TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
=====o0o=====
TRẦN THỊ HƯƠNG
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI
CỦA HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA
CÁC BÀI TẬP LUYỆN TỪ VÀ CÂU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Người hướng dẫn khoa học
ThS. Lê Bá Miên
HÀ NỘI, 2018
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, khoa Giáo dục Tiểu học, tổ Phương pháp dạy học Tiếng Việt đã tạo
điều kiện trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại trường. Đặc biệt tôi
xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - ThS. Lê Bá Miên, người đã hướng
dẫn, động viên và tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo
cùng các em học sinh trường Tiểu học Cao Minh A và trường Tiểu học Hùng
Vương, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp tôi trong quá trình khảo sát
thực tế.
Trong khi thực hiện đề tài này, do thời gian và năng lực còn hạn chế nên
tôi không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp
ý, chỉ bảo của quý thầy cô và các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn.
7. Giả thuyết khoa học ................................................................................... 5
8. Cấu trúc đề tài ............................................................................................ 5
NỘI DUNG ....................................................................................................... 6
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ................................. 6
1.1. Cơ sở lý luận ........................................................................................... 6
1.1.1. Lý luận về từ loại và phân định từ loại ............................................. 6
1.1.1.1. Từ loại Tiếng Việt ....................................................................... 6
1.1.1.2. Vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt .................................. 7
1.1.1.3. Tiêu chí phân định từ loại........................................................... 7
1.1.1.4. Kết quả phân loại từ loại ............................................................ 9
1.1.1.5. Các từ loại tiếng Việt ở Tiểu học .............................................. 10
1.1.2. Đặc điểm về tâm sinh lý của học sinh Tiểu học.............................. 19
1.2. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................... 21
1.2.1. Sách giáo khoa và chương trình dạy ở Tiểu học ............................ 21
1.2.1.1. Chương trình dạy học về từ loại trong môn Tiếng Việt ở
Tiểu học.................................................................................................. 21
1.2.1.2. Nội dung dạy học về từ loại trong phân môn Luyện từ và câu
ở Tiểu học .............................................................................................. 22
1.2.1.3. Phân môn luyện từ và câu lớp 5 ............................................... 23
1.2.2. Thực tiễn việc dạy và học ở trường Tiểu học ................................. 24
1.2.3. Vị trí của giáo viên Tiểu học trong việc dạy Tiếng Việt nói chung
và dạy từ loại nói riêng ............................................................................. 25
Chương 2. NHỮNG KĨ NĂNG XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI CHO HỌC SINH ... 26
2.1. Khảo sát kĩ năng xác định từ loại của học sinh lớp 5 ........................... 26
2.1.1. Đối tượng ........................................................................................ 26
2.1.2. Phạm vi ........................................................................................... 26
2.1.3. Nội dung tìm hiểu kĩ năng xác định từ loại của học sinh ............... 26
2.1.4. Kết quả tìm hiểu kĩ năng xác định từ loại của học sinh lớp 5
quy nạp và rèn luyện kĩ năng dùng từ đặt câu. Ngoài ra còn cung cấp những
hiểu biết sơ giản về tự nhiên, xã hội, con người, văn hóa, văn học của Việt
Nam và nước ngoài. Phân môn Luyện từ và câu giúp học sinh bồi dưỡng tình
yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của
tiếng Việt; từ đó hình thành nhân cách và nếp sống văn hóa của con người
Việt Nam.
Các môn học ở Tiểu học có tác dụng hỗ trợ cho nhau nhằm giáo dục toàn
diện học sinh. Luyện từ và câu là phân môn chiếm thời lượng khá lớn trong
môn Tiếng Việt ở tiểu học. Trong đó, phần từ loại là một trong những nội dung
quan trọng được dạy ở phân môn Luyện từ và câu. Các kiến thức về từ loại
giúp cho học sinh ở bậc Tiểu học phân biệt được các từ loại, cách dùng từ đặt
câu có ý nghĩa, vận dụng linh hoạt khi làm các bài tập Tiếng Việt. Bên cạnh đó,
1
những kiến thức về từ loại sẽ giúp học sinh phát triển được vốn từ, kĩ năng
nhận diện, sử dụng thành thạo trong viết văn. Nhưng thực tế cho thấy, học sinh
còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc nhận diện từ loại, phân loại từ loại, vận
dụng từ loại trong dùng từ, đặt câu và kĩ năng xác định từ loại của mỗi học sinh
không giống nhau.Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Rèn luyện kĩ năng xác định từ
loại của học sinh lớp 5 thông qua các bài tập Luyện từ và câu”.
