BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUYỄN VĂN TRINH
NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN
GIÁO DỤC CỦA TRẺ EM
CÁC GIA ĐÌNH NHẬP CƯ
VÀO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUÂN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT NGUYỄN VĂN TRINH
NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN
GIÁO D
ỤC CỦA TRẺ EM
ii
LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cm ơn GS. TS. Dwight H. Perkins và ThS inh Vũ Trang
Ngân đã nhiệt tình, tận tâm và kiên nhẫn trong quá trình hướng dẫn tôi thực hiện luận văn
này.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý ban giảng viên của Chương trình Giảng dạy Kinh tế
Fulbright đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cần thiết làm nền tảng cho tôi thực hiện
luận văn tốt nghiệp.
iii
TÓM TẮT
Nghiên cu v “Nâng cao kh năng tip cn giáo dc ca tr em các gia đình nhập
cư đến Thành phố Hồ Chí Minh” cho thấy trẻ em thuộc các gia đình nhập cư, bao gồm các
trẻ em tự lên TP.HCM để sinh sống và làm việc, trẻ em theo cha mẹ lên TP.HCM và trẻ em
ở lại quê khi cha mẹ di cư có khả năng tiếp cận giáo dục bị hạn chế so với các nhóm trẻ em
bản địa. Các em này có tỉ lệ đến trường thấp hơn, tỉ lệ theo học trong hệ thống công lập ít
hơn và tỉ lệ nghỉ học hoặc không đi học cao hơn mức trung bình. Việc đi học của các trẻ
em nhập cư gặp khó khăn do vấn đề về chi phí học tập, thu nhập của gia đình và sự thiếu
quan tâm của một số bậc cha mẹ, đặc biệt là những cha mẹ là người lao động di cư có công
việc bấp bênh và thu nhập thấp.
Nghiên cứu đề xuất việc hình thành một hệ thống giáo dục bắt buộc và miễn phí ít
nhất trong cấp tiểu học dành cho toàn bộ trẻ em trong dài hạn. Trong ngắn hạn, nghiên cứu
1.1.1.
Thực trạng lao động nhập cư vào thành phố Hồ Chí Minh 1
1.1.2.
Vai trò của giáo dục và thực trạng giáo dục của trẻ em nhập cư 3
1.2.
Mc tiêu nghiên cu: 5
1.3.
Câu hi nghiên cu: 5
1.4.
Các định nghĩa được sử dụng trong nghiên cứu 6
1.4.1.
Khái niệm người nhập cư 6
1.4.2.
Khái niệm trẻ em nhập cư 6
1.4.3.
4.
PHÂN TÍCH VÀ NHỮNG PHÁT HIỆN 16
4.1.
Đặc điểm nhân khẩu học 16
4.2.
Thực trạng tiếp cận giáo dục của nhóm trẻ em thuộc gia đình nhập cư 17
4.3.
Những nhân tố tác động đến việc tiếp cận giáo dục 23
4.3.1.
Chi phí dành cho giáo dục 23
4.3.2.
Thu nhập và điều kiện sống của người nhập cư 29
4.3.3.
Sự quan tâm và trình độ giáo dục của cha mẹ và/hoặc người chăm sóc chính
34
tình thương 42
5.2.3.
Tiếp tục các chính sách miễn học phí, giảm học phí 42
5.2.4.
Chính sách đảm bảo quyền của trẻ em tham gia lao động 43
5.2.5.
Chính sách tăng cường tiếp cận thông tin về giáo dục và các kiến thức xã hội
cho cha mẹ và người chăm sóc của trẻ em 44
5.3.
