Phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 5 thông qua phân môn tập làm văn - Pdf 40

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NÔNG THỊ QUYÊN

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA
PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. HOÀNG THỊ THANH HUYỀN

HÀ NỘI, 2016


LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS. Hoàng Thị
Thanh Huyền - Giảng viên khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội,
người đã tận tâm hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em trong suốt quá trình
thực hiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn sự hợp tác , giúp đỡ tận tình của Ban giám
hiệu, các thầy cô cùng các em học sinh lớp 5 trường Tiểu học Hội Hợp B (Vĩnh
Yên - Vĩnh Phúc) đã tạo điều kiện cho em khảo sát và thực nghiệm sư phạm.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa cùng
toàn thể các thày cô trong khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
Hà Nội, ngày 5 tháng 4 năm 2016
Tác giả

6. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 4
7. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 4
8. Đóng góp của khóa luận................................................................................ 4
9. Bố cục của đề tài ........................................................................................... 4
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ........................................... 6
1.1. Một số lí thuyết giao tiếp bằng ngôn ngữ .................................................. 6
1.1.1. Giao tiếp và hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ .................................... 6
1.1.2. Các nhân tố giao tiếp ............................................................................... 6
1.1.3. Đặc điểm giao tiếp của HS lứa tuổi tiểu học......................................... 10
1.2. Vấn đề phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 5.......................... 12
1.2.1. Khái niệm .............................................................................................. 12
1.2.2. Phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh thông qua phân môn Tập làm
văn ................................................................................................................... 13
1.3. Vai trò của phân môn Tập làm văn trong môn Tiếng Việt lớp 5 ............. 14
1.3.1. Mối quan hệ giữa Tập làm văn với các phân môn khác của Tiếng Việt
lớp 5 ................................................................................................................. 14
1.3.2. Mục đích dạy Tập làm văn cho học sinh lớp 5 ..................................... 15


Chƣơng 2. NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP
LÀM VĂN ...................................................................................................... 16
2.1. Nội dung phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 5 thông qua môn
Tập làm văn ..................................................................................................... 16
2.1.1. Xác định chủ đề ..................................................................................... 16
2.1.2. Thảo luận nhóm để mở rộng vốn từ ngữ phù hợp với chủ đề .............. 17
2.1.3. Xây dựng các kiểu cấu tạo câu.............................................................. 18
2.2. Biện pháp phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 5 thông qua môn
Tập làm văn ..................................................................................................... 19
2.2.1. Cơ sở đề xuất ......................................................................................... 19

giản chỉ là những vấn đề trong cuộc sống hàng ngày còn nhiều thiếu sót, các
em hiểu ý nhưng không diễn đạt được ý của mình. Điều này làm ảnh hưởng
rất nhiều tới hoạt động tiếp thu tri thức khoa học của các em.
Nhận thức được tầm quan trọng của giao tiếp, từ lâu việc dạy học trong
nhà trường đã hướng tới mục đích giao tiếp. Các môn học đều lồng ghép vệc
phát triển NLGT cho HS để đảm bảo sự phát triển về nhân cách. Các môn học
được gắn kết đặc biệt, sắp xếp phân bổ hợp lý, tạo điều kiện cho sự phát triển

