Nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em các gia đình nhập cư vào thành phố hồ chí minh - Pdf 67

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------------------------------------------

NGUYỄN VĂN TRINH

NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN
GIÁO DỤC CỦA TRẺ EM
CÁC GIA ĐÌNH NHẬP CƯ
VÀO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUÂN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
------------------------------------------

NGUYỄN VĂN TRINH

NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN
GIÁO DỤC CỦA TRẺ EM
CÁC GIA ĐÌNH NHẬP CƯ
VÀO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành chính sách công
Mã số: 603114

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

luận văn tốt nghiệp.


iii

TÓM TẮT
Nghiên cứu về “Nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em các gia đình nhập
cư đến Thành phố Hồ Chí Minh” cho thấy trẻ em thuộc các gia đình nhập cư, bao gồm các
trẻ em tự lên TP.HCM để sinh sống và làm việc, trẻ em theo cha mẹ lên TP.HCM và trẻ em
ở lại quê khi cha mẹ di cư có khả năng tiếp cận giáo dục bị hạn chế so với các nhóm trẻ em
bản địa. Các em này có tỉ lệ đến trường thấp hơn, tỉ lệ theo học trong hệ thống công lập ít
hơn và tỉ lệ nghỉ học hoặc không đi học cao hơn mức trung bình. Việc đi học của các trẻ
em nhập cư gặp khó khăn do vấn đề về chi phí học tập, thu nhập của gia đình và sự thiếu
quan tâm của một số bậc cha mẹ, đặc biệt là những cha mẹ là người lao động di cư có công
việc bấp bênh và thu nhập thấp.
Nghiên cứu đề xuất việc hình thành một hệ thống giáo dục bắt buộc và miễn phí ít
nhất trong cấp tiểu học dành cho toàn bộ trẻ em trong dài hạn. Trong ngắn hạn, nghiên cứu
đề xuất sự mở rộng sự tham gia của cộng đồng để hỗ trợ cùng nhà nước, thông qua việc
chuẩn mực hóa và nâng cấp các lớp học tình thương, tiếp tục chính sách miễn giảm học phí
mở rộng, xây dựng khung pháp lý đảm bảo cho lao động trẻ em và nâng cao khả năng tiếp
cận thông tin của những người chăm chính.
Từ khoá: di cư, nhập cư, trẻ em, tiếp cận giáo dục


iv

MỤC LỤC
LỜI CAM KẾT ..................................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN....................................................................................................................... ii
TÓM TẮT ............................................................................................................................iii


Khái niệm người nhập cư ................................................................................ 6

1.4.2.

Khái niệm trẻ em nhập cư ................................................................................ 6

1.4.3.

Khái niệm khả năng tiếp cận giáo dục ............................................................ 7

1.5.
2.

3.

4.

Bối cảnh chính sách ................................................................................................ 1

Cấu trúc luận văn .................................................................................................... 7

TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC............................................................... 8
2.1.

Tác động của giáo dục đến việc cải thiện các điều kiện sống ................................. 8

2.2.

Di cư và khả năng tiếp cận giáo dục ..................................................................... 10


4.3.3.

Sự quan tâm và trình độ giáo dục của cha mẹ và/hoặc người chăm sóc chính
34


v

4.3.4.
5.

Chính sách hộ khẩu và hỗ trợ cho người nghèo ............................................ 37

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................................... 40
5.1.

Kết luận ................................................................................................................. 40

5.2. Các kiến nghị chính sách nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em
thuộc các gia đình nhập cư ............................................................................................... 41
Trong dài hạn ..................................................................................................................... 41
5.2.1.

Xây dựng hệ thống giáo dục bắt buộc và miễn phí ........................................ 41

Trong ngắn hạn .................................................................................................................. 42
5.2.2. Xây dựng cơ chế hoạt động để nâng cao tính bền vững của hệ thống lớp học
tình thương ................................................................................................................... 42
5.2.3.