Kết luận của Luận văn 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
PHỤ LỤC 49
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KSDC 2011
Biểu đồ 4-4: Loại hình cơ sở giáo dục trẻ em TP.HCM theo học 19
Biểu đồ 4-5:Trình độ học vấn cao nhất đã hoàn thành theo tuổi của nhóm trẻ 1 20
Biểu đồ 4-6: Trình độ học vấn cao nhất đã hoàn thành theo tuổi của nhóm trẻ 2 20
Biểu đồ 4-7:Trình độ học vấn cao nhất đã hoàn thành của nhóm trẻ 3 21
Biểu đồ 4-8:Trình độ học vấn cao nhất tại thời điểm phỏng vấn của trẻ em các gia đình
nhập cư 21
Biểu đồ 4-9:Tình trạng học tập của trẻ em được khảo sát 22
Biểu đồ 4-10:Tỷ lệ dân số 5- 18 tuổi bỏ học 1989-2009 22
Biểu đồ 4-11:Nguồn đóng góp chi phí cho
giáo dục ở
Việt Nam và các nước 23
Biểu đồ 4-12:Chi phí dành cho việc học của trẻ em các gia đình nhập cư (2010 – 2011) . 24
Biểu đồ 4-13: Thống kê các khoản chi phí cho một người đi học 26
Biểu đồ 4-14: Phân chia lao động theo nhóm ngành nghề sử dụng nhiều thời gian nhất
trong vòng 12 tháng 30
Biểu đồ 4-15: Việc làm của nhóm cha mẹ mang con lên TP.HCM và để con lại quê 31
Biểu đồ 4-16: Nguồn trợ giúp về tài chính khi gặp khó khăn 33
Biểu đồ 4-17: Tình trạng học tập của trẻ em phân theo mức ràng buộc kinh tế (tần suất chu
Biểu đồ 1-1:Tăng trưởng GDP Thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước, 2005 – 2010
Nguồn: GSO, 2010
Là đô thị lớn nhất Việt Nam, TP.HCM hiện có khoảng 7,396 triệu dân (GSO,
2010), trong đó có một lượng không nhỏ người dân nhập cư từ các địa phương khác đến.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng một lượng lớn dân lao động nhập cư từ
các địa phương khác chuyển đến TP.HCM. Thứ nhất, lượng lao động di cư có thể xuất phát
từ các yếu tố đẩy từ địa phương. Tình trạng nghèo đói tại một số địa phương không phát
triển nhanh về kinh tế đã đẩy một lượng lớn người lao động vào tình trạng thất nghiệp,
thiếu cơ hội việc làm. Đặc biệt tại một số địa phương, khi tình trạng đô thị hoá diễn ra
11.20%
12.20%
12.60%
10.70%
8.60%
11.80%
8.44%
8.23%
8.46%
6.31%
5.32%
6.78%
0%
2%
4%
6%
8%
10%
12%
14%
2005 2006 2007 2008 2009 2010
Mặc dù được xem là có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế – xã hội
tại địa phương, lao động nhập cư phải đối mặt với nhiều khó khăn trong cuộc sống, đặc
biệt là nhóm lao động phổ thông. Tình trạng dễ bị tổn thương của lao động nhập cư so với
3
lao động tại địa phương khá cao do sự bấp bênh trong việc làm. Đa phần những người
nhập cư tham gia các công việc đơn giản, lương thấp, không ký kết hợp đồng lao động, dễ
bị thay thế và do đó dễ dẫn đến tình trạng thất nghiệp. Đa phần các lao động nhập cư đang
làm việc trong những ngành nghề không đòi hỏi chuyên môn cao, đồng thời cũng có thu
nhập hạn chế như giày da, xây dựng, chế biến thực phẩm (Đỗ Văn Bình, 2011). Ngoài ra,
có đến khoảng 30% người nhập cư là lao động tự do. Nghiên cứu của Lê Xuân Bá và các
đồng sự (2006) cho thấy gần 60% lao động nhập cư có trình độ thấp hơn cấp trung học cơ
sở. Những lao động phổ thông này cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch
vụ công ích như y tế, giáo dục, tư vấn pháp luật,…
Một trong những thiệt thòi lớn nhất của lao động nhập cư, đặc biệt là lao động phổ
thông nhập cư, là sự hạn chế trong khả năng tiếp cận giáo dục của bản thân người lao động
và trẻ em trong các gia đình lao động nhập cư. Không có nhiều chính sách cải thiện khả
năng tiếp cận giáo dục của nhóm trẻ em trong các gia đình nhập cư. Do đó, trẻ em trong
các gia đình này chịu nhiều thiệt thòi và xã hội cũng chịu những tác động tiêu cực từ tình
trạng này.
