ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂNVIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN XÃ HỘI HỌC
NGUYỄN VĂN CHIẾN TÌM HIỂU KHẢ NĂNG TIẾP CẬN GIÁO DỤC
CỦA HỌC SINH CUỐI TIỂU HỌC Ở KHU VỰC
MIỀN NÚI PHÍA BẮC TÓM TẮT
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 603130
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Trịnh Hòa Bình
Hà Nội - 2009
- 2 -
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
CÁC BẢNG, HÌNH, HỘP 4
MỞ ĐẦU 7
1. Tính cấp thiết của đề tài 7
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
3. Đối tượng nghiên cứu, khách thể và phạm vi nghiên cứu 17
4. Mục tiêu nghiên cứu 17
5. Giả thuyết nghiên cứu 17
6. Phương pháp nghiên cứu 18
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 20
1. Kết luận 109
2. Khuyến nghị 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
- 4 -
CÁC BẢNG, HÌNH, HỘP CÁC BẢNG
Bảng 1. Thời gian từ nhà tới trường theo thành phần dân tộc 37
Bảng 2: Tương quan đơn một số yếu tố với tình trạng nghỉ học của học sinh 39
Bảng 3: Số ngày nghỉ theo khu vực trường đóng (%) 40
Bảng 4: Số ngày nghỉ học theo giới tính và thành phần dân tộc 41
Bảng 5: Mong muốn tiếp tục vào lớp 6 theo nhóm dân tộc và khu vực (%) 43
Bảng 6: Tỷ lệ học sinh có các đồ dùng phục vụ học tập tại nhà theo thành phần dân
tộc và vị trí trường đóng 45
Bảng 7: Tỷ lệ học sinh có các đồ dùng phục vụ học tập theo thành phần dân tộc và
vị trí trường đóng 46
Bảng 8: Sách giáo khoa môn Toán và Tiếng Việt đang sử dụng (%) 48
Bảng 9: Tỷ lệ có góc học tập theo nhóm dân tộc, giới tính và vùng miền 49
Bảng 10: Tỷ lệ được trang bị cơ sở vật chất theo khu vực trường đóng (%) 51
Bảng 11: Buổi học ở trường theo khu vực và thành phần dân tộc (%) 55
Bảng 12: Thời gian học ở nhà theo một số đặc điểm (%) 56
Bảng 13: Các hình thức học tập trên lớp (%) 57
Bảng 14. Tỉ lệ học sinh đi học thêm các môn học (%) 58
Bảng 15: Tỷ lệ học sinh phân theo chuẩn chức năng theo thành phần dân tộc 69
Bảng 16: Tỉ lệ học sinh lớp 5 học ở trường hưởng dự án trong từng Dự án 60
Bảng 17: Tỉ lệ học sinh lớp 5 hưởng từng dự án ở mỗi vùng 61
Bảng 18: Tỷ lệ học sinh lớp 5 ở các trường hưởng dự án, theo vị trí trường đóng 62
Bảng 19: Tỉ lệ học sinh ở từng mức điều kiện kinh tế xã hội hưởng 62
Hình 9: Tỷ lệ có góc học tập theo khu vực trường đóng (%) 49
Hình 10: Cơ sở vật chất hiện có của nhà trường 50
Hình 11: Các nguồn nước mà nhà trường đang sử dụng 52
Hình 12: Thời lượng số buổi học ở trường (%) 54
Hình 13: Thời gian học bài ở nhà 56
Hình 14: Tỷ lệ học sinh phân theo chuẩn chức năng môn Tiếng Việt theo vùng 67
Hình: Tỷ lệ học sinh phân theo chuẩn chức năng môn Toán theo vùng 67
Hình 15: Tỷ lệ theo chuẩn chức năng và mức độ nói tiếng Việt ở nhà 68
Hình 16: Tỷ lệ theo chuẩn chức năng theo giới tính môn Toán và Tiếng Việt 69