TP.HCM

Thành phố Hồ Chí Minh

UPS 2009

Khảo sát Nghèo Đô thị 2009

UNICEF

Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc

VHLSS 2008

Khảo sát Mức sống Hộ gia đình Việt Nam 2008


vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1-1:Tăng trưởng GDP Thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước, 2005 – 2010 ....... 1
Biểu đồ 1-2: Mức chi tiêu cho giáo dục tính trên tổng GDP................................................. 4
Biểu đồ 2-1:Tăng lương theo trình độ giáo dục .................................................................... 9
Biểu đồ 4-1: Cơ cấu nhóm tuổi và giới tính ........................................................................ 16
Biểu đồ 4-2:Trình độ học vấn của người dân từ 15 tuổi trở lên.......................................... 18
Biểu đồ 4-3:Phân chia dân số từ 15 tuổi trở lên theo trình độ học vấn cao nhất (%) ........ 19
Biểu đồ 4-4: Loại hình cơ sở giáo dục trẻ em TP.HCM theo học ....................................... 19
Biểu đồ 4-5:Trình độ học vấn cao nhất đã hoàn thành theo tuổi của nhóm trẻ 1 ............... 20
Biểu đồ 4-6: Trình độ học vấn cao nhất đã hoàn thành theo tuổi của nhóm trẻ 2 .............. 20
Biểu đồ 4-7:Trình độ học vấn cao nhất đã hoàn thành của nhóm trẻ 3 .............................. 21


1.1.

Bối cảnh chính sách
1.1.1.

Thực trạng lao động nhập cư vào thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) là một khu vực kinh tế quan trọng và năng
động hàng đầu cả nước. GDP của TP.HCM vào khoảng 414,068 tỷ đồng (2010), chiếm
20,9 % tổng GDP cả nước (GSO, 2010). GDP bình quân đầu người của TP.HCM cũng ở
mức rất cao (2.800 USD/người/năm so với trung bình cả nước là 1.168 USD/người/năm –
GSO, 2010). Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình của TP.HCM từ năm 2001 đến 2010 vào
khoảng trên 11% mỗi năm, luôn ở mức cao hơn so với mức chung của cả nước.
Biểu đồ 1-1:Tăng trưởng GDP Thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước, 2005 – 2010
14%

12.20%

12%

11.20%

10%

8.44%

12.60%

11.80%


2008

2009

2010

Nguồn: GSO, 2010

Là đô thị lớn nhất Việt Nam, TP.HCM hiện có khoảng 7,396 triệu dân (GSO,
2010), trong đó có một lượng không nhỏ người dân nhập cư từ các địa phương khác đến.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng một lượng lớn dân lao động nhập cư từ
các địa phương khác chuyển đến TP.HCM. Thứ nhất, lượng lao động di cư có thể xuất phát
từ các yếu tố đẩy từ địa phương. Tình trạng nghèo đói tại một số địa phương không phát
triển nhanh về kinh tế đã đẩy một lượng lớn người lao động vào tình trạng thất nghiệp,
thiếu cơ hội việc làm. Đặc biệt tại một số địa phương, khi tình trạng đô thị hoá diễn ra


2

nhanh nhưng không đi kèm với việc hình thành công việc mới trong lĩnh vực công nghiệp,
dịch vụ đã khiến một lượng đáng kể lao động trong khu vực nông nghiệp rơi vào tình trạng
phải ly hương để sinh nhai.
Thứ hai, di cư có thể diễn ra do các yếu tố kéo. TP.HCM với một nền kinh tế năng
động luôn có tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn mức trung bình cả nước 3-4 điểm % tạo ra
một lượng cầu lớn việc làm, từ lao động phổ thông đến lao động trình độ cao. Dân số hàng
triệu người của thành phố này cũng tạo ra cầu dịch vụ to lớn. Người nhập cư đến TP.HCM
làm việc tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp, học tập và nâng cao điều kiện sống.
Xu hướng nhập cư vào TP.HCM đã diễn ra từ nhiều năm qua. Số lượng người nhập
cư được cho là chiếm khoảng gần 30% tổng dân số TP.HCM. Đặc biệt, xu hướng nhập cư

sở. Những lao động phổ thông này cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch
vụ công ích như y tế, giáo dục, tư vấn pháp luật,…
Một trong những thiệt thòi lớn nhất của lao động nhập cư, đặc biệt là lao động phổ
thông nhập cư, là sự hạn chế trong khả năng tiếp cận giáo dục của bản thân người lao động
và trẻ em trong các gia đình lao động nhập cư. Không có nhiều chính sách cải thiện khả
năng tiếp cận giáo dục của nhóm trẻ em trong các gia đình nhập cư. Do đó, trẻ em trong
các gia đình này chịu nhiều thiệt thòi và xã hội cũng chịu những tác động tiêu cực từ tình
trạng này.
1.1.2.