1


toàn diện của HS, trong đó Tiếng Việt được xem là môn học có vị trí đặc biệt
quan trọng đối với việc phát triển NLGT cho HS. Do đặc thù môn học nên
NLGT của HS có thể phát huy ở nhiều phân môn nhất là phân môn Tập làm
văn. Tuy nhiên hiện nay việc phát triển NLGT cho các em vẫn chưa được
thực sự chú ý đúng mức. Dạy học vẫn đề cao việc truyền tải kiến thức, chưa
hướng vào làm nảy sinh những nhu cầu mong muốn rèn luyện, chiếm lĩnh và
phát triển NLGT thông qua môn học và các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Phát
triển NLGT cho HS còn thiếu đồng bộ, toàn diện… Vì vậy, nhiệm vụ phát
triển NLGT cho HSTH ngày càng cấp thiết và đòi hỏi sự quan tâm, đầu tư
nhiều hơn những lợi ích mà nó mang lại cho các em.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi nghiên cứu lựa chọn vấn đề:
“Phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 5 thông qua môn tập làm văn”
làm đề tài nghiên cứu của mình. Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn
đưa ra một số biện pháp để phát triển NLGT cho học sinh lớp 5 thông qua
môn tập làm văn. Mặt khác, góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục tất cả vì
sự phát triển toàn diện của trẻ em lứa tuổi Tiểu học.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu giao tiếp vốn là một đề tài quen thuộc, từ lâu đã được sự
quan tâm của các nhà nghiên cứu. Các công trình được các nhà nghiên cứu

3. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp phát triển NLGT cho HS lớp 5 thông qua môn
Tập làm văn
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
-Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc xây dựng các biện pháp rèn NLGT cho
HS thông qua môn Tập làm văn.
- Tìm hiểu thực tiễn giáo dục phát triển NLGT cho HS thông qua phân
môn Tập làm văn trong trường Tiểu học hiện nay.
- Đề xuất một số biện pháp rèn NLGT cho HSTH thông qua phân môn

3


Tập làm văn.
5. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp phát triển NLGT cho HS thông
qua dạy học phân môn Tập làm văn.
- Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học phân môn Tập làm văn.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên các biện pháp phát triển NLGT cho HS thông
qua phân môn Tập làm văn.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận (Chúng tôi sử dụng phương pháp
nghiên cứu lí luận để nghiên cứu một số lí thuyết giao tiếp bằng ngôn ngữ,
vấn đề phát triển NLGT cho HS lớp 5 và vai trò của phân môn Tập làm văn
trong Tiếng Việt 5).
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp điều tra (bằng phiếu khảo sát)
+ Phương pháp phân tích (phân tích các ngữ liệu, tài liệu thuộc phạm vi
nghiên cứu đã xác định)

người khác và của bản thân, trên cơ sở điều chỉnh bản thân theo các chuẩn
mực xã hội. Vì vậy giao tiếp không chỉ quan trọng đối với cuộc sống con
người, với tồn tại và phát triển của xã hội loài người nói chung mà còn có ảnh
hưởng rất lớn đến việc hình thành nhân cách mỗi cá nhân trong cộng đồng…
Có thể hiểu một cách khái quát: Giao tiếp là hoạt động tiếp xúc, trao đổi giữa
con người với con người trong xã hội nhằm truyền đạt cho nhau những nhận thức,
những tư tưởng hoặc nhằm bày tỏ, chia sẻ những tình cảm, thái độ… đối với nhau
cũng như đối với các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan.
Con người có thể giao tiếp bằng nhiều phương tiện: ánh mắt, điệu bộ, âm
thanh, dùng cờ, dùng còi… nhưng nếu chỉ giao tiếp bằng các phương tiện như
vậy thì rất hạn chế về nội dung. Phong phú và hiệu quả hơn cả trong giao tiếp
là sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện chính.
Giao tiếp bằng ngôn ngữ là việc con người thông báo, trao đổi cho nhau
những tin tức nào đó; bộc lộ, chia sẻ với nhau những tình cảm vui - buồn…
nào đó bằng ngôn ngữ.
1.1.2. Các nhân tố giao tiếp
Nhân tố giao tiếp là những nhân tố có mặt trong cuộc giao tiếp, ảnh
hưởng, chi phối hiệu quả của cuộc giao tiếp đó. Có thể thấy rõ rằng mỗi nhân
tố giao tiếp đều để lại dấu ấn của mình trong lời nói - sản phẩm của hoạt động

6


giao tiếp và tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc tổ chức xây dựng lời
nói. Chính vì thế, từ việc xác định lại các nhân tố này và chỉ ra sự tác động
của chúng trong hoạt động giao tiếp, một lần nữa chúng tôi muốn khẳng định
đây là những nhân tố thể hiện đậm nét nhất việc chi phối của các nhân tố bên
ngoài ngôn ngữ tới việc sử dụng ngôn ngữ và chi phối trực tiếp đến hiệu quả
của việc giao tiếp. Để hiểu sâu hơn về vấn đề này, chúng ta sẽ lần lượt xem
xét từng nhân tố đó.

