TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
----------------------------------
NGUYỄN THỊ NINH
TÌM HIỂU KHẢ NĂNG XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI
CỦA HỌC SINH LỚP 4, 5 THÔNG QUA
CÁC BÀI TẬP LUYỆN TỪ VÀ CÂU
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt
HÀ NỘI - 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
----------------------------------
NGUYỄN THỊ NINH
TÌM HIỂU KHẢ NĂNG XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI
CỦA HỌC SINH LỚP 4, 5 THÔNG QUA
CÁC BÀI TẬP LUYỆN TỪ VÀ CÂU
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THU HƢƠNG
Nguyễn ThịNinh
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu.................................................................................. 4
4. Đối tƣợng và khách thể .............................................................................. 4
5. Phạm vi nghiên cứu.................................................................................... 4
6. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 5
7. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................... 5
8. Cấu trúc đề tài .............................................................................................. .5
PHẦN 2. NỘI DUNG ....................................................................................... 7
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TÌM HIỂUKHẢ NĂNG XÁC
ĐỊNH TỪ LOẠI CỦA HỌC SINH .................................................................. 7
1.1. Từ loại ..................................................................................................... 7
1.1.1. Khái niệm .......................................................................................... 7
1.1.2. Vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt ........................................ 7
1.1.3. Tiêu chí phân định từ loại ................................................................. 8
1.1.3.1.Ý nghĩa ngữ pháp khái quát ......................................................... 8
1.1.3.2. Hình thức ngữ pháp .................................................................... 9
1.1.4. Kết quả phân loại từ loại ................................................................. 10
1.1.4.1. Thực từ ...................................................................................... 11
1.1.4.2. Hƣ từ ......................................................................................... 19
1.1.5. Vị trí, nhiệm vụ của việc dạy học các dạng bài tập về từ loại cho
học sinh lớp 4, 5 ........................................................................................ 23
1.2. Phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học ................................................. 23
1.2.1. Vị trí của phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học ........................... 23
CHƢƠNG 2. KHẢ NĂNG XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI CỦAHỌC SINH VÀ
CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI CHO
HỌC SINH LỚP 4, 5 ...................................................................................... 37
2.1. Khả năng xác định từ loại của học sinh ................................................ 37
2.1.1. Mục đích tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh ............ 37
2.1.2. Đối tƣợng và phạm vi tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học
sinh ............................................................................................................ 37
2.1.2.1. Đối tƣợng .................................................................................. 37
2.1.2.2. Phạm vi ..................................................................................... 37
2.1.3. Nội dung tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh ............ 37
2.1.4. Kết quả tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh lớp 4, 5
thông qua các bài tập Luyện từ và câu ...................................................... 38
2.1.4.1. Dạng 1: xác định từ loại, tiểu loại trong câu, đoạn .................. 38
2.1.4.2. Dạng 2: Tìm từ theo từ loại ...................................................... 39
2.1.4.3. Dạng 3: Điền từ loại vào chỗ trống .......................................... 41
2.1.4.4. Dạng 4: Dùng từ loại đặt câu, viết đoạn ................................... 42
2.1.4.5. Dạng 5: Thay thế danh từ bằng đại từ ...................................... 43
2.1.4.6. Dạng 6: Chữa lỗi sử dụng từ loại.............................................. 45
2.1.5. Nguyên nhân mắc lỗi khi xác định từ loại của học sinh ................. 46
2.2. Các biện pháp nâng cao khả năng xác định từ loại cho học sinh lớp 4, 5 48
2.2.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp nâng cao khả năng xác định từ loại
của học sinh............................................................................................... 48
2.2.2. Một số biện pháp nâng cao khả năng xác định từ loại cho học
sinh lớp 4,5 ................................................................................................ 49
2.2.2.1. Sử dụng phƣơng pháp đàm thoại gợi mở để hình thành kiến
thức về từ loại ........................................................................................ 49
2.2.2.2. Sử dụng phƣơng pháp nêu và giải quyết vấn đề trong dạy học
về từ loại ................................................................................................. 51
Trong môn Tiếng Việt, phân môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ góp
phần cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt bằng con
đƣờng qui nạp và rèn luyện kỹ năng dùng từ đặt câu (nói – viết), bên cạnh đó
còn cung cấp những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con ngƣời, văn
hoá, văn học của Việt Nam và nƣớc ngoài; giúp học sinh bồi dƣỡng tình yêu
tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt;
từ đó hình thành nhân cách và nếp sống văn hoá của con ngƣời Việt Nam.
Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục nhà trƣờng xuất hiện nhƣ
một điều tất yếu, đón bƣớc thiếu nhi cắp sách tới trƣờng. Cả thế giới đang
1
mởtrƣớc mắt các em.Kho tàng văn minh nhân loại đƣợc chuyển giao từ những
điều sơ đẳng nhất.Quá trình giáo dục đƣợc thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, tấtcả
các môn học.
Những điều sơ đẳng nhất đã góp phần rất quan trọng trong việc sử
dụngngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp của học sinh.Ngôn ngữ là thứ công cụ
có tácdụng vô cùng to lớn. Nó có thể diễn tả tất cả những gì con ngƣời nghĩ
ra, nhìnthấy, biết đƣợc những giá trị trừu tƣợng mà các giác quan không thể
vƣơn tớiđƣợc. Các môn học ở Tiểu học có tác dụng hỗ trợ cho nhau nhằm
giáo dục toàndiện học sinh.Luyện từ và câu là phân môn chiếm thời lƣợng
khálớn trong môn Tiếng Việt ở tiểu học.Nó tách thành một phân môn độc lập,
có vị tríngang bằng với phân môn Tập đọc, Tập làm văn... song song tồn tại
với các mônhọc khác. Điều đó thể hiện việc cung cấp vốn từ, đặc biệt là
những kiến thức và kĩ năng xác định, sử dụng từ loại cho học sinh là rất cần
thiết và nócó thể mang tính chất cấp bách nhằm “đầu tƣ” cho học sinh có cơ
sở hình thànhngôn ngữ cho hoạt động giao tiếp cũng nhƣ chiếm lĩnh nguồn tri
thức mới trongcác môn học khác. Tầm quan trọng đó đã đƣợc rèn giũa, luyện
tập nhuần nhuyễntrong quá trình giải quyết các dạng bài tập trong phân môn
Luyện từ và câu lớp 4, 5.
vấn đề:
- Bản chất và các đặc trƣng của từ loại, tiêu chuẩn phân định từ loại.
- Hệ thống các từ loại tiếng Việt.
- Từ loại là các phạm trù của tƣ duy.
Năm 1999, tác giả Lê Biên trong cuốn Từ điển tiếng Việt hiện đại, Nhà
xuất bản Giáo dục nghiên cứu các vấn đề: Khái niệm về từ loại; đối tƣợng,
tiêu chí, mục đích phân định từ loại. Đặc biệt, tác giả đi sâu tìm hiểu hệ thống
từ loại cơ bản, ranh giới giữa từ loại cơ bản với từ loại không cơ bản.
Đến năm 2004, trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo
Dục, khi nghiên cứu về từ loại tiếng Việt, Diệp Quang Ban đã đƣa ra ba tiêu
chuẩn để phân định từ loại tiếng Việt: Ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp,
3
chức vụ cú pháp. Ngoài ra, khi bàn về vấn đề các lớp từ tiếng Việt, tác giả
phân thành hai lớp lớn: Thực từ và hƣ từ. Trong đó, tác giả tập trung nghiên
cứu ba từ loại thuộc lớp thực từ: danh từ, động từ, tính từ.
Và gần với đề tải của chúng tôi nghiên cứu là cuốn Ngữ pháp tiếng
Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006, tác giả Diệp Quang Ban – Hoàng Văn
Thung đã dành ra một chƣơng nghiên cứu về từ loại tiếng Việt với trọng tâm
là tiêu chuẩn phân định từ loại và hệ thống từ loại tiếng Việt. Theo tác giả, hệ
thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm:
Nhóm 1: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ.
Nhóm 2: phụ từ (định từ, phó từ), kết từ, tiểu từ (trợ từ và tình thái từ).
Đồng thời, tác giả có sự lý giải cho các sắp xếp trên.
Những cuốn sách trên chỉ viết trên cơ sở lí luận mà không đƣợc thực
nghiệm ở trƣờng Tiểu học. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của việc gắn lý
thuyết với thực tiễn, gắn việc tiếp thu tri thức và thực hành tri thức, chúng tôi
mạnh dạn tiến hành điêu tra thực nghiệm về khả năng xác định từ loại của học
sinh Tiểu học. Từ đó có cơ sở đề ra biện pháp tổ chức dạy học phù hợp nhằm
- Phƣơng pháp quan sát sƣ phạm: Dự giờ, quan sát hoạt động của giáo
viên, học sinh để tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh.
