Cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục cho trẻ em nghèo Việt Nam - Pdf 30

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Mọi chiến lược phát triển của các quốc gia đều hướng vào con người, lấy
con người làm trung tâm. Thực tế đã chứng minh rằng ở các nước phát triển
và các nước công nghiệp mới ( NIC ) chính sách đầu tư phát triển con người
đã mang lợi hiệu quả kinh tế xã hội cao. Vì thế giáo dục đã trở thành chìa
khóa cho sự giàu có thịnh vượng của mỗi quốc gia . Ở Việt Nam giáo dục
được coi là quốc sách hàng đầu, là lĩnh vực ưu tiên số một. Mục tiêu của
chính sách giáo dục cho mọi người của chính phủ Việt Nam là đến năm 2010
tất cả trẻ em trong độ tuổi tiểu học đều đến trường. Dù Việt Nam đã đạt được
chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học trên phạm vi toàn quốc vào tháng 7 năm
2000, nhưng không phải tất cả trẻ em đều được đến trường nhất là trẻ em
nghèo. Nước ta hiện nay có khoảng 23 triệu trẻ em trong đó trẻ em nghèo
chiếm 1/3. Trong 5 năm gần đây có hơn 3,5 triệu học sinh các cấp bỏ học và
còn rất nhiều em không được đến trường. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình
trạng này nhưng nguyên nhân cơ bản là gia đình các em quá nghèo, không có
tiền cho con mình đi học. Chỉ 5 - 10 năm nữa hàng triệu học sinh thôi học này
sẽ là nguồn lao động trẻ, lao động phổ thông, không đáp ứng được những yêu
cầu nghề nghiệp của xã hội.
Để trẻ em nghèo được đi học đầy đủ ở tất cả các cấp, đề tài : ''Cải thiện
khả năng tiếp cận giáo dục cho trẻ em nghèo Việt Nam'' nhằm mục đích
làm rõ thực trạng và đề xuất giải pháp cho trẻ em nghèo được tham gia vào hệ
thống giáo dục nhiều hơn.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Đối tượng nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu mối liên hệ giữa nghèo đói và giáo dục để thấy
được tầm quan trọng của giáo dục trong giải quyết vấn đề nghèo đói, từ đó đề
tài đi vào phân tích việc tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo ở các cấp học, từ
mẫu giáo đến trung học phổ thông.

việc xác định ''cái gì đó'' đã tạm chia thành ba trường phái chính trong quan
niệm về đói nghèo.
Trường phái thứ nhất, được gọi là trường phái phúc lợi, coi xã hội có hiện
tượng đói nghèo khi một hay nhiều cá nhân trong xã hội đó không có được
một mức phúc lợi kinh tế được coi là cần thiết để đảm bảo một cuộc sống tối
thiểu cần thiết hợp lý theo tiêu chuẩn xã hội đó. Cách hiểu này coi ''cái gì đó''
là phúc lợi kinh tế của cá nhân, hay độ thỏa dụng cá nhân ( mức sống ). Khi
đó, tăng thu nhập được xem là điều quan trọng nhất để nâng cao mức sống
hay độ thỏa dụng cá nhân.
Trường phái thứ hai, trường phái nhu cầu cơ bản, coi cái gì đó mà người
nghèo thiếu là một tập hợp những hàng hóa và dịch vụ được xác định cụ thể
mà việc thỏa mãn chúng là điều kiện tiên quyết để đảm bảo chất lượng cuộc
sống. Những nhu cầu cơ bản đó bao gồm LTTP, nước, điều kiện vệ sinh, nhà
ở, quần áo, giáo dục, y tế cơ sở và giao thông công cộng.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trường phái thứ ba, trường phái năng lực, coi giá trị của cuộc sống con
người không chỉ phụ thuộc duy nhất vào độ thỏa dụng hay thỏa mãn nhu cầu
cơ bản, mà đó là khả năng mà một con người có được, là quyền tự do đáng kể
mà họ được hưởng, để vươn tới một cuộc sống mà họ mong muốn.
Từ định nghĩa của các trường phái trên có thể thấy, tuy chúng ta không thể
tìm được một khái niệm duy nhất đầy đủ về đói nghèo, nhưng có thể chỉ ra
những biểu hiện cơ bản hay bản chất đa chiều của đói nghèo. Bản chất đa
chiều của đói nghèo như sau :
 Trước hết là sự khốn cùng về vật chất, được đo lường theo một tiêu chí
thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng.
 Đi kèm với sự khốn cùng về vật chất là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo
dục và y tế.
 Nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp dủi do, tức là khả năng một hộ gia
đình hay cá nhân bị rơi vào cảnh đói nghèo về thu nhập hoặc sức khỏe.