1.1.2. Vai trò của giáo dục và thực trạng giáo dục của trẻ em nhập cư
Giáo dục được xem là một trong những tiêu chí đánh giá sự thịnh vượng của một
quốc gia (World Bank, 2008). Giáo dục cũng là nền tảng vững chắc cho sự tăng trưởng và
phát triển vì giáo dục tác động đến dân trí và nâng cao năng suất lao động. Tác động lan
toả của giáo dục sẽ góp phần làm giảm tình trạng nghèo của những gia đình có con được đi
học, tiếp thu tri thức và nâng cao tính di động trong việc tìm kiếm công việc.
Việt Nam là một trong những quốc gia ở khu vực Đông Nam Á có đầu tư rất lớn
cho giáo dục, chiếm khoảng 20% tổng chi ngân sách hàng năm (Trần Trọng Thức, 2008),
cao hơn mức đầu tư của nhiều quốc gia khác như Trung Quốc, Thái Lan và thậm chí là các
quốc gia phát triển như Singapore, Nhật Bản, trong lĩnh vực này. Giáo dục cũng được xem
Nhật Bản (2010)
Thái Lan (2008)
Malaysia (2008)
Hàn Quốc (2008)
Việt Nam (2008)
Mỹ (2008)
% của GDP
5
ký h khu. Nu chúng theo cha m lên Thành ph H Chí Minh để sinh sống, những ưu
đãi này sẽ mất đi. Như vậy, trẻ em trong các gia đình lao động nhập cư, đặc biệt là những
nhóm lao động phổ thông, có khả năng tiếp cận giáo dục hạn chế hơn trẻ em bản địa. Điều
này sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển toàn diện của trẻ em, hạn chế khả năng tìm
việc và cải thiện mức sống trong tương lai của nhóm trẻ em này.
Trước bối cảnh chính sách trên, nghiên cứu này nhằm tìm hiểu thực trạng tiếp cận
giáo dục phổ thông của trẻ em thuộc các gia đình nhập cư, bao gồm các trẻ em theo cha mẹ
đến TP.HCM để sinh sống và các trẻ em có cha mẹ di cư đến TP.HCM trong khi bản thân
vẫn đang ở lại quê. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, số liệu thống kê sẽ lấy chủ yếu từ bộ
dữ liệu của Khảo sát di cư "Kế sinh nhai của các hộ di cư và con cháu ở TP.HCM và nơi
xuất xứ" (“KSDC 2011”) do UNICEF liên kết với Chương trình Giảng dạy Kinh tế
Fulbright thực hiện vào năm 2011. Ngoài ra, nghiên cứu cũng sử dụng những dữ liệu trong
nghiên cứu Nghèo đô thị 2009 (UPS 2009) và các số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê
(GSO). Hy vọng với việc sử dụng hỗ trợ và đối chiếu các nhóm dữ liệu này, nghiên cứu có
thể phác thảo được bức tranh tương đối chân thực về hiện trạng tiếp cận giáo dục của nhóm
trẻ em thuộc các gia đình nhập cư vào TP.HCM và đề ra được những kiến nghị chính sách
phù hợp để nâng cao khả năng đến trường của các trẻ em thuộc các gia đình nhập cư.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu tìm hiểu khả năng tiếp cận giáo dục và các yếu tố
tác động đến khả năng này của trẻ em nhập cư, qua đó đề xuất những kiến nghị chính sách
nhằm cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em nhập cư tại TP HCM.
1.4.2. Khái niệm trẻ em nhập cư
Khái niệm trẻ em nhập cư trong nghiên cứu này được xác định là những đối tượng
từ sáu đến mười lăm tuổi trong các gia đình nhập cư. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, các
trẻ em thuộc các gia đình nhập cư sẽ được phân loại trong 3 nhóm chính.