Hình 17: Kết quả học tập của học sinh theo các nội dung so sánh giữa các vùng 70
Hình 18: Tỷ lệ hưởng dự án/chương trình ở điểm trường phụ và điểm trường chính64
Hình 19: Mức độ bao phủ trợ cấp theo cấp học 65
Hình 20: Học vấn của bố và mức độ giảng bài ở nhà (%) 73
Hình 21: Thành phần dân tộc chính của gia đình và mức độ giảng bài (%) 73
Hình 22: Mức độ quan tâm đến việc học và số ngày nghỉ (%) 74
Hình 23: Tỷ lệ có góc học tập và kết quả học tập theo chuẩn chức năng 75
hai môn Toán và Ngữ văn 75
Hình 24: Tỷ lệ có góc học tập và trình độ học vấn của bố 79
Hình 25: Học vấn của bố với thời gian học của con tại nhà 80
Hình 26: Nghề nghiệp của cha mẹ và mua sách cho con cái (%) 83
Hình 27: Tỷ lệ học sinh đạt chuẩn chức năng môn Toán và tiếng Việt theo giới tính
giáo viên 89
Hình 28: Quan hệ giữa số năm kinh nghiệm dạy tiểu học với kết quả học tập 89
- 6 -
Hình 29: Quan hệ giữa số năm kinh nghiệm dạy lớp 5 với kết quả học tập 90
Hình 30: Tỷ lệ đạt chuẩn với số lần tổ chức họp phụ huynh học sinh 91
Hình 31: Tỷ lệ đạt chuẩn với việc công nhận giáo viên dạy giỏi 92
Hình 32: Tỷ lệ học sinh đạt chuẩn và giới tính của hiệu trưởng 95
Hình 33: Tỷ lệ đạt chuẩn và hiệu trưởng là giáo viên 96
Hình 34: Số lượng phòng học và kết quả học tập hai môn của học sinh 97
pháp lý nhằm điều chỉnh các hoạt động liên quan đến trẻ em trong gia đình,
nhà trường và toàn xã hội.
Bên cạnh việc thực hiện quyền được giáo dục cho trẻ em, các nghiên cứu
tâm lý - giáo dục, xã hội học, kinh tế học giáo dục đã chỉ ra rằng, giáo dục tiểu
học có vai trò giúp trẻ em học được những kỹ năng cơ bản về ngôn ngữ, khả
năng tính toán để có thể thành công hơn trong các trình độ giáo dục về sau. Học
sinh tiểu học cũng có được những kiến thức nền tảng về khoa học, xã hội, nghệ
thuật, âm nhạc, vật lý, kỹ thuật và các ngôn ngữ. Để có thể thành công trong các
bậc học cao hơn phải có những trải nghiệm tốt trong giáo dục tiểu học. Đây là
cách thức duy nhất để cha mẹ thực hiện vai trò giúp các em thành công hơn với
sự hỗ trợ về nguồn lực và cách thức học tập tại trường [35, pg.61]. Hơn nữa, các
nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, giá trị và vai trò của tri thức có thể khác nhau ở các
nền văn hóa, nhưng một nền giáo dục cơ bản tốt thì có tầm quan trọng đặc biệt ở
mọi nền văn hóa và các cấp độ giáo dục. Đầu tư cho giáo dục cơ bản (bậc tiểu
học) là đầu tư cho sự tăng trưởng của quốc gia [42]. Như vậy, vai trò của giáo
- 8 -
dục tiểu học là rất quan trọng. Vậy trong thực tế, việc tiếp cận với hệ thống giáo
dục cơ bản này của trẻ em như thế nào là một vấn đề đang đặt ra với nhiều quốc
gia trên thế giới, đặc biệt khi những điều kiện kinh tế - xã hội còn chưa đảm bảo
nhu cầu cơ bản của người dân.