Vai trò của giáo dục và thực trạng giáo dục của trẻ em nhập cư

Giáo dục được xem là một trong những tiêu chí đánh giá sự thịnh vượng của một
quốc gia (World Bank, 2008). Giáo dục cũng là nền tảng vững chắc cho sự tăng trưởng và
phát triển vì giáo dục tác động đến dân trí và nâng cao năng suất lao động. Tác động lan
toả của giáo dục sẽ góp phần làm giảm tình trạng nghèo của những gia đình có con được đi
học, tiếp thu tri thức và nâng cao tính di động trong việc tìm kiếm công việc.
Việt Nam là một trong những quốc gia ở khu vực Đông Nam Á có đầu tư rất lớn
cho giáo dục, chiếm khoảng 20% tổng chi ngân sách hàng năm (Trần Trọng Thức, 2008),
cao hơn mức đầu tư của nhiều quốc gia khác như Trung Quốc, Thái Lan và thậm chí là các
quốc gia phát triển như Singapore, Nhật Bản, trong lĩnh vực này. Giáo dục cũng được xem
làm một trong những quốc sách hàng đầu Việt Nam.


4

Biểu đồ 1-2: Mức chi tiêu cho giáo dục tính trên tổng GDP

Mỹ (2008)
Việt Nam (2008)

Là một địa phương đông dân nhập cư vào loại hàng đầu tại Việt Nam, thành phố
Hồ Chí Minh cũng phải đối mặt với những bất cập trong quá trình tiếp cận giáo dục của trẻ
em các gia đình nhập cư. Các chính sách giáo dục truyền thống của thành phố chủ yếu
nhắm đến nhóm đối tượng là trẻ em ở địa phương, chưa xét nhiều đến nhóm trẻ em nhập
cư. Trước năm 2007, chính sách hộ khẩu phân theo 4 khu vực (KT) đã khiến cho nhiều trẻ
em nhập cư không thể theo học ở các trường công lập, đồng nghĩa với việc các em phải bỏ
học vì gia đình không có điều kiện để gửi con đến các trường tư có mức học phí và các chi
phí khác cao hơn nhiều lần. Sau năm 2007, các chính sách hộ khẩu cởi mở hơn về nguyên
tắc giúp cho người nhập cư có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận giáo dục nhưng sự vận
dụng lúng túng của các địa phương, hệ thống trường công hạn chế cũng không khiến cho
tình hình được cải thiện đáng kể. Ngoài ra, trẻ em thuộc các gia đình có “sổ hộ nghèo” chỉ
được hưởng những chính sách ưu đãi miễn, giảm học phí khi đi học ở tại địa phương đăng


5

ký hộ khẩu. Nếu chúng theo cha mẹ lên Thành phố Hồ Chí Minh để sinh sống, những ưu
đãi này sẽ mất đi. Như vậy, trẻ em trong các gia đình lao động nhập cư, đặc biệt là những
nhóm lao động phổ thông, có khả năng tiếp cận giáo dục hạn chế hơn trẻ em bản địa. Điều
này sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển toàn diện của trẻ em, hạn chế khả năng tìm
việc và cải thiện mức sống trong tương lai của nhóm trẻ em này.
Trước bối cảnh chính sách trên, nghiên cứu này nhằm tìm hiểu thực trạng tiếp cận
giáo dục phổ thông của trẻ em thuộc các gia đình nhập cư, bao gồm các trẻ em theo cha mẹ
đến TP.HCM để sinh sống và các trẻ em có cha mẹ di cư đến TP.HCM trong khi bản thân
vẫn đang ở lại quê. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, số liệu thống kê sẽ lấy chủ yếu từ bộ
dữ liệu của Khảo sát di cư "Kế sinh nhai của các hộ di cư và con cháu ở TP.HCM và nơi
xuất xứ" (“KSDC 2011”) do UNICEF liên kết với Chương trình Giảng dạy Kinh tế
Fulbright thực hiện vào năm 2011. Ngoài ra, nghiên cứu cũng sử dụng những dữ liệu trong
nghiên cứu Nghèo đô thị 2009 (UPS 2009) và các số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê
(GSO). Hy vọng với việc sử dụng hỗ trợ và đối chiếu các nhóm dữ liệu này, nghiên cứu có