Xét ở phạm vi hẹp hơn, cụ thể hơn hoàn cảnh giao tiếp bao gồm những hiểu
biết và cách ứng xử về thời gian, địa điểm, hình thức giao tiếp, tình trạng sức
khỏe, tâm lý, những sự vật xung quanh,… tồn tại trong quá trình giao tiếp. Tất
cả các yếu tố trên dù trực tiếp hay gián tiếp đều tác động đến hoạt động giao
tiếp, chi phối hoạt động giao tiếp và nếu xử lý tốt các yếu tố này trong khi xây
dựng văn bản sẽ đem lại hiệu quả giao tiếp cao.
c) Nội dung giao tiếp
Nội dung giao tiếp chính là mảng hiện thực được đề cập tới trong văn
bản. Đó có thể hiện thực trong thực tế khách quan bên ngoài con người
(những sự vật hiện tượng của tự nhiên, xã hội được con người nhận thức)
cũng có thể là hiện thực thuộc về con người, thuộc nội tâm con người, kể cả
nội tâm người phát và người nhận (những tư tưởng, tình cảm những câu
chuyện tưởng tượng…). Và đó cũng có thể là ngôn ngữ hay bản thân cuộc
giao tiếp bằng ngôn ngữ. Tuy nhiên, giữa ý định của người phát (nội dung dự
kiến) với sản phẩm của việc thực hiện ý định đó (văn bản) thường bao giờ
cũng có một khoảng cách nhất định. Không phải lúc nào người phát cũng có
thể thể hiện hết, hoàn toàn chính xác những ý định của mình trong văn bản
bới nhiều lí do: khả năng sử dụng ngôn từ, hoàn cảnh giao tiếp, tình trạng
tâm, sinh lí… Do đó, giữa văn bản và nội dung dự kiến ban đầu của người
viết, người nói bao giờ cũng có một khoảng cách nhất định.
d) Mục đích giao tiếp
Mỗi một văn bản (bài viết, bài nói) thường có một hoặc một vài mục
đích giao tiếp riêng. Có thể mục đích đó là sự thông báo tin tức mới, trao đổi

8


một vài vấn đề được mọi người quan tâm, hoặc cũng có thể là sự phê phán
động viên, cổ vũ, hoặc cũng có thể đó là sự đe dọa, lên án,… Mục đích giao
tiếp rất đa dạng và sẽ được xác định một cách cụ thể tùy thuộc vào từng cuộc