Việt Nam có khoảng 15000 trường tiểu học với trên 10 triệu học sinh,
trong đó học sinh lớp 5 khoảng 1.9 triệu. Tỷ lệ học sinh tiểu học nhập học
đúng độ tuổi đã tăng từ 90% trong thập niên 1990 lên gần 98% trong năm học
2004 - 2005. Nếu như năm học 1997-1998, tỷ lệ học sinh hoàn thành bậc tiểu
học đạt 68% thì đến năm học 2004-2005, tỷ lệ này đã đạt từ 99%. Việt Nam
được đánh giá là có tiến bộ nhanh hơn so với phần lớn các nước có thu nhập
thấp khác trên thế giới trong việc khắc phục những sự chênh lệch về giới và
về tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi và có khả năng hoàn thành Mục tiêu thiên niên
kỷ về phổ cập giáo dục tiểu học trước năm 2015. Một trong những nguyên
nhân của những thành công đó là việc Ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo
toàn xã hội. Vậy thực trạng tình hình và đâu là những nhân tố ảnh hưởng đến
khả năng tiếp cận giáo dục của học sinh cuối bậc tiểu học khu vực miền núi
phía Bắc? Đây chính là vấn đề đặt ra cho đề tài làm rõ, và qua đó đề xuất
những khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của
trẻ em ở khu vực này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tiếp cận giáo dục là một trong những chỉ số quan trọng đánh giá trình
độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, đồng thời đây cũng là một
trong ba tiêu chí trong chỉ số phát triển con người. Vì vậy, trong các nghiên
cứu xã hội đã có ít nhiều các công trình đề cập đến ở các cách tiếp cận khác
nhau.
a) Những nghiên cứu trong nước
1) Bài nghiên cứu “Một số vấn đề xã hội trong giáo dục phổ thông ở
đô thị hiện nay – Qua khảo sát tại Nam Định, Hải Phòng và Đà Nẵng” của
GS.TS Trịnh Duy Luân thực hiện năm 2005 đăng trên Tạp chí Xã hội học số
3 năm 2005 đã đề cập đến khả năng tiếp cận giáo dục phổ thông (cơ bản) ở
một số đô thị Việt Nam qua các tiếp cận xã hội học. Những kết quả nghiên
cứu đã chỉ ra rằng, các nguyên nhân kinh tế, nghèo đói có tác động đến khả
năng tiếp cận của trẻ em. Cụ thể, những trẻ em có điều kiện kinh tế nghèo ít
có cơ hội hơn trong việc tiếp cận với giáo dục nhất là ở bậc học cao. Bên cạnh
- 10 -
đó, tác giả đã chỉ ra một số khía cạnh liên quan đến tiếp cận giáo dục như các
chính sách hỗ trợ học phí, vấn đề thủ tục đăng ký, các khoản chi phí, đóng
góp, vấn đề học thêm của các gia đình ở đô thị. Qua nghiên cứu này có thể
thấy rằng, khả năng/cơ hội tiếp cận giáo dục là một vấn đề xã hội rất đáng
quan tâm ở cả nông thôn, thành thị và miền núi bởi giáo dục có quan hệ mật
thiết với vấn đề kinh tế, nghèo đói và các vấn đề xã hội khác. Mặc dù nghiên
cứu của trên chỉ tập trung vào khu vực đô thị ở một số tỉnh và nội dung
nghiên cứu khá rộng “một số vấn đề xã hội trong giáo dục” trong phạm vi một
đề tài lớn liên quan đến nhiều dịch vụ xã hội ở đô thị khác như y tế, hành
nhóm dân tộc thiểu số mà không nghiên cứu trên một diện rộng với nhiều đối
tượng khác nhau thuộc các nhóm khác nhau. Phương pháp nghiên cứu định
tính được lựa chọn ưu tiên so với các phương pháp khác có vẻ như phù hợp
với khách thể và bối cảnh nghiên cứu.
3) Đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế - xã hội
đến khả năng tiếp cận giáo dục của nhóm xã hội ở nông thôn” do chính tác
giả luận văn thực hiện trong 2 năm 2008 – 2009 trong khuôn khổ hệ thống đề
tài nghiên cứu khoa học của Viện Khoa học Giáo dục Việt nam. Trong nghiên
cứu này, tác giả bước đầu tìm hiểu và làm rõ một số nhân tố kinh tế - xã hội
và khả năng lượng hóa trong mối quan hệ với khả năng tiếp cận giáo dục của
nhóm xã hội ở nông thôn. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong mối quan hệ với
nhóm xã hội thành thị (được lấy làm đối chứng), nhóm xã hội nông thôn gặp
nhiều khó khăn trong tiếp cận giáo dục và chịu nhiều ảnh hưởng bởi các nhân
tố kinh tế - xã hội. Đây là một nghiên cứu sử dụng chủ yếu là phân tích số liệu
thứ cấp từ các nghiên cứu trước đó về vấn đề giáo dục ở nông thôn. Tiếp cận
giáo dục trong nghiên cứu này được nghiên cứu theo hệ thống từ giáo dục tiểu
học đến giáo dục đại học và nghề nghiệp của nhóm xã hội ở nông thôn.