tỉnh khác đến sinh sống, làm việc tại TP.HCM và chưa có hộ khẩu thường trú tại TP.HCM.
Trong chuyên khảo về Di cư và Đô thị hoá ở Việt Nam (2009), các tác giả định nghĩa
người nhập cư là người có nơi thường trú tại thời điểm năm năm trước thời điểm điều tra
khác với nơi thường trú hiện tại. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, người nhập cư vào
TP.HCM được xem là người di chuyển từ địa phương khác đến TP.HCM để sinh sống vì
mục đích công việc trong thời gian dưới năm năm (tức là sau năm 2006 – tính tại thời điểm
Khảo sát Di cư 2011). Như vậy, những người nhập cư đến TP.HCM với mục đích chính là
học tập sẽ không được xem là đối tượng của nghiên cứu.
1.4.2.

Khái niệm trẻ em nhập cư

Khái niệm trẻ em nhập cư trong nghiên cứu này được xác định là những đối tượng
từ sáu đến mười lăm tuổi trong các gia đình nhập cư. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, các
trẻ em thuộc các gia đình nhập cư sẽ được phân loại trong 3 nhóm chính.
Hộp 1: Phân nhóm trẻ em trong nghiên cứu


Nhóm 1: nhóm trẻ em lên TP.HCM để làm việc. Nhóm này thường không đi chung
với gia đình mà đi một mình hay đi cùng bạn bè lên TP.HCM để tìm việc làm. Một
phần các em vẫn tiếp tục tham gia các lớp học tình thương bán thời gian trong khi một
số khác đã hoàn toàn nghỉ học. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chỉ nhóm trẻ em lên
TP.HCM làm việc trong nhóm tuổi dưới 16 được nghiên cứu.



Nhóm 2: nhóm trẻ em theo cha mẹ hoặc người chăm sóc chính từ nơi khác đến sinh
sống tại TP.HCM.



Phần ba, phương pháp nghiên cứu, giới thiệu phương pháp và cách thức tiến hành nghiên
cứu. Chương phân tích và phát hiện phân tích những kết quả có được từ những dữ liệu
nghiên cứu tổng hợp từ nhiều nguồn. Phần cuối cùng, kết luận và kiến nghị, tác giả đưa ra
những nhận định, đúc kết từ những phân tích đồng thời đề xuất những chính sách để giúp
nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em thuộc các gia đình nhập cư.


8

2.

TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

2.1.

Tác động của giáo dục đến việc cải thiện các điều kiện sống

Có nhiều nghiên cứu ở các nước phát triển về khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em
nhập cư từ các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia đang và chậm phát triển. Tuy nhiên,
không có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về những hạn chế trong tiếp cận giáo dục của trẻ
em nhập cư đến các đô thị lớn ở Việt Nam. Các nghiên cứu về đời sống của người nhập cư
thường chỉ đề cập đến đời sống của trẻ em và việc đi học của nhóm trẻ em nhập cư như
một phần rất nhỏ trong nội dung nghiên cứu.
Theo Jon Sward và Nitya Rao (2009), giáo dục và di cư được xem là hai nhân tố
tác động đến sự phát triển. Giáo dục được xem là có ảnh hưởng tích cực đến phát triển, và
nó đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện đời sống của người dân nghèo thông qua
việc cung cấp cho họ kỹ năng, khả năng phân tích, sự tự do và tự tin. Bên cạnh đó, di cư
đóng vai trò như một nhân tố tiềm tàng tạo ra sự phát triển nhưng đồng thời cũng tạo ra
những chi phí và sự rủi ro nhất định cho xã hội (Sward và Rao, 2009). UNICEF (2011) cho
rằng giáo dục làm tăng khả năng di động và tiếp cận cơ hội nghề nghiệp và qua đó, nâng

về Quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc (UNHCHR 1989), trong Mục tiêu Phát triển Thiên
niên kỷ (UN, 2008) và Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em của Việt Nam (2004).
Ian Coxhead và các đồng sự (2009) đã chỉ ra rằng trong giai đoạn 1998 – 2006, ở
Việt Nam mức độ gia tăng thu nhập của người lao động tỷ lệ thuận với trình độ giáo dục
của người lao động. Như vậy, giáo dục có tác động tích cực trong việc cải thiện cơ hội việc
làm và thu nhập của người lao động, đồng thời, làm tăng khả năng cải thiện mức sống.
Biểu đồ 2-1: Tăng lương theo trình độ giáo dục

350%
301%

300%
250%

Không bằng cấp và trình độ tiểu học
190%

200%

159%

150%
100%
50%

120%

76%
51%
29%



10

2.2.