thức tồn tại của ngôn ngữ, phù hợp với tình huống giao tiếp và mục đích giao
tiếp. Ngoài ra, để đạt được hiệu quả giao tiếp tối ưu, chúng ta còn cần nắm
vững những biến thể của ngôn ngữ để thấy hét được cái hay, cái đẹp, sự đa
dạng của ngôn từ và ngày càng nâng cao hơn nữa nghệ thuật sử dụng từ ngữ
ngữ của chính mình. Hiểu rõ được điều này, khi dạy học TLV cho HS, giáo
viên cần giúp cho các em mở rộng vốn từ, nắm chắc quy tắc sử dụng ngôn từ,
tức là cung cấp đầy đủ cho học sinh những cái có hạn để các em tạo ra vô hạn
những lới nói khác nhau trong giao tiếp và học tập.
Các nhân tố giao tiếp vừa nêu trên đây luôn có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau trong hoạt động giao tiếp. Cũng có thể nói nó là những điều kiện đảm
bảo cho một hoạt động giao tiếp diễn ra đạt được hiệu quả mong muốn. Khi
giao tiếp chúng ta cần phải chú trọng tới tất cả các nhân tố giao tiếp này.
1.1.3. Đặc điểm giao tiếp của HS lứa tuổi tiểu học
Cuộc sống tâm lí của con người bắt đầu từ nhu cầu giao tiếp với con
người, trước tiên là những người xung quanh. Giao lưu sơ đẳng đã xuất hiện
khi trẻ ba tuần tuổi. Từ khi biết nói thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ trở nên
cực kì quan trọng trong đời sống tinh thần của đứa trẻ.
Việc đi học ở trường phổ thông là một bước ngoặt trong đời sống của trẻ.
Những mối quan hệ mới với người lớn, với các bạn cùng tuổi được hình
thành, trẻ được đưa vào các hệ thống tập thể. Việc tham gia vào các hoạt động
chủ đạo mới - hoạt động học tập sẽ đề ra hàng loạt yêu cầu buộc trẻ phải làm
cho cuộc sống của mình trong khuôn khổ, phục tùng tổ chức, quy tắc và chế
độ sinh hoạt chặt chẽ. Tất cả ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành và củng
cố các mối quan hệ với hiện thực xung quanh, với tập thể, với người lớn và
bầu bạn.
Ở lứa tuổi học sinh Tiểu học bằng các hoạt động học tập và giao tiếp với
thầy cô giáo, với người lớn, với bạn bè cùng tuổi mà học sinh tiếp thu lĩnh hội

10




giá các em, hiểu và thông cảm với các hành vi giao tiếp của các em.
Giao tiếp của học sinh tiểu học với nhau có ý nghĩa sống còn với đời
sống tinh thần của chúng. Các em không thể sống thiếu vắng bạn bè. Nhu cầu
giao tiếp của học sinh không được thỏa mãn sẽ dẫn đến sự phát triển không
bình thường cả tâm lí và sinh lí, xã hội trong con người các em.
1.2. Vấn đề phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 5
1.2.1. Khái niệm
1.2.1.1. Năng lực
Theo Weinert - (2001): Năng lực là khả năng và kỹ năng nhận thức vốn
có ở cá nhân hay có thể học được….để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc
sống. Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý
chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách
nhiệm các giải pháp… trong những tình huống thay đổi.
Theo OECD - (2002): Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu
phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong bối cảnh cụ thể.
Theo John Erpenbeck - (1998): Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri
thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là khả năng, hình thành qua trải
nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí.
1.2.1.2. Năng lực giao tiếp
NLGT là khả năng nhận biết mau lẹ những biểu hiện bên ngoài và đoán
biết tâm lý bên trong của con người (với tư cách là đối tượng giao tiếp) đồng
thời biết sử dụng phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ, biết cách định hướng để
điều khiến quá trình giao tiếp đạt một mục đích nhất đích.
NLGT giúp cho quá trình tương tác với cá nhân, tương tác trong nhóm
với tập thể có hiệu quả hơn. Nó giúp cá nhân bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc và tâm
trạng của mình, giúp người khác hiểu rõ mình hơn. Thái độ cảm thông với người
khác cũng góp phần giúp giải quyết vấn đề mà mình gặp phải. Kĩ năng hợp tác