Những kết quả có được từ nghiên cứu này đã ít nhiều cung cấp cho tác giả
những ý tưởng, cách nhìn trong luận văn này về một chủ đề chung là “khả
- 12 -
năng tiếp cận giáo dục” nhưng trong một nghiên cứu “cắt ngang” (chỉ chọn
học sinh một khối/lớp 5 ở khu vực miền núi phía Bắc.
4) Báo cáo nghiên cứu “Tình hình học sinh phổ thông bỏ học ở Hà
Giang, Nghệ An, ĐăkLắc, Trà Vinh: Thực trạng và những giải pháp khắc
phục” do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thực hiện năm 2008 (tác giả là
thành viên nhóm nghiên cứu). Xuất phát từ thực tiễn học sinh bỏ học ở các
vùng nông thôn, miền núi và vùng khó khăn về kinh tế - xã hội ngày càng gia
tăng, nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng, tìm hiểu các
nguyên nhân chủ yếu và trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế
tình trạng bỏ học của học sinh phổ thông. Nghiên cứu được xây dựng trên cơ
vấn đề quan trọng trong báo cáo. Thứ nhất là, mức độ ảnh hưởng của thu nhập
hộ gia đình đến khả năng đi học của học sinh và giả định nếu những trẻ em
nghèo không có điều kiện đi học thì nguy cơ vòng đói nghèo luẩn quẩn sẽ tiếp
diễn từ thế hệ này sang thế hệ khác. Thứ hai là, phải chăng học phí trong thập
kỷ qua tăng nhanh đã hạn chế việc đi học của học sinh. Thứ ba là, liệu có sự
phân biệt giới tính trong việc cho con em đến trường không trong bối cảnh
Việt Nam đã có cam kết về quyền bình đẳng giới và nó phản ánh như thế nào
trong vấn đề học sinh bỏ học. Những kết quả phân tích cho thấy những bằng
chứng khẳng định thu nhập có vai trò quan trọng. Trong số những người tuổi
từ 12 đến 20 thuộc nhóm nghèo nhất, có đến 43% đã bỏ học, trong khi đó chỉ
có 18% số người cùng độ tuổi ở nhóm giàu nhất bỏ học. Và chi phí đi học
tăng trung bình 10% trong khi các yếu tố khác không đổi thì tỷ lệ bỏ học
khoảng 1% và cho thấy một vấn đề chi phí tăng cao một mặt sẽ góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục, song cũng đánh đổi bằng một số học sinh sẽ bỏ
học. Và, cuối cùng yếu tố giới tính có ý nghĩa về mặt thống kê khi được đưa
vào phân tích tình trạng đi học và bỏ học. Khoảng 10 năm kể từ khi nghiên
cứu được tiến hành và đưa ra những bằng chứng dựa trên các giả thuyết và
kiểm định trong thống kê cho tới nay liệu còn đúng hay không khi mà các
điều kiện kinh tế, chính sách giáo dục đã có những thay đổi? Mặc dù trong
- 14 -
luận văn này, các giả thuyết nói trên không thể được kiểm định lại một cách
đầy đủ bởi có những hạn chế về mặt số liệu, song những kết quả của nghiên
cứu này như là một gợi ý cho quá trình đi sâu phân tích để chỉ ra được những
yếu tố nào ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận của học sinh khu vực miền núi
phía Bắc trong thời điểm khảo sát được tiến hành.