7
1.4.3. Khái niệm khả năng tiếp cận giáo dục
Kh năng tip cn vi giáo dc trong nghiên cu này là kh năng tr em được đến
trường, tham gia các chương trình học ở bậc phổ thông, được đào tạo và phát triển các kỹ
năng cần thiết cho tương lai trong các cơ sở giáo dục. Nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục
là một trong những yêu cầu quan trọng trong quá trình phát triển theo chiều sâu của một
quốc gia. Nếu không nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục, chăm sóc sức khoẻ có chất
lượng và sự bảo vệ đối với trẻ em, trẻ em nói riêng và xã hội nói chung sẽ không thoát ra
được vòng luẩn quẩn của nghèo đói, tình trạng bị gạt ra lề và mất cơ hội phát triển tối đa
tiềm năng.
1.5. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 5 phần. Phần dẫn nhập giới thiệu bối cảnh chính sách của nghiên
cứu, tính bức thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, giới
hạn của nghiên cứu và các định nghĩa. Phần Tổng quan lý thuyết và nghiên cứu trước giới
thiệu các khái niệm, định nghĩa được sử dụng trong nghiên cứu, các phân tích về việc tiếp
cận giáo dục của trẻ em nhập cư và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế, xã hội.
Phần ba, phương pháp nghiên cứu, giới thiệu phương pháp và cách thức tiến hành nghiên
cứu. Chương phân tích và phát hiện phân tích những kết quả có được từ những dữ liệu
nghiên cứu tổng hợp từ nhiều nguồn. Phần cuối cùng, kết luận và kiến nghị, tác giả đưa ra
những nhận định, đúc kết từ những phân tích đồng thời đề xuất những chính sách để giúp
nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em thuộc các gia đình nhập cư. 8
rằng giáo dục làm tăng khả năng di động và tiếp cận cơ hội nghề nghiệp và qua đó, nâng
cao khả năng cải thiện chất lượng cuộc sống.
Giáo dục được xem là lĩnh vực đầu tư quan trọng hàng đầu, bên cạnh y tế. Đầu tư
cho giáo dục không chỉ được cho là mang đến suất sinh lợi cao, mà còn thể hiện rất rõ tác
động của nó đến sự phát triển của cá nhân người được đầu tư và xã hội.
9
Tr em cn được đầu tư đúng mức trong việc tiếp cận giáo dục và đầu tư vào trẻ em
được xem là một trong những khoản đầu tư tối ưu, không chỉ cho bản thân trẻ em,gia đình
và xã hội. Công ước của Liên Hiệp Quốc về Quyền Trẻ Em là một minh chứng cho tính
quan trọng và đúng đắn của loại hình đầu tư này. Đầu tư cho trẻ em được cho là sẽ có tác
động rất tích cực đến “cuộc đấu tranh chống đói nghèo, bất bình đẳng kinh tế – xã hội và
phân biệt đối xử giới và giúp giải quyết các thách thức lớn của thời đại” như biến đổi khí
hậu, đô thị hoá và di dân,… (UNICEF, 2011).
Giáo dục là một lĩnh vực phát triển đặc trưng cho trẻ em, là nhu cầu cơ bản và
quyền con người.“Mỗi đứa trẻ đều có nhu cầu giáo dục cho bản thân để có thể thực hiện
vai trò như một chủ thể kinh tế độc lập trong tương lai và đảm bảo cuộc sống của mình”
(Bộ LĐ, TB & XH, 2008, tr.27). Quyền tiếp cận giáo dục được quy định trong Công ước
về Quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc (UNHCHR 1989), trong Mục tiêu Phát triển Thiên
niên kỷ (UN, 2008) và Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em của Việt Nam (2004).
Ian Coxhead và các đồng sự (2009) đã chỉ ra rằng trong giai đoạn 1998 – 2006, ở
Việt Nam mức độ gia tăng thu nhập của người lao động tỷ lệ thuận với trình độ giáo dục
của người lao động. Như vậy, giáo dục có tác động tích cực trong việc cải thiện cơ hội việc
làm và thu nhập của người lao động, đồng thời, làm tăng khả năng cải thiện mức sống.