- Phƣơng pháp đàm thoại: Trò chuyện với giáo viên và học sinh để tìm
hiểu khả năng xác định từ loại và những khó khăn trong quá trình xác định từ
loại của học sinh.
- Phƣơng pháp điều tra giáo dục: Tiến hành điều tra bằng phiếu bài tập
đối với học sinh nhằm thu thập những thông tin về khả năng xác định từ loại
của học sinh.
- Phƣơng pháp thống kê toán học: Dùng phƣơng pháp thống kê số liệu
để từ đó rút ra những đánh giá cần thiết.
8. Cấu trúc đề tài
Đề tài đƣợc cấu trúc gồm 2 chƣơng:
5
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của việc tìm hiểu khả năng xác định từ loại của
học sinh.
Chƣơng 2: Khả năng xác định từ loại của học sinh và các biện pháp
nâng cao khả năng xác định từ loại cho học sinh lớp 4, 5.
6
PHẦN 2. NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TÌM HIỂU
KHẢ NĂNG XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI CỦA HỌC SINH
1.1. Từ loại
1.1.1. Khái niệm
Từ loại là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp đƣợc phân chia theo
1.1.3.1.Ý nghĩa ngữ pháp khái quát
Ý nghĩa ngữ pháp khái quát của từ bao gồm các nét nghĩa liên quan đến
từ vựng (ý nghĩa từ vựng khái quát) và các nét nghĩa liên quan đến ý nghĩa
ngữ pháp (ý nghĩa tình thái, ý nghĩa quan hệ).
Ý nghĩa ngữ pháp khái quát là loại ý nghĩa phạm trù có mức độ khái
quát cao, do đó là ý nghĩa chung cho các từ thuộc cùng từ loại. Ví dụ: các từ
ăn, chạy, đánh, đào, viết, mua có ý nghĩa khái quát chung là chỉ hoạt động;
các từ tốt, đẹp, tối, thẳng, cao, thơm có ý nghĩa khái quát chung là chỉ tính
chất, đặc điểm.
Trong một phạm trù ý nghĩa lại có các ý nghĩa khái quát ở mức độ thấp
hơn.Các ý nghĩa khái quát thấp hơn này là tiêu chí để phân chia một từ loại
thành các tiểu loại.
Ý nghĩa khái quát là một tiêu chí quan trọng và ý nghĩa ngữ pháp của từ
chi phối những đặc điểm trong hoạt động ngữ pháp của từ. Nhƣng nếu chỉ căn
cứ vào ý nghĩa khái quát thì không thấy đƣợc những đặc điểm khác biệt của
từ loại trong các ngôn ngữ khác nhau, trong các loại hình ngôn ngữ khác
nhau, không thấy đƣợc sự thống nhất giữa ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ
pháp, chức năng ngữ pháp của từ.Vả lại, việc phân định từ loại chỉ dựa trên
tiêu chí ý nghĩa sẽ không có tác dụng tích cực đối với thực tiễn sử dụng khi
8
đƣa từ vào hoạt động giao tiếp (nói, viết).Vì thế ngoài tiêu chí về ý nghĩa khái
quát, cần phải sử dụng các tiêu chí về hình thức ngữ pháp.
1.1.3.2. Hình thức ngữ pháp
Hình thức ngữ pháp của từ tiếng Việt không bộc lộ trong bản thân từ
mà bộc lộ trong hoạt động cấu tạo các đơn vị lớn hơn: cụm từ và câu. Vì vậy,
để xem xét các phƣơng diện hình thức ngữ pháp của tiếng Việt, cần dựa vào
Có thể phân biệt các từ có thể đảm nhiệm vai trò thành phần chính
(danh từ, động từ, tính từ, đại từ) và các từ thƣờng đảm nhiệm vai trò thành
phần phụ (số từ, phụ từ), hoặc chỉ đảm nhiệm vai trò kết nối các thành phần
trong câu (quan hệ từ).Ngoài ra, còn có các từ không đảm nhiệm vai trò cấu
tạo một thành phần nào trong cấu trúc ngữ pháp cơ bản của câu, mà chỉ thể
hiện ý nghĩa tình thái (tình thái từ, trợ từ, thán từ).