b) Những nghiên cứu ngoài nước
1) Báo cáo có tựa đề “Ảnh hưởng của bối cảnh đến thành tích học
tập ở trường tiểu học: mối tương tác giữa trẻ em, gia đình và bối cảnh nhà
trường”. Đây là một trong nhiều nghiện cứu do Trung tâm nghiên cứu về lợi ích
của giáo dục, thuộc Viện nghiên cứu giáo dục Luân Đôn thực hiện. Nghiên cứu
Senegal năm 2003. Nghiên cứu sử dụng mô hình phân tích hồi quy đa biến để
đánh giá mức độ ảnh hưởng bởi hoàn cảnh gia đình đến việc đi học của trẻ em
trong độ tuổi từ 10 đến 21 ở quốc gia này. Các đặc điểm về gia đình được sử
dụng để phân tích bao gồm học vấn của cha mẹ, tình trạng sức khỏe, số con
trong gia đình, nơi sinh sống, quy mô hộ gia đình Kết quả chỉ ra rằng, cứ tăng
một đơn vị năm học vấn của cha mẹ thì có khả năng tăng 3% tỷ lệ đi học của trẻ
em trong gia đình, trong khi đối với 1 năm tăng của mẹ thì có 2% tỷ lệ đi học.
Đối với cấp độ học, nghiên cứu chỉ ra rằng, cứ tăng một đơn vị học vấn của
người cha thì có thể tăng 27% cấp học đạt được đối với con cái (trường hợp với
mẹ chỉ là 18%). Ngoài ra quy mô hộ gia đình càng lớn thì khả năng và cơ hội
học tập của trẻ em bị giảm đi. Nghiên cứu kết luận rằng, sự khác biệt giữa những
trẻ em có hoàn cảnh gia đình khác nhau dẫn đến cơ hội học tập và khả năng đạt
được các bậc học cao hơn cũng khác nhau. Nghiên cứu cho rằng các chính sách
phát triển kinh tế sẽ giúp giảm sự bất bình đẳng. Trong ngắn hạn, các chính sách
phân phối lại sẽ là một công cụ hiệu quả. Về lâu dài, tác động của những chính
sách này dường như là nhờ vào vai trò của giáo dục trong việc định hình sự ưu
tiên. Đây là một nghiên cứu sử dụng công cụ mô hình hồi quy để phân tích tác
động của các nhân tố gia đình. Tuy nhiên, các nhân tố khác như nhà trường
- 16 -
không được đưa vào để so sánh. Hơn nữa, nghiên cứu mới chỉ nói đến tác
động của các nhân tố hoàn cảnh gia đình đến khả năng được đi học và tăng
thêm số năm học chứ chưa đề cập đến kết quả/thành tích học tập.
3) Báo cáo “Tiếp cận giáo dục tiểu học” là một phần trong hệ thống
báo cáo về tình trạng trẻ em toàn cầu được thực hiện bởi các chuyên gia của
Chương trình lao động trẻ em quốc tế và được xuất bản bởi Cục Lao động
quốc tế, Bộ Lao động của Mỹ trên cơ sở nghiên cứu và so sánh 16 quốc gia
trên thế giới về tình hình giáo dục của trẻ em. Chủ yếu trẻ em trong độ tuổi từ
6 đến 15 là đối tượng của nghiên cứu này hướng đến. Trong nhiều nội dung
đề cập đến trong báo cáo, có phần “các rào cản tiếp cận giáo dục” của trẻ em
ở các nước được nghiên cứu. Các vấn đề như lao động sớm ở trẻ em ở nhiều
3.2. Khách thể và phạm vi nghiên cứu
Học sinh cuối bậc tiểu học, giáo viên, cán bộ quản lý các trường tiểu
học ở miền núi phía Bắc;
Đề tài giới hạn nghiên cứu học sinh đang học lớp 5 tại các trường tiểu
học thuộc khu vực miền núi phía Bắc.
4. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng khả năng tiếp cận giáo dục của học sinh cuối tiểu
học ở miền núi phía Bắc.
Xác định những nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận giáo
dục từ phía gia đình, nhà trường, và nguyên nhân khác.
Khuyến nghị giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của học
sinh khu vực này.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Học sinh cuối tiểu học ở miền núi phía Bắc hiện nay còn gặp nhiều khó
khăn trong tiếp cận giáo dục so với các vùng miền khác trong cả nước: đến
trường, tiếp thu kiến thức, đồ dùng học tập, điều kiện học tập tại gia đình và
nhà trường…
- 18 -
Vai trò của gia đình trong việc giúp đỡ con cái học tập ở miền núi phía
Bắc còn nhiều hạn chế, đặc biệt ở những vùng sâu, vùng xa do những điều
kiện về kinh tế, học vấn, nghề nghiệp của cha mẹ chi phối.