2. Lịch sử nghiên cứu
Học thuyết về từ loại ra đời từ thời cổ Hy Lạp gắn với tên tuổi của nhà
triết học Arixtốt. Ông không gắn các từ loại với các phạm trù mà ông đã đề
xuất mà chỉ chú ý tới tính chất vị ngữ của động từ và cho rằng động từ thể
hiện vị thể của phán đoán. Danh từ thì được coi là tên gọi của các sự vật, thể
hiện chủ thể phán đoán.
Các nhà ngữ pháp của học phái A-lêch-xăng-đri định nghĩa danh từ và
động từ theo những khái niệm do chúng biểu hiện chứ không phải theo các
cứu ba từ loại thuộc lớp thực từ: danh từ, động từ, tính từ.
Gần với đề tài của chúng tôi nghiên cứu là cuốn Ngữ pháp tiếng Việt,
nhà xuất bản Giáo dục, 2006, tác giả Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung đã
dành ra một chương nghiên cứu về từ loại tiếng Việt với trọng tâm là tiêu
chuẩn phân định từ loại và hệ thống từ loại tiếng Việt.Theo tác giả, hệ thống
từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm:
Nhóm 1: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ.
Nhóm 2: phụ từ (định từ, phó từ), kết từ, tiểu từ (trợ từ và tình thái từ).
Đồng thời tác giả cũng có sự lý giải cho các sắp xếp trên.
Những cuốn sách trên chỉ viết trên cơ sở lý luận mà không được thực
nghiệm ở trường Tiểu học. Nhận thức được tầm quan trọng của việc gắn lý
thuyết với thực tiễn, gắn việc tiếp thu tri thức và thực hành tri thức, chúng tôi
mạnh dạn tiến hành điều tra thực nghiệm về kĩ năng xác định từ loại của học
sinh Tiểu học để góp phần nâng cao kĩ năng giúp học sinh xác định từ loại đạt
hiệu quả tốt nhất.
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài xác định đối tượng nghiên cứu là kĩ năng xác định từ loại của học
sinh lớp 5 thông qua các bài tập Luyện từ và câu.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu kĩ năng xác định từ loại của học sinh lớp 5
thông qua các bài tập luyện từ và câu, cụ thể tại Trường Tiểu học Cao Minh
A, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc và Trường Tiểu học Hùng Vương, thị xã
Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
4. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích rèn khả năng tư duy so sánh, phân
kết quả nghiên cứu về vấn đề rèn luyện kĩ năng xác định từ loại của học sinh.
7. Giả thuyết khoa học
Chúng tôi giả định các phương án, các đề xuất mà khóa luận nêu ra được
công nhận và thông qua thì đó sẽ là tài liệu tham khảo cho giáo viên và sinh
viên trong việc giảng dạy các dạng bài tập về từ loại, đặc biệt là những giáo
viên đang công tác trên những địa bàn khó khăn, góp thêm tiếng nói vào việc
nâng cao hiệu quả học tập của học sinh trong môn Luyện từ và câu, nhằm
phát triển chất lượng giáo dục đào tạo ở Tiểu học hiện nay.
8. Cấu trúc đề tài
Mở đầu
Nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Những kĩ năng xác định từ loại cho học sinh lớp 5
Kết luận
Tài liệu tham khảo
5
NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Lý luận về từ loại và phân định từ loại
1.1.1.1. Từ loại Tiếng Việt
Theo tác giả Đinh Văn Đức, “Từ loại là những lớp từ có cùng bản
chất ngữ pháp, được phân chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các
từ ngữ khác và thực hiện chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu. Hệ
thống từ loại có tính chất là cơ sở của cơ cấu ngữ pháp một ngôn ngữ nhất
định” [5; 16].
Theo tác giả Lê Biên thì ông cho rằng: “Từ loại là khái niệm chỉ sự phân
+ Khả năng làm trung tâm của cụm từ, ngữ.
+ Khả năng làm thành tố phụ của ngữ.
1.1.1.3. Tiêu chí phân định từ loại
Đã có rất nhiều nhà ngữ pháp học trong các công trình nghiên cứu của
mình đề cập đến vấn đề tiêu chí phân định từ loại như:
- Tác giả Hoàng Văn Thung - Lê A trong “Ngữ pháp tiếng Việt”
- Tác giả Đinh Văn Đức với “Ngữ pháp tiếng Việt - từ loại”.
- Tác giả Diệp Quang Ban trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt tập 1”.
Các tác giả trên hầu hết đều thống nhất dựa trên ba tiêu chí sau để phân
chia từ loại:
- Ý nghĩa khái quát của từ (ý nghĩa phạm trù).