Biểu đồ 2-1: Tăng lương theo trình độ giáo dục
Nguồn: Ian Coxhead và các đồng sự (2009)
29%
11%
22%
Trong mt nghiên cu v tình trng tip cn giáo dc ca tr em nhp cư các quc
gia Châu Âu, Hechmann và các đồng sự (2008) chỉ ra rằng trẻ em nhập cư có tỉ lệ
nhập học đúng tuổi thấp hơn trẻ em thuộc các gia đình bản địa, đồng thời các trẻ em
nhập cư cũng thường theo học tại những trường “ít đòi hỏi về học thuật”, tức là
những trường được xem như có chất lượng đào tạo thấp hơn trung bình trong hệ
thống giáo dục, hơn là những trẻ em khác và kết quả học tập của các em cũng tương
đối thấp. Ngoài ra, tỉ lệ bỏ học, ngưng học của trẻ em nhập cư cũng ở mức cao hơn so
với trung bình và bằng cấp người nhập cư đạt được ở lứa tuổi trưởng thành cũng có
dấu hiệu thấp hơn so với người bản địa. Nghiên cứu này đưa ra kết luận là các trẻ em
nhập cư chịu nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận với giáo dục. Một trong những
nguyên nhân quan trọng được cho là nền tảng kinh tế – xã hội của gia đình. Ngoài ra,
những yếu tố quan trọng khác khiến trẻ em nhập cư gặp khó khăn khi tiếp cận với
giáo dục là do vốn văn hoá, xã hội và kinh tế của các gia đình nhập cư. Hechmann và
các đồng sự (2008) cho rằng các gia đình nhập cư thường không chỉ thiếu vốn làm ăn
(economic capital) mà còn thiếu vốn xã hội (cultural and social capital), là những nền
tảng quan trọng hàng đầu cho sự hội nhập xã hội và tiếp cận giáo dục của trẻ em nhập
cư, và do đó, trẻ em nhập cư khó có thể cạnh tranh một cách bình đẳng với trẻ em
bản địa trong nhiều trường hợp.
Trích Hechmann và các đồng sự (2008)
2.2. Di cư và khả năng tiếp cận giáo dục
Di cư tác động đến giáo dục theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực (GSO, 2011).
Đối với một số hộ gia đình, di cư là để nhằm đạt được trình độ học vấn cao hơn và điều
kiện giáo dục tốt hơn.Tuy nhiên, đối với nhiều gia đình khác, di cư có thể tạo ra sự gián
đoạn học hành và các tác động tiêu cực đến người di cư và các thành viên trong hộ gia
đình.
Đã có nhiều nghiên cứu về tác động qua lại của di cư và giáo dục ở các nước trên
thế giới, và đa phần các nghiên cứu chỉ ra rằng các trẻ em thuộc các gia đình nhập cư phải
đối mặt với những khó khăn khi muốn được đến trường so với các nhóm trẻ khác.
11
Hầu như không
được theo học ở
trường công
NGƯỜI BẢN ĐỊA
KT1
KT2
Người địa phương
sống tại quận đăng
ký hộ khẩu.
Có đầy đủ các
quyền cư trú với ưu
tiên cao nhất (tiếp
cận giáo dục, y tế
công,…)
Người địa phương
sống tại quận
KHÁC quận đăng
ký hộ khẩu.
Có các quyền cư trú
(tiếp cận giáo dục,
y tế công,…) nhưng
hạn chế (chỉ ở khu
vực đăng ký hộ
khẩu
)
12
Hộp 4: Khó khăn của người nhập cư
Ngưi nhp cư chưa có h khu thành ph xin cho con hc, đăng ký các dịch vụ xã hội
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cu dùng phương pháp định tính, sử dụng các số liệu để minh hoạ cho các
nhận định và đánh giá. Nghiên cứu sử dụng các số liệu thống kê thứ cấp về dân số, xã hội,
kinh tế,…tại TP.HCM và trên địa bàn cả nước. Các số liệu về di cư, lao động và việc làm
từ các nghiên cứu trước cũng được sử dụng. Những số liệu sẽ được xử lý bằng phần mềm
STATA và Excel và được trình bày trong chương 4 của nghiên cứu.