Khả năng tiếp cận giáo dục của học sinh cuối tiểu học ở miền núi phía
Bắc chịu sự ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, trong đó nhân tố thuộc về hoàn cảnh
gia đình và nhà trường có ý nghĩa quan trọng bên cạnh các yếu tố về địa lý,
phong tục tập quán.
6. Phương pháp nghiên cứu
Hồi cứu tư liệu: nhằm mục đích phân tích, đánh giá đối với các nghiên
cứu liên quan đến chủ đề của luận văn về mặt lý thuyết, phương pháp luận, kỹ
thuật và các câu hỏi nghiên cứu đã được giải quyết hoăc các vấn đề cần tiếp tục
nghiên cứu. Một số nội dung nghiên cứu mà luận văn đề cập tới vừa nhằm kiểm
5.100
4 Tây Nguyên 340
5.1002
Bộ dữ liệu về học sinh được sử dụng phân tích chủ yếu trong luận văn, bên cạnh đó một số thông tin sẽ
được bổ sung từ các bộ dữ liệu khác và có chú thích nhằm đảm bảo độ chính xác và phân biệt giữa các cơ sở
dữ liệu khác nhau.
- 19 -
5 Bắc Trung Bộ 400
6.000
6 Đông Nam Bộ 410
6.150
7 Đồng bằng sông Hồng 640
9.600
8 Đồng bằng sông Cửu Long 830
12.450
Tổng cả nước 4.000
4 Tiểu học Phú Cường Tân Lạc Hòa Bình
5 Tiểu học Hồng Tiến Phổ Yên Thái Nguyên
6 Tiểu học Đồng Văn 2 Đồng Văn Hà Giang
- 20 -
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận
- Góp phần vào các nghiên cứu về xã hội học giáo dục, trong đó có nội
dung liên quan đến khả năng tiếp cận, cơ hội giáo dục
- Vận dung các lý thuyết xã hội học vào giải thích thực trạng tiếp cận
giáo dục, các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận giáo dục của học sinh
cuối tiểu học ở miền núi phía Bắc
Ý nghĩa thực tiễn
- Góp phần lý giải thực trạng giáo dục tiểu học Việt Nam - ở một khía
cạnh quyền và khả năng tiếp cận giáo dục của học sinh cuối tiểu học;
- Đề xuất các chính sách giáo dục nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo
dục cho học sinh vùng núi phía Bắc
8. Hạn chế của luận văn
Ý tưởng nội dung nghiên cứu của luận văn xuất phát từ một nghiên cứu quốc
gia về kết quả học tập hai môn Toán và Tiếng Việt dành cho học sinh lớp 5 bậc tiểu
học được thực hiện năm 2007. Những số liệu phục vụ cho ý tưởng nghiên cứu của
đề tài được tách ra từ bộ số liệu gốc của cuộc khảo sát để phân tích. Do vậy, các nội
dung có thể chưa hoàn toàn được thỏa mãn bởi tính mục đích ban đầu của cuộc
khảo sát này. Đây có thể sẽ là hạn chế lớn mà đề tài luận văn có thể gặp phải. Mặc
dù vậy, những thông tin có được từ bộ số liệu này hoàn toàn có thể được khai thác
để làm rõ nội dung và mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Một hạn chế nữa do khách
thể được thu thập thông tin cho bảng hỏi là học sinh nằm trong độ tuổi từ 9 - 11, vì
thế một số loại câu hỏi không được đưa vào chẳng hạn như thu nhập của gia đình,
các nhận định, đánh giá có tính khái quát cao về việc tiếp cận giáo dục. Bởi thế, hệ
thống câu hỏi đã hạn chế tối đa các câu hỏi phức tạp mà thay vào đó là các câu hỏi
các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của học sinh ở
khu vực này trong thời gian tới, và chỉ ra những vấn đề mà tác giả luận văn
chưa giải quyết trong phạm vi nghiên cứu này.