1.1.4. Kết quả phân loại từ loại
Nhìn một cách tổng quát, các từ của tiếng Việt trƣớc hết đƣợc phân biệt
theo các đặc điểm về ý nghĩa và các đặc điểm về hình thức trong hoạt động
ngữ pháp thành hai phạm trù hớn là thực từ và hƣ từ.
Thực từ có nghĩa từ vựng thực, thƣờng gắn với chức năng tri nhận và
định danh các đối tƣợng của hiện thực; có khả năng đảm nhiệm vai trò các
thành tố chính và cả vai trò các thành tố phụ trong cấu tạo cụm từ và của câu;
có thể độc lập tạo câu đặc biệt.
Hƣ từ cũng có nghĩa nhƣng ý nghĩa của hƣ từ không thể liên hệ với một
đối tƣợng nào trong thực tế, do đó hƣ từ không thể thực hiện chức năng định
danh.Hƣ từ chỉ có ý nghĩa ngữ pháp hoặc ý nghĩa tình thái và không thể đảm
nhiệm đƣợc vai trò thành tố chính trong cấu tạo của cụm từ và câu. Nó chỉ có
thể đi kèm với các từ để làm thành tố phụ bổ sung ý nghĩa nào đó cho thực từ;
biểu thị quan hệ giữa các từ, cụm từ, các câu; làm dấu hiệu cho các ý nghĩa
tình thái.
10
Cả thực từ và hƣ từ đều cần thiết và không thể thiếu đối với hoạt động
ngôn ngữ, nhất là đối với ngôn ngữ dùng hƣ từ là một trong những phƣơng
thức ngữ pháp chủ yếu của tiếng Việt.
1.1.4.1. Thực từ
Danh từ tổng hợp
Danh từ tổng hợp chỉ gộp các sự vật khác nhau nhƣng gần gũi với
nhau, thƣờng đi đôi với nhau và hợp thành một loại sự vật. Ví dụ: nhà cửa, xe
cộ, máy móc, quần áo,…
Danh từ tổng hợp không kết hợp trực tiếp với các số từ (chính xác),
không kết hợp với danh từ chỉ đơn vị cá thể (con, cái, chiếc,…) nhƣng có khả
năng kết hợp với các phụ từ chỉ tổng thể ( tất cả, cả, toàn thể, hết thảy,…) và
các danh từ chỉ đơn vị tổng thể (bọn, bộ, đoàn, tốp, đống,…). Ví dụ: không
nói ba quần áo, bốn nhà cửa, cái quần áo, ngôi nhà cửa,… mà có thể nói tất
cả quần áo, chồng sách vở, toán binh lính,…
Về cấu tạo, danh từ tổng hợp thƣờng có cấu tạo theo kiểu từ ghép đẳng
lập, có thể có tiếng mờ nghĩa ( ví dụ: đất nước, quần áo, xe cộ,…)
Danh từ không tổng hợp
Trong các danh từ không tổng hợp lại có những phƣơng diện đối lập
khác, dựa vào đó có sự tách biệt các tiểu loại là danh từ trừu tƣợng và danh từ
cụ thể.
- Danh từ trừu tƣợng
Danh từ trừu tƣợng chỉ các khái niệm trừu tƣợng thuộc phạm trù tinh
thần. Ví dụ: niềm vui, nỗi buồn, cái đẹp, tư tưởng, đạo đức,… Chúng có thể
kết hợp trực tiếp đƣợc với các từ có ý nghĩa số lƣợng (một nỗi buồn, những
phương pháp, vài vấn đề,…). Đôi khi giữa từ chỉ lƣợng và danh từ trừu tƣợng
có thể có một danh từ chỉ đơn vị (một nền đạo đức, những nỗi tâm tư, những
luồng suy nghĩ,…)
- Danh từ cụ thể
12
Danh từ cụ thể là các danh từ chỉ sự vật cụ thể. Trong nội bộ danh từ cụ
thể lại có thể phân thành các tiểu loại nhƣ sau:
Danh từ chỉ đơn vị: Là danh từ chỉ các đơn vị sự vật. Chúng kết hợp
thành kết hợp trực tiếp với số từ).