sóc, nuôi dạy.
- Trẻ em được Nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể,
nhân phẩm và danh dự; được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng của mình về những
vấn đề có liên quan.
- Trẻ em có quyền được học tập và có bổn phận học hết chương trình giáo
dục phổ cập. Trẻ em học bậc tiểu học trong các trường, lớp quốc lập không
phải trả học phí.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Cha mẹ, người đỡ đầu có trách nhiệm tạo điều kiện tốt cho con em học
tập.
- Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền học tập của trẻ em, khuyến
khích trẻ em học tập tốt và tạo điều kiện để trẻ em phát triển nǎng khiếu.
- Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động vǎn hoá,
vǎn nghệ, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi.
Như vậy học tập là một trong những quyền cơ bản của trẻ em. Để đảm
bảo quyền lợi này trong điều 28 chương III luật đã quy định rõ trách nhiệm
của gia đình và nhà trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ em:
- Gia đình nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền
học tập học hết chương trình giáo dục phổ cập, tạo điều kiện cho trẻ em theo
học ở trình độ cao hơn.
- Nhà trường và các cơ sở giáo dục khác có trách nhiệm thực hiện giáo
dục toàn diện về đạo đức, tri thức, thẩm mỹ, thể chất, giáo dục lao động
hướng nghiệp cho trẻ em. Chủ động phối hợp chặt chẽ với gia đình và xã hội
trong việc bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.
- Cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông phải có điều kiện
cần thiết về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học để đảm bảo chất
lượng giáo dục.
- Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục mầm non, giáo dục phổ
thông, chính sách miễn giảm học phí cấp học bổng, trợ cấp xã hội để thực

nên cũng có nhiều điểm khác nhau về các nguồn lực với người lớn. Định
nghĩa trên được giải thích như sau: Nguồn lực vật chất bao gồm gồm thu
nhập, lương thực, sự tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục, sự bảo vệ trước những
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
rủi ro về sức khỏe chẳng hạn những rủi ro liên quan tới công việc chân tay
nặng nhọc, các công việc khác. Các nguồn lực tinh thần bao gồm sự động
viên khuyến khích, ý nghĩa trong cuộc sống, kỳ vọng, các tấm gương và mối
quan hệ đồng đẳng, còn các nguồn lực tình cảm bao gồm tình yêu, sự tin cậy,
sự hòa nhập và việc không có các tình huống lạm dụng.
Dựa vào định nghĩa về trẻ em nghèo, có 3 cách tiếp cận nghiên cứu như
sau:
- Trẻ em nghèo = Nghèo đói chung ( Mô hình A )
- Trẻ em nghèo = Sự nghèo đói của các gia đình nuôi trẻ ( Mô hình B )
- Trẻ em nghèo = Mặt đối lập của phúc lợi trẻ em ( Mô hình C )
Nghiên cứu mới nhất của bộ Lao Động - Thương Binh Xã Hội và quỹ nhi
đồng liên hợp quốc về trẻ em nghèo Việt Nam đã sử dụng hai khía cạnh
nghèo tiền tệ và nghèo đa chiều.
Về khía cạnh tiền tệ: Dựa vào mức thu nhập chi tiêu của các hộ gia đình.
Trẻ em nghèo là các em sống trong hộ gia đình nghèo. Quy định trong chuẩn
nghèo của nước ta như sau : Ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập
bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng ( dưới 2.400.000 đồng/người/ năm )
trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ
260.000 đồng/ người/ tháng ( dưới 3.120.000 đồng/ người/ năm ) trở xuống là
hộ nghèo.
Về khía cạnh nghèo đa chiều: Trẻ em nghèo được xem xét bằng sử dụng
mô hình có nhiều điểm tương đồng nhất với mô hình B. Các khía cạnh và chỉ
số sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm:
 Nơi ở: Trẻ em sống trong một nơi ở có từ 5 người trở lên một phòng
hoặc với nền nhà không lát, ốp.