3.2. Các nguồn dữ liệu chủ yếu
Do đặc thù của các bộ số liệu về dân cư ở Việt Nam thường thiếu hẳn hoặc thu thập
không toàn diện các mẫu nghiên cứu là người nhập cư, đặc biệt là người tạm trú ngắn hạn
hoặc tạm trú không đăng ký do các nhóm đối tượng này thường bị “bỏ qua” trong các
nhóm đối tượng mục tiêu phỏng vấn, nghiên cứu “Khảo sát Di cư 2011” nhắm trực tiếp
đến nhóm đối tượng bị bỏ sót này nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện hơn về thực trạng
đời sống của nhóm người nhập cư. Nghiên cứu này do chương trình giảng dạy kinh tế
Fulbright phối hợp cùng UNICEF thực hiện, trong đó tác giả là thành viên trực tiếp tham
gia nghiên cứu. Các khảo sát được tiến hành dựa trên 332 mẫu phỏng vấn sâu, bao gồm
bảng hỏi và ghi chú bảng hỏi (field notes). Các đối tượng phỏng vấn mục tiêu trong nghiên
cứu bao gồm những người lao động nhập cư làm lao động phổ thông đến TP.HCM dưới 5
năm. Đây là một nhóm đối tượng thường bị “bỏ quên’ trong các cuộc khảo sát. Bộ dữ liệu
này bao gồm 332 mẫu người nhập cư được phỏng vấn, thoả mãn các điều kiện theo như
định nghĩa người nhập cư của nghiên cứu này (từ nơi khác đến TP.HCM sinh sống dưới 5
năm). Mô tả chi tiết hơn về các mẫu được sử dụng trong bộ dữ liệu này được cung cấp
trong phần phụ lục. Không chỉ các số liệu trong các mẫu phỏng vấn được sử dụng mà các
ghi chú phỏng vấn (field notes) cũng được tham khảo để xây dựng một bức tranh rõ nét
hơn về thực trạng tiếp cận giáo dục của trẻ em thuộc các gia đình nhập cư đến TP.HCM.
Quá trình lọc từ 332 mẫu phỏng vấn đã giới hạn còn 194 mẫu phỏng vấn phù hợp với các
điều kiện của nghiên cứu là có các trẻ em phù hợp với các tiêu chí đã đề cập trong phần
khái niệm.
14
269
Bảng hỏi dành cho cá nhân 1.601 762 839 131 1470
Tổng số người 8.208 4.197 4.011 5.859 2.349
Nguồn: UPS 2009
Các bộ dữ liệu khác nhau đóng vai trò tương hỗ trong việc lý giải các phân tích liên
quan đến thực trạng tiếp cận giáo dục của trẻ em thuộc các gia đình nhập cư. Các bộ dữ
liệu quốc gia của GSO, bao gồm cả VHLSS 2008 và UPS 2009 đưa ra những số liệu tổng
quát và có tính định hình vấn đề trong khi bộ dữ liệu của nghiên cứu “Khảo sát di cư 2011”
xoáy trọng tâm vào một nhóm đối tượng chuyên biệt (người nhập cư trong thời gian ngắn)
và đi sâu vào phân tích các điều kiện sống, khó khăn của nhóm này, trong đó có việc tiếp
cận giáo dục của trẻ em thuộc các gia đình nhập cư.
Bộ dữ liệu này cùng với các bộ dữ liệu quốc gia và địa phương đã đề cập ở trên là
nền tảng chính cho các phân tích trong nghiên cứu này và cũng là nền tảng cho các kiến
nghị chính sách nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em nhập cư tại TP.HCM
nói riêng và có thể được nhân rộng trên địa bàn cả nước trong những điều kiện thích hợp
15
Hình 3-1: Hệ thống các cơ sở dữ liệu chủ yếu và thuộc tính
Kho sát di cư 2011
UPS 2009