+ Danh từ chỉ chất liệu: Là danh từ chỉ các chất nhƣ sắt, thép, dầu, cát,
mỡ,… Khi cần tính đếm, danh từ chỉ chất liệu có thể kết hợp với từ chỉ số
lƣợng thông qua danh từ chỉ đơn vị quy ƣớc (chính xác hoặc không chính
xác). Ví dụ: một lít nước, một cân đường, một ngụm nước,…
b. Động từ
Cũng nhƣ danh từ, động từ là loại từ cơ bản trong hệ thống từ loại tiếng
Việt. Động từ có ý nghĩa khái quát là chỉ hoạt động, trạng thái, tình cảm hay
quan hệ, nói chung là chỉ những dạng thức vận động, biến chuyển của sự vật
về vật lí, tâm lí, sinh lí, nhƣ: nấu, làm, nhảy, chạy,…
Động từ có khả năng kết hợp với các phụ từ ở phía trƣớc nó.Chức năng
tiêu biểu nhất của động từ là là vị ngữ. Ngoài ra, động từ có thể làm bổ ngữ,
định ngữ, đôi khi động từ đảm nhiệm chức năng chủ ngữ, trạng ngữ.
Căn cứ vào khả năng hoạt động độc lập và ý nghĩa khái quát của từ,
động từ đƣợc chia thành các tiểu loại sau:
b1.Động từ không độc lập
Động từ không độc lập là những động từ thƣờng không đứng một mình
đảm nhiệm vai trò ngữ pháp trong câu, mà phải đi cùng với một từ khác hoặc
một cụm từ đi sau làm thành tố phụ. Tính chất không độc lập của các động từ
nhóm này chỉ mang tính chất tƣơng đối. Trong điều kiện về ngữ cảnh và căn
cảnh nhất định, động từ không độc lập vẫn có thể đƣợc dùng một mình làm
thành phần câu.
Có thể chia các động từ không độc lập thành các nhóm chủ yếu sau:
Nhóm động từ tình thái:
- Động từ chỉ sự cần thiết: phải, cần, nên,…
- Động từ chỉ khả năng: có thể, không thể, chẳng thể, chưa thể,…
14
- Động từ chỉ ý chí: định, toan, dám, quyết, nỡ,…
sau đây:
- Nhóm động từ tác động: đóng, xé, nấu, phá,…
- Nhóm động từ chỉ sự di chuyển đối tƣợng trong không gian: kéo, ném,
lôi,…
- Nhóm động từ chỉ hoạt động phát nhận: tặng, trả, vay, mượn, biếu,…
- Nhóm động từ chỉ hoạt động nối kết các đối tƣợng: buộc, nối, hòa,
trộn, pha, liên kết,…
- Nhóm động từ chỉ hoạt động cầu khiến, gây khiến: bắt, nhờ, sai,
khiến, đề nghị, yêu cầu,…
- Nhóm động từ chỉ hoạt động đánh giá đối tƣợng: gọi, lấy, coi, bầu,
cử, chọn,…
- Nhóm động từ chỉ hoạt động cảm giác, tri giác, nhận thức, nói năng:
biết, nghĩ, thấy, phát biểu,…
Ranh giới các tiểu nhóm động từ nhƣ vừa nêu cũng chỉ mang tính
tƣơng đối. Trong hoạt động, động từ có thể chuyển tiểu loại, chuyển nhóm,
khi đó ý nghĩa và khả năng chi phối thành tố phụ của động từ thay đổi.
c. Tính từ
Tính từ là những từ chỉ tính chất, đặc điểm của sự vật, của hoạt động,
trạng thái; có khả năng kết hợp với các phụ từ tƣơng tự nhƣ động từ.Tuy
nhiên, tính từ ít kết hợp với phụ từ câu khiến, phần lớn tính từ dễ kết hợp với
phụ từ chỉ mức độ.
Giống nhƣ động từ, tính từ có thể làm vị ngữ trực tiếp. Ngoài ra, tính từ
còn có thể đảm nhiệm các chức năng ngữ pháp khác trong câu: bổ ngữ, định
ngữ, chủ ngữ, trạng ngữ.
c1. Căn cứ vào ý nghĩa khái quát, có thể phân biệt hai loại tính từ
Những tính từ biểu hiện các đặc điểm về chất
16