Di cư và khả năng tiếp cận giáo dục

Di cư tác động đến giáo dục theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực (GSO, 2011).
Đối với một số hộ gia đình, di cư là để nhằm đạt được trình độ học vấn cao hơn và điều
kiện giáo dục tốt hơn.Tuy nhiên, đối với nhiều gia đình khác, di cư có thể tạo ra sự gián
đoạn học hành và các tác động tiêu cực đến người di cư và các thành viên trong hộ gia
đình.
Đã có nhiều nghiên cứu về tác động qua lại của di cư và giáo dục ở các nước trên
thế giới, và đa phần các nghiên cứu chỉ ra rằng các trẻ em thuộc các gia đình nhập cư phải
đối mặt với những khó khăn khi muốn được đến trường so với các nhóm trẻ khác.
Hộp 3: Hạn chế tiếp cận giáo dục của trẻ em nhập cư – vấn đề về vốn xã hội
Trong một nghiên cứu về tình trạng tiếp cận giáo dục của trẻ em nhập cư ở các quốc
gia Châu Âu, Hechmann và các đồng sự (2008) chỉ ra rằng trẻ em nhập cư có tỉ lệ
nhập học đúng tuổi thấp hơn trẻ em thuộc các gia đình bản địa, đồng thời các trẻ em
nhập cư cũng thường theo học tại những trường “ít đòi hỏi về học thuật”, tức là
những trường được xem như có chất lượng đào tạo thấp hơn trung bình trong hệ
thống giáo dục, hơn là những trẻ em khác và kết quả học tập của các em cũng tương
đối thấp. Ngoài ra, tỉ lệ bỏ học, ngưng học của trẻ em nhập cư cũng ở mức cao hơn so
với trung bình và bằng cấp người nhập cư đạt được ở lứa tuổi trưởng thành cũng có
dấu hiệu thấp hơn so với người bản địa. Nghiên cứu này đưa ra kết luận là các trẻ em
nhập cư chịu nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận với giáo dục. Một trong những
nguyên nhân quan trọng được cho là nền tảng kinh tế – xã hội của gia đình. Ngoài ra,
những yếu tố quan trọng khác khiến trẻ em nhập cư gặp khó khăn khi tiếp cận với
giáo dục là do vốn văn hoá, xã hội và kinh tế của các gia đình nhập cư. Hechmann và


KT3

KT4

Người địa phương
sống tại quận đăng
ký hộ khẩu.

Người địa phương
sống
tại
quận
KHÁC quận đăng
ký hộ khẩu.

Người di cư từ tỉnh
khác, ở dài hạn
(trên 12 tháng)

Người di cư từ tỉnh
khác, ở ngắn hạn
(dưới 12 tháng)

Có quyền theo học
ở trường công khi
còn chỗ (sau KT1
và KT2)

Hầu như không

Giả như họ muốn phát triển kinh doanh cũng rất khó vay vốn vì không có nhà cửa thế
chấp, không có hộ khẩu thường trú. Dân nhập cư còn gặp khó khăn khi làm các thủ tục
như khai sinh, kết hôn, vay vốn xoá đói giảm nghèo.
Trung Vũ (2011)