13


+ Cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những
hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người về văn hóa, văn học của
Việt Nam và nước ngoài.
+ Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự
trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của con
người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tập làm văn là phân môn sử dụng tổng hợp các kiến thức của các phân
môn còn lại trong Tiếng Việt. Phân môn Tập làm văn cung cấp cho các em một
số các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết để từ đó sử dụng để làm công cụ giao tiếp.
1.3. Vai trò của phân môn Tập làm văn trong môn Tiếng Việt lớp 5
1.3.1. Mối quan hệ giữa Tập làm văn với các phân môn khác của Tiếng
Việt lớp 5
Phân môn Tập làm văn có mối quan hệ rất chặt chẽ với các phân môn
khác của Tiếng Việt như: tập đọc, luyện từ và câu, chính tả.
Phân môn Tập đọc giúp HS từ chỗ đọc đúng, đọc trôi chảy, diễn cảm đến
chỗ hiểu được nghĩa của từ, ý nghĩa của câu và nội dung của bài.
Phân môn Chính tả: rèn cho HS biết các quy tắc và có thói quen viết các
chữ ghi Tiếng Việt đúng với chuẩn viết đúng chính tả, giúp cho HS có điều
kiện để sử dụng Tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong việc học tập các bộ môn
văn hóa, trong việc viết các văn bản, thư từ.
Phân môn Luyện từ và câu: có vai trò đặc biệt trong hệ thống ngôn ngữ.
Không có một vốn từ đầy đủ thì không thể nắm ngôn ngữ như là phương tiện
giao tiếp. Luyện từ và câu còn phát triển năng lực, trí tuệ, ngôn ngữ, những
phẩm chất đạo đức ở trẻ em. Nó có vai trò hướng dẫn HS nghe nói, đọc, viết.
Phân môn Tập làm văn: là phân môn sử dụng tổng hợp các hiểu biết về
luyện từ và câu, chính tả, khả năng nghe nói tiếng Việt, vốn hiểu biết về đời

Chƣơng 2. NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA PHÂN MÔN
TẬP LÀM VĂN
2.1. Nội dung phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 5 thông qua
môn Tập làm văn
2.1.1. Xác định chủ đề
Chương trình Tiếng Việt ở tiểu học được phân thành các chủ điểm theo
các tuần, mỗi tuần lại có một chủ điểm khác nhau và bao gồm các phân môn
Tập đọc, chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện, Tập làm văn. Vì vậy trước
mỗi tuần học mới GV thường giới thiệu cho HS chủ điểm của tuần để dẫn dắt
HS vào bài mới. Đối với phân môn Tập làm văn cũng vậy, trước mỗi bài học
GV thường yêu cầu HS xác định chủ đề của bài học ngày hôm nay để giúp
HS xác định nội dung của bài, những việc cần làm trong bài, mục tiêu cần đạt
của bài ngày hôm nay. Tránh những trường hợp không xác định được chủ đề
dẫn đến lạc đề.
Quá trình hướng dẫn HS thực hiện các kĩ năng phân tích đề, quan sát,
tìm ý, nói - viết đoạn hoặc bài là những cơ hội giúp HS mở rộng hiểu biết về
cuộc sống theo chủ điểm đang học. Việc xác định, phân tích chủ đề, tìm lí lẽ,
dẫn chứng để thuyết trình tranh luận…không những góp phần phát triển năng
lực phân tích, tổng hợp mà còn tạo điều kiện cho HS phát triển được NLGT.
Ví dụ:
Đề bài ở tuần 4 lớp 5: “Tả cảnh một buổi sáng (hoặc trƣa, chiểu) trong
một vƣờn cây (hay công viên, đƣờng phố, trên cánh đồng, nƣơng rẫy)”
Khi yêu cầu HS xác định trọng tâm của đề bài, GV giúp HS hiểu được rằng
việc viết đúng yêu cầu của đề bài là yếu tố quyết định nội dung của bài viết:
Với đề bài tển HS phải xác định được đúng 3 yêu cầu:

16




+ Các bạn trong lớp tổ chức buổi liên hoan văn nghệ nhằm mục đích gì?
(Nhằm mục đích chúc mừng thầy cô chào nhân ngày Nhà giáo Việt Nam
20 - 11)
+ Để tổ chức buổi liên hoan, cần làm những việc gì? Lớp trưởng đã phân
công như thế nào?
(Để tổ chức buổi liên hoan thì cần làm những việc như chuẩn bị hoa quả,
bánh kẹo, làm báo tường, và một chương trình văn nghệ…)
+ Hãy thuật lại diễn biến của buổi liên hoan (các HS trong nhóm sẽ lần lượt
thuật lại diễn biến của buổi liên hoan cho các bạn nghe theo lời kể của mình)
Qua hoạt động thảo luận nhóm trả lời các câu hỏi của bài tập 1. HS có
thể mở rộng thêm vốn từ ngữ cho đề bài để tiếp tục áp dụng làm bài tập 2.
2.1.3. Xây dựng các kiểu cấu tạo câu
Xây dựng các kiểu câu phù hợp với nội dung chủ đề đã xác định. Việc xây
dựng các kiểu cấu tạo câu giúp cho các em một lần nữa được vận dụng kiến thức
trong phân môn Luyện từ và câu để xây dựng các kiểu cấu tạo câu phong phú, đa
dạng cho bài. Trong một tiết học Tập làm văn HS phải sử dụng rất nhiều các
kiểu cấu tạo câu như: câu đơn, câu ghép, câu khiến, câu cảm thán, câu
hỏi….Việc xây dựng được các kiểu cấu tạo câu này sẽ giúp cho HS vận dụng
được một cách có hiệu quả vào trong các bài làm văn viết hoặc nói. Từ đó giúp
các em viết và nói hay hơn, tạo được ấn tượng với người nghe, người đọc.
Ví dụ:
Bài Tập viết đoạn đối thoại (SGK Tiếng Việt 5, Tập II, trang 85 - 86)
trong hoạt động 2 (bài tập 2) GV tổ chức cho HS thảo luận nhóm viết tiếp một
số lời đối thoại để hoàn chỉnh màn kịch thì trong hoạt động này, HS phải xác
định được các kiểu câu phù hợp với nội dung, nhân vật và phải xác định được
thời điểm sử dụng các kiểu câu sao cho phù hợp để tạo được cho người nghe,
người đọc những ấn tượng.

18

19


điểm; lựa chọn và vận dụng nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức sao
cho phù hợp; đưa ra các mức độ, yêu cầu rèn luyện cơ bản, hợp lí với lứa tuổi
của các em.
2.2.1.2. Đảm bảo việc phát triển năng lực giao tiếp gắn với thực tiễn cuộc
sống của học sinh
Năng lực được hình thành để áp dụng vào thực tiễn cuộc sống. Vì vậy
cần đảm bảo năng lực giao tiếp được rèn luyện cần phải thiết thực, gắn với
thực tiễn cuộc sống của HS. Chỉ gắn liền với cuộc sống hằng ngày và được
thường xuyên rèn luyện thông qua các hoạt động thực tiễn thì năng lực giao
tiếp mới được phát triển một cách bền vững.
Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin, nhận thức, đánh giá và điều
chỉnh hành vi giữa các chủ thể đồng thời tự điều chỉnh hành vi của bản thân,
phương tiện giao tiếp đặc thù là ngôn ngữ. Vì vậy, NLGT không thể được
hình thành chỉ qua việc nghe giảng mà phải thông qua các hoạt động giao tiếp
với người khác. Việc nghe giảng và đọc tài liệu chỉ giúp HS có những hiểu
biết về một vấn đề nào đó, còn trong quá trình HS giao tiếp với các bạn cùng
lớp và những người xung quanh thông qua hoạt động học tập hoặc các hoạt
động xã hội trong nhà trường các em mới có điều kiện luyện tập, hình thành
NLGT. Để HS giao tiếp có hiệu quả trong nhà trường cũng như ngoài xã hội
một cách tự tin thì trong quá trình rèn luyện NLGT cho HS, GV cần tạo môi
trường giao tiếp với bạn bè và môi trường xung quanh, để HS có thể thực
hành những kiến thức GV giảng trên lớp, qua đó hình thành nên các kĩ năng
cho trẻ. Trong quá trình tham gia các hoạt động có tính tương tác, HS có dịp
được thể hiện bản thân, xem xét hành vi, cư xử của người khác và nhìn lại bản
thân theo một cách khác.
Việc phát triển năng lực giao tiếp gắn liền với thực tiến cuộc sống của
HS đóng vai trò rất quan trọng. HS được thực hành, vận dụng kiến thức đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status