- Khả năng kết hợp của từ.
- Chức vụ cú pháp của từ (thành phần câu).
Trong cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ” hai tác giả Vũ Đức Nghiệu và Nguyễn
Văn Hiệp cũng dựa trên ba tiêu chí nhưng dùng cách diễn đạt khác:
7
- Tiêu chí về ý nghĩa.
- Tiêu chí về hình thức.
- Tiêu chí về chức năng.
Trong ba tiêu chí này thì hai tiêu chí đầu nhằm vào chính bản thân các
từ: nội dung và hình thức của chúng, còn tiêu chí thứ ba chủ yếu lại căn cứ
vào năng lực, thái độ cú pháp của từ trong hoạt động tạo câu của chúng.
Trên cơ sở các tài liệu đã thu thập được chúng tôi có thể căn cứ vào các
tiêu chí sau để tìm hiểu về từ loại tiếng Việt:
- Ý nghĩa khái quát của từ là ý nghĩa phạm trù chung có tính khái quát
hóa cao, nó là kết quả của quá trình trừu tượng hóa ý nghĩa của hàng loạt cái
cụ thể: danh từ chỉ sự vật; động từ chỉ hoạt động, trạng thái; còn tính từ chỉ
hư từ).
Nguyễn Hữu Quỳnh - Tiếng Việt hiện đại chia từ tiếng Việt thành 9 từ
loại: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, phó từ, quan hệ từ, trợ từ, thán từ.
Hoàng Văn Thung - Lê A “Ngữ pháp tiếng Việt” phân chia từ thành
hai lớp:
- Thực từ bao gồm các từ loại: danh từ, động từ, tính từ, đại từ và số từ.
- Hư từ bao gồm các từ loại: phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ.
Diệp Quang Ban trong cuốn “Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, tập 1”
phân loại như sau:
- Lớp thực từ bao gồm các từ loại: danh từ, số từ, động từ, tính từ.
- Lớp hư từ bao gồm các từ loại: phụ từ, quan hệ từ, tiểu từ tình thái.
- Lớp từ trung gian là các đại từ.
Tác giả Lê Biên trong cuốn Từ loại tiếng Việt hiện đại đã đưa ra cách
phân loại từ tiếng Việt như sau:
- Lớp thực từ chia ra hai tiểu loại là Thể từ và Vị từ.
+ Thể từ gồm: danh từ, số từ.
+ Vị từ gồm: động từ, tính từ, đại từ.
9
- Lớp hư từ gồm có: phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ, thán từ.
Vũ Đức Nghiệu - Nguyễn Văn Hiệp trong cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ
học” của mình đã phân chia từ loại thành ba lớp:
- Các thực từ: danh từ, động từ, tính từ, trạng từ, số từ, đại từ.
- Các hư từ gồm hai từ loại là giới từ và liên từ.
- Thán từ
Như vậy, tất cả các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đều xếp ba từ loại: danh từ,
động từ, tính từ vào thực từ. Còn số từ và đại từ thì có những cách xếp khác
nhau. Theo đa số các nhà nghiên cứu thì hệ thống từ loại tiếng Việt gồm 8 từ
a2. Danh từ chung
Danh từ chung là những danh từ chỉ tên chung tất cả các cá thể trong
cùng một lớp sự vật. Hệ thống danh từ chung bao gồm một số lượng rất lớn,
có thể tách biệt thành các tiểu loại:
* Danh từ tổng hợp
Danh từ tổng hợp là những danh từ chỉ gộp những sự vật cùng loại (không
tách ra thành các cá thể). Ví dụ : bàn ghế, quần áo, thợ thuyền, vợ chồng, nhà
cửa, bếp núc, giấy má, binh lính, xe cộ, máy móc, bạn bè, cây cối, …
Danh từ tổng hợp không kết hợp trực tiếp với số từ (không nói: ba bàn
ghế, chín bạn bè, sáu máy móc, tám quần áo,…).
Danh từ tổng hợp không kết hợp với các từ chỉ đơn vị cá thể mà chỉ
kết hợp với các từ chỉ đơn vị tập thể (bộ, tốp, đoàn, đống, bọn, cặp, lũ…):
sáu bộ bàn ghế, một tốp học sinh, một cặp vợ chồng, một đống máy móc…
(không nói: hai cái bàn ghế, hai người vợ chồng mà nói: hai bộ bàn ghế,
một cặp vợ chồng).