Bên cạnh những tác động đã đề cập, báo cáo về xu hướng và cấu trúc di cư ở Việt
Nam tại hội thảo vùng về Di cư, phát triển và các chính sách giảm nghèo của nhóm nghiên
cứu Đặng Nguyên Anh, Cecilia Tacoli và Hoàng Xuân Thành (2003) quan tâm nhiều đến
tác động của di cư đến cấu trúc gia đình, và gián tiếp ảnh hưởng đến việc tiếp cận giáo dục
của trẻ em thuộc nhóm các gia đình nhập cư. Mặc dù việc di cư có thể giúp cải thiện kinh
tế của người dân nông thôn, những ảnh hưởng của nó đến các đời sống cũng rất đáng kể.
Người di cư thường để lại vợ hoặc chồng và con cái và điều này có thể ảnh hưởng đến sự
bền vững của gia đình, nhiều gia đình ly tán, nhiều làng quê chỉ còn lại những đứa trẻ và
người già (Đặng Nguyên Anh và các đồng sự, 2003, trang 15-17). Các khoản tiền gửi về
quê đôi khi quá khiêm tốn, không đủ để trang trải những chi phí như tiền chi tiêu, tiền học
của trẻ em và tiền chữa bệnh. Trẻ em sống xa cha mẹ cũng thiếu đi sự chăm sóc trực tiếp,
gần gũi nhất, điều này ít nhiều tác động đến kết quả học tập của các trẻ em ở lại nông thôn
khi cha mẹ đi làm ăn ở xa. Báo cáo này cũng đề xuất các nhà làm chính sách nên có những
hỗ trợ để cải thiện an sinh xã hội cho người nhập cư, nhằm giúp hạn chế những thiệt thòi
của nhóm người này.
Chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về ảnh hưởng của việc di cư lên khả năng
tiếp cận giáo dục của trẻ em thuộc các gia đình lao động nhập cư, và nhóm đối tượng này
thường không được đề cập đến trong các bộ dữ liệu chính thống. Cụ thể hơn, các nghiên
cứu về việc nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em thuộc các gia đình nhập cư đến
TP.HCM càng hiếm hoi hơn và do đó các nhà làm chính sách, đặc biệt là các chính sách về
giáo dục và an sinh xã hội, sẽ khó có cơ sở để làm nền tảng cho các chính sách của mình.


13


năm). Mô tả chi tiết hơn về các mẫu được sử dụng trong bộ dữ liệu này được cung cấp
trong phần phụ lục. Không chỉ các số liệu trong các mẫu phỏng vấn được sử dụng mà các
ghi chú phỏng vấn (field notes) cũng được tham khảo để xây dựng một bức tranh rõ nét
hơn về thực trạng tiếp cận giáo dục của trẻ em thuộc các gia đình nhập cư đến TP.HCM.
Quá trình lọc từ 332 mẫu phỏng vấn đã giới hạn còn 194 mẫu phỏng vấn phù hợp với các
điều kiện của nghiên cứu là có các trẻ em phù hợp với các tiêu chí đã đề cập trong phần
khái niệm.


14

Bên cạnh bộ dữ liệu “Khảo sát Di cư 2011”, nghiên cứu còn sử dụng nguồn dữ liệu
từ nghiên cứu Nghèo Đô thị 2009 (UPS 2009) do UNDP phối hợp với Uỷ Ban Nhân Dân
Thành phố Hà Nội và TP.HCM thực hiện vào năm 2009. Bộ dữ liệu này bao gồm hơn
3.000 mẫu phỏng vấn ở 2 đô thị lớn này và phân nhóm mẫu chủ yếu theo phân loại “người
dân địa phương” (bản địa) tức là những người có đăng ký hộ tịch theo nhóm KT1 và KT2
và “người nhập cư” – người có đăng ký hộ tịch KT3 và KT4, cùng với một số lượng nhỏ
các mẫu không đăng ký hộ tịch. Ngoài ra, dữ liệu trong nghiên cứu VHLSS 2008 và số liệu
trong một số nghiên cứu về mức sống và nghiên cứu về người nhập cư cũng được sử dụng.
Bảng 3-1: Cơ cấu mẫu trong bộ dữ liệu UPS 2009
Thành phố

Tổng cộng

Tình trạng hộ tịch

Hà Nội

TP.HCM


1.601

762

839

131

1470

Tổng số người

8.208

4.197

4.011

5.859

2.349

Nguồn: UPS 2009

Các bộ dữ liệu khác nhau đóng vai trò tương hỗ trong việc lý giải các phân tích liên
quan đến thực trạng tiếp cận giáo dục của trẻ em thuộc các gia đình nhập cư. Các bộ dữ
liệu quốc gia của GSO, bao gồm cả VHLSS 2008 và UPS 2009 đưa ra những số liệu tổng
quát và có tính định hình vấn đề trong khi bộ dữ liệu của nghiên cứu “Khảo sát di cư 2011”
xoáy trọng tâm vào một nhóm đối tượng chuyên biệt (người nhập cư trong thời gian ngắn)
và đi sâu vào phân tích các điều kiện sống, khó khăn của nhóm này, trong đó có việc tiếp

Trẻ em các
gia đình nhập
cư đến
TP.HCM

Đề xuất chính
sách



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status