Phần tài liệu tham khảo
- 22 -
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ
CÁCH TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU
1.1. Một số khái niệm công cụ
1.1.1. Khả năng tiếp cận
Theo từ điển cắt nghĩa thuật ngữ “tiếp cận” có 4 nghĩa sau: 1) Ở gần, ở liền
kề; 2) Tiến sát gần; 3) Đến gần để tiếp xúc; 4) Bằng những phương pháp nhất định
để tìm hiểu một đối tượng nào đó. Trong nghiên cứu này, khái niệm tiếp cận được
hiểu theo nghĩa 1, 2, và 3, tức là khả năng con người tiến gần, đạt được một đối
tượng nào đó, mà ở đây là hệ thống giáo dục quốc dân. Là khả năng con người đạt
được các mục đích, mong muốn hay tiêu chuẩn nào đó do xã hội đặt ra. Khả năng
tiếp cận cũng được nhìn nhận là những cơ hội để con người/nhóm xã hội thực
hiện một mục tiêu, có được những kết quả mong đợi. Khả năng tiếp cận là việc có
được những điều kiện thuận lợi, dễ dàng giúp cho các nhóm xã hội khác nhau có
thể tham gia và hưởng lợi từ một đối tượng nào đó.
1.1.2. Khả năng tiếp cận giáo dục
Khả năng tiếp cận giáo dục là khả năng các cá nhân, nhóm xã hội được
đến trường, học tập kiến thức và các kỹ năng và được hưởng các lợi ích mà hệ
thống giáo dục mang lại một cách công bằng và hiệu quả. Khả năng tiếp cận
giáo dục cũng thể hiện ở việc học sinh tham gia quá trình học tập và đạt kết
quả như thế thế nào cũng như được tạo điều kiện học tập từ phía gia đình, nhà
trường và cộng đồng. Khách thể nghiên cứu ở đây là học sinh đang tham gia
- 24 -
1.2. Cách tiếp cận nghiên cứu
1.2.1. Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Khi bàn về con người trong chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong Luận
cương VI về Feuerbach, C.Mác chỉ rõ: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất
của con người là tổng hoà những quan hệ xã hội". Điều đó có nghĩa là cần
xem xét con người với tư cách là cá nhân trong mối quan hệ với xã hội, với
điều kiện lịch sử cụ thể và với tình hình kinh tế xã hội của thời đại, chứ không
phải con người chung chung, trừu tượng, thoát ly hiện thực. Do vậy, khi vận
dụng vào nghiên cứu về tiếp cận giáo dục của trẻ em cần phải quan tâm đến
các hoàn cảnh điều kiện kinh tế - xã hội, các đặc trưng về quan hệ xã hội cộng
đồng cụ thể bởi nó ảnh hưởng đến mối quan hệ liên cá nhân. Việc đến trường
và học tập của trẻ em đặc biệt ở lứa tuổi chưa thể tự quyết định được các hành
vi của mình càng chịu ảnh hưởng bởi môi trường xã hội xung quanh nơi các
em sinh sống và học tập.
Cùng với gia đình, xã hội thì nhà trường có chức năng xã hội hóa trẻ
em và hình thành nhân cách, năng lực và tri thức hội nhập xã hội sau này. Vì
thế, mức độ tiếp cận giáo dục từ bậc học thấp sẽ giúp cho các em có các điều
kiện tốt hơn trong tương lai khi hòa nhập xã hội. Từ cách tiếp cận chủ nghĩa
duy vật lịch sử khi nghiên cứu vấn đề giáo dục cần nhấn mạnh và quan tâm
đến yếu tố hoàn cảnh xã hội, kinh tế, văn hóa xung quanh và có tác động đến
khả năng tiếp cận giáo dục. Ví dụ, việc trẻ em có được đến trường hay không
còn do khả năng chi trả học phí của gia đình, mức độ quan tâm của cha mẹ
học sinh hoặc sự sẵn có về trường, lớp ở xung quanh Tất cả các yếu tố đó
đều ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiếp cận giáo dục. Hoặc khi tìm hiểu về
kết quả học tập của học sinh tiểu học thì nhân tố nào là có ảnh hưởng mạnh
nhất. Liệu rằng khi học sinh càng ít phụ thuộc vào gia đình ví dụ như học cao