* Danh từ không tổng hợp
- Danh từ chỉ đơn vị : là danh từ chỉ đơn vị các sự vật. Chúng kết hợp với
các số từ. Có thể phân biệt các loại danh từ chỉ đơn vị như sau:
11
+ Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên: các danh từ này chỉ rõ loại sự vật nên còn
gọi là danh từ chỉ loại hay loại từ: cái, con, chiếc, quyển, cây, tấm, bức, mảnh,
tờ, ngôi, cục, căn, tờ, cơn…
+ Danh từ chỉ đơn vị đo lường: các danh từ này chỉ đơn vị quy ước để đo
đếm các vật liệu: cân, mét, lít, tạ, tấn, thước, mẫu, sào…
+ Danh từ chỉ các đơn vị tập thể: dùng để tính đếm các sự vật tồn tại
dưới dạng tập thể; do đó chúng thường kết hợp với các danh từ tổng hợp. Đó
là các từ như: bộ, cặp, bọn, đoàn, tốp, lũ,…
trong câu.
Phân loại động từ:
b1. Động từ không độc lập
Động từ không độc lập là những động từ thường không đứng một mình
đảm nhiệm vai trò ngữ pháp trong câu, mà phải đi cùng với một từ khác hoặc
một cụm từ đi sau làm thành tố phụ.
Có thể chia các động từ không độc lập thành các nhóm chủ yếu sau:
* Nhóm động từ tình thái:
- Động từ chỉ sự cần thiết: cần, phải, nên, cần phải, …
- Động từ chỉ khả năng: có thể, chẳng thể, chưa thể, không thể, …
- Động từ chỉ ý chí: định, dám, toan, quyết, nỡ, …
- Động từ chỉ mong muốn: muốn, ước, mong, mong muốn, mong ước,
ước muốn, …
- Động từ chỉ tình trạng tiếp thụ, chịu đựng: được, bị, phải, mắc, chịu, …
* Nhóm động từ quan hệ:
- Động từ chỉ quan hệ đồng nhất: là, làm
- Động từ chỉ quan hệ tồn tại: còn, có, biến, mất, sinh (ra), …
- Động từ chỉ quan hệ sở hữu : có
- Động từ chỉ quan hệ biến hóa : thành, hóa, hóa ra, hóa thành, trở thành,…
- Động từ chỉ quan hệ diễn biến theo thời gian: bắt đầu, kết thúc, tiếp tục,
thôi, hết, …
- Động từ chỉ quan hệ so sánh, đối chiếu: giống, khác, như, tựa, in, hệt,…
13
- Động từ chỉ quan hệ diễn biến trong không gian : gần, xa, ở, …
b2. Động từ độc lập
Động từ độc lập là những động từ biểu thị ý nghĩa quá trình (hành động
hoặc trạng thái). Động từ độc lập có thể dùng một mình khi đảm nhiệm các
ném, quẳng, vứt,…
- Nhóm động từ chỉ hoạt động nối kết, gắn bó các đối tượng: hòa, trộn,
buộc, nối, pha, liên kết, …
- Nhóm động từ chỉ hoạt động gây khiến: nhờ, sai, bắt, khiến, yêu cầu,…
- Nhóm động từ chỉ hoạt động đánh giá nhận xét: gọi, bầu, coi, tôn,
cử,…
- Nhóm động từ chỉ các hoạt động cảm giác, tri giác, suy nghĩ, nói năng,
nhận thức: biết, nghĩ, thấy, phát biểu, …
c. Tính từ
Tính từ là những từ có ý nghĩa khái quát chỉ tính chất, đặc điểm của sự
vật, của hoạt động, của trạng thái.
Tính từ có khả năng kết hợp với các phụ từ. Tính từ hầu như không kết
hợp được với các phụ từ chỉ mệnh lệnh, ngược lại phần lớn các tính từ dễ
dàng kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ.
Tính từ có khả năng đảm nhiệm chức năng của các thành phần câu như
vị ngữ, chủ ngữ, bổ ngữ, định ngữ, trạng ngữ. Khi làm vị ngữ, tính từ không
cần đến từ “là”. Ví dụ: Cô giáo em // rất hiền.
Phân loại tính từ:
Có thể phân chia tính từ thành hai lớp: lớp chỉ đặc trưng không xác định
thang độ và lớp chỉ đặc trưng xác định thang độ.
* Tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ.
Đây là lớp tính từ chỉ đặc trưng không biểu thị ý nghĩa thang độ tự thân.
