận đề,
luận điểm, dẫn chứng
và lập được dàn ý
nhưng chưa chú ý bàn
luận.
Xác định được luận đề,
luận điểm, dẫn chứng,
nhưng chỉ nêu tác hại
Xác định được luận

- Đối chiếu về kết quả giữa hai nhóm trên thì rõ ràng ở nhóm được giảng
dạy theo phương pháp mới, mức độ lĩnh hội kiến thức, kĩ năng nhận diện, phân
tích, bàn luận sự việc, hiện tượng trong đời sống xã hội cao hơn. ( Trên 60%
trung bình trong khi đó nhóm còn lại chưa thể đạt 40 % trên trung bình).
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Số liệu, kết quả của quá trình áp dụng thực hiện, các vấn đề đưa ra nghiên
cứu và thực hiện có sự kế thừa và có tính sáng tạo, thực tiễn; chất lượng học
sinh được nâng cao là hoàn toàn có thật, tin cậy. Đây là kết quả rất đáng mừng
đối với tình hình cụ thể của trường.
Chúng tôi mạnh dạn có những đề xuất, khuyến nghị sau:
-Đối với nhà trường: Quan tâm hơn tới công tác kiểm tra, đánh giá, đúc rút
kinh nghiệm qua thực tiễn giảng dạy của giáo viên qua hình thức tổ chức báo
cáo chuyên đề cấp trường về các phương pháp, hình thức giảng dạy nâng cao
chất lượng có hiệu quả.
- Đề tài trên có thể sử dụng cho giáo viên trẻ tham khảo thêm để thấy rõ việc
kết hợp giữa lí thuyết (học ở Đại học) và thực tiễn giảng dạy.
Với giáo viên lâu năm, có thể đề tài này là một gợi ý để hiểu sâu hơn một vấn
đề thực tiễn mà nâng lên thành lí luận.
-Đối với Sở giáo dục đào tạo Đồng Nai: Tổ chức Hội nghị chuyên đề cấp
Tỉnh về kinh nghiệm dạy học để nhân rộng điển hình, để đồng nghiệp có điều
kiện trao đổi những kinh nghiệm giảng dạy thiết thực, hữu ích phù hợp với cuộc
sống hơn.
Sở giáo dục cần có những kỉ luật hợp lí cho những sao chép “sáng kiến” để
đẩy lùi bệnh thành tích.
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Người thực hiện: Trịnh Văn Huy-trường THPT Tôn Đức Thắng 16
Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng xác định vấn đề nghị luận và luận điểm,
luận cứ trong bài văn “nghị luận về hiện tượng đời sống” theo hướng mở
1. Làm văn 12, Trần Đình Sử chủ biên, nxb Giáo dục, HN, 2000.
2. Hướng dẫn thực hiện chương trình SGK 12 môn Ngữ văn, Phan Trọng

Người thực hiện: Trịnh Văn Huy-trường THPT Tôn Đức Thắng 18
Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng xác định vấn đề nghị luận và luận điểm,
luận cứ trong bài văn “nghị luận về hiện tượng đời sống” theo hướng mở
MỤC LỤC

Trang
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: …………………………………………………… 1
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN……………………………………… 2
1. Cơ sở lí luận………………………………………………………………… 2
2. Cơ sở thực tiễn… ………………………………………………………… 2
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
1.Các khái niệm cơ bản về văn nghị luận và bài văn nghị luận xã hội………….3
2.Các biện pháp thực hiện………………………………………………………5
2.1 Những biện pháp chung…………………………………………………….5
2.2 Những biện pháp cụ thể…………………………………………………… 6
2.2.1 Xác định vấn đề nghị luận…………………………………………………6
2.2.2 Xác lập luận điểm, xây dựng luận cứ………………………………… …6
3.Vận dụng vào thực tế………………………………………………………… 7
3.1 Xác định vấn đề nghị luận……………… …………………………………7
3.2 Xác lập luận điểm, xây dựng luận cứ……………………………………… 8
3.3 Bài viết minh hoạ…………………………………… ……………………13
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI ……………………………………………… 15
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG……………………16
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
VII.PHỤ LỤC …………………………………………………………………17
MỤC LỤC……………………………………………………………… ……19
Người thực hiện: Trịnh Văn Huy-trường THPT Tôn Đức Thắng 19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status