Chúng thường kết hợp với phụ từ chỉ ý nghĩa thang độ : rất, hơi, quá, lắm, cực
kì…
15
Tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ gồm:
- Những tính từ chỉ đặc trưng màu sắc: đỏ, xanh, vàng, tím, xám, đen,
cho các từ thuộc danh từ, động từ, số từ). Khi thay thế cho từ thuộc loại nào
thì đại từ mang đặc điểm ngữ pháp cơ bản của từ loại ấy.
Phân loại đại từ:
d1. Căn cứ vào chức năng thay thế
Căn cứ vào các chức năng thay thế, đại từ được chia thành ba nhóm sau:
- Các đại từ thay thế cho danh từ: các đại từ này có đặc điểm ngữ pháp
giống như danh từ, ví dụ: tôi, chúng tôi, nó, tao, mày, họ, ấy, kia, này, nọ,
ai,…
- Các đại từ thay thế cho động từ, tính từ: các đại từ này có đặc điểm ngữ
pháp giống như động từ và tính từ, ví dụ: thế, như thế, vậy, như vậy,…
- Các đại từ thay thế cho số từ: các đại từ này có đặc điểm ngữ pháp
giống như số từ, ví dụ: bao, bấy, bao nhiêu, bấy nhiêu,…
d2. Căn cứ vào mục đích sử dụng
Căn cứ vào mục đích sử dụng, có thể chia đại từ thành các tiểu loại
sau:
- Các đại từ xưng hô: người nói - ngôi thứ nhất (tôi, tao, tớ, chúng tôi,
chúng tao, chúng tớ,…), người nghe - ngôi thứ hai (mày, mi, chúng mày,…),
người được nói tới - ngôi thứ ba (nó, y, hắn, chúng nó,…)
- Các đại từ chỉ định: thường làm thành tố phụ kết thúc cụm danh từ
nhưng cũng có thể dùng độc lập, ví dụ: kia, ấy, này, nọ, đó, đấy, đây, này,…
- Các đại từ nghi vấn: hỏi về người và sự vật (ai, cái gì…), hỏi về nơi
chốn (đâu), hỏi về thời gian (bao giờ), hỏi về đặc điểm, tính chất (nào, sao…),
hỏi về số lượng (bao, bao nhiêu…).
- Đại từ phiếm chỉ: chỉ chung mọi người, mọi sự vật, mọi nơi chốn, thời
gian, mọi đặc điểm, tính chất và số lượng,… nhưng không ám chỉ một đối
17
tượng cụ thể nào như: đâu, nào, nấy, ai, bao nhiêu, bấy nhiêu,…
e2. Quan hệ từ biểu thị quan hệ chính phụ
Quan hệ từ chính phụ dùng để nối kết các thành phần có quan hệ chính
phụ. Quan hệ từ chính phụ bao gồm các loại:
- Quan hệ từ chỉ quan hệ sở hữu: của
- Quan hệ từ chỉ quan hệ mục đích: để, cho, mà, vì,…
- Quan hệ từ chỉ quan hệ nguyên nhân: tại, vì, do, bởi,…
- Quan hệ từ chỉ quan hệ cách thức, phương tiện: bằng, với,…
- Quan hệ từ chỉ quan hệ thời gian, không gian: từ, ở, tại, tới, đến,…
- Quan hệ từ chỉ quan hệ phạm vi, phương diện: với, đối với, về,…
- Quan hệ từ chỉ quan hệ giải thích, thuyết minh, so sánh: là, bằng, như,…
Nhiều khi, từ ngữ trong câu được nối với nhau bằng một cặp quan hệ từ.
Các cặp quan hệ từ thường dùng:
+ Vì … nên … ; Do … nên … ; Nhờ … nên … ( biểu thị quan hệ nguyên
nhân – kết quả).
+ Nếu … thì … ; Hễ … thì … ( biểu thị quan hệ giả thiết, điều kiện – kết
quả).
+ Tuy … nhưng … ; Mặc dù … nhưng … (biểu thị quan hệ tương phản,
nhượng bộ, đối lập).
+ Không những … mà còn … ; Không chỉ … mà còn … ( biểu thị quan hệ
tăng tiến).
1.1.2. Đặc điểm về tâm sinh lý của học sinh Tiểu học
* Ngôn ngữ
Ngôn ngữ học sinh Tiểu học phát triển mạnh cả về ngữ âm, từ ngữ và
ngữ pháp
Về ngôn ngữ viết, học sinh đã nắm được một số quy tắc cơ bản khi viết.
Tuy nhiên, các em còn viết sai ngữ pháp. Vốn từ của học sinh ngày càng
phong phú, chính xác và giàu hình ảnh nhờ tham gia nhiều hoạt động, tiếp xúc
19
20