những mầm non tương lai của đất nước.
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Mối quan hệ giữa giáo dục với trẻ em nghèo
2.1 Vai trò của giáo dục với sự phát triển kinh tế xã hội và con người
Tầm quan trọng đặc biệt của giáo dục thể hiện ở vai trò thứ nhất: Là động
lực phát triển kinh tế. Một nền kinh tế muốn có sức mạnh để phát triển cần
phải tạo ra được một trình độ trí tuệ cao và nguồn chất xám cũng như nhân
lực kỹ thuật đủ để luôn đổi mới sản xuất, nâng cao năng suất lao động, phát
triển các hoạt động dịch vụ. Điều này phụ thuộc vào giáo dục, đáp ứng nhu
cầu trình độ cao của nền kinh tế. Một nền kinh tế muốn phát triển cần có 3
nguồn lực : nhân lực ( nguồn lực con người), vật lực ( nguồn lực vật chất), tài
lực( nguồn lực tài chính tiền tệ). Song chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra
động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy được tác
dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người. Nguồn lực con người quan
trọng như vậy mà giáo dục là cơ sở phát triển nguồn nhân lực, là con đường
cơ bản để phát huy nguồn lực con người.
Thứ hai giáo dục là một bộ phận đặc biệt của cấu trúc hạ tầng xã hội, là
tiền đề quan trọng cho sự phát triển của tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
văn hóa, quốc phòng, an ninh. Giáo dục là hoạt động có tính vượt lên trước,
căn cứ vào nhu cầu của các hoạt động xã hội khác để đào tạo nhân tài phù
hợp.
Thứ ba giáo dục rèn luyện đạo đức và nhân cách con người, cung cấp kiến
thức kỹ năng để con người xây dựng cuộc sống hạnh phúc văn minh. Con
người được giáo dục tốt mới có khả năng giải quyết một cách sáng tạo và có
hiệu quả tất cả những vấn đề do xã hội đặt ra. Vì thế mỗi người cần có giáo
dục, tham gia vào hệ thống giáo dục rèn luyện đạo đức, trang bị kiến thức,
giống như câu nói '' tiên học lễ hậu học văn ''. Có được hai điều đó mỗi người
sẽ tự tin sống trong xã hội và đóng góp trí tuệ và công sức vào sự phát triển xã
hội.

sau giáo dục là đào tạo trang bị những kỹ năng để mỗi người đi vào làm ở
từng lĩnh vực cụ thể.
Nếu trẻ em tiếp cận với những bậc học thấp thì chỉ có thể làm những công
việc phổ thông sử dụng chân tay nhiều như vậy không thể có mức thu nhập
cao, chưa kể đến tầm hiểu biết hạn chế ảnh hưởng đến con cái sau này, không
nhận ra được tầm quan trọng của giáo dục và cuối cùng con cái không được
đầu tư học hành. Đó chính là một vòng luẩn quẩn, từ bố mẹ nghèo, thiếu kiến
thức sinh ra con cái không được học tập đầy đủ cuối cùng lại nghèo giống bố
mẹ.
Như vậy mối quan hệ giữa giáo dục và trẻ em nghèo nằm ở tương lai của
các em, có giáo dục thì mới thoát khỏi chữ nghèo và bảo đảm một cuộc sống
đầy đủ sau này.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em
nghèo
Trên phạm vi toàn thế giới, các dịch vụ thường không đến được với người
nghèo. Với Việt Nam cũng vậy, giáo dục là một trong những dịch vụ khó tiếp
cận của người nghèo. Tiến bộ xã hội không chỉ nằm ở sự tăng trưởng và phát
triển kinh tế mà còn ở các vấn đề xã hội, quan tâm đến cuộc sống của người
nghèo góp gần quan trọng cải thiện xã hội đưa đất nước đi lên. Có rất nhiều
nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục cho trẻ em nghèo, vì
quá trình học tập của các em không chỉ phụ thuộc ở năng lực tiếp thu kiến
thức mà còn nhiều nhân tố của môi trường gia đình, nhà trường, xã hội…
Ảnh hưởng rõ rệt nhất đó là các chính sách về trẻ em nghèo nói chung và về
tiếp cận giáo dục của đối tượng này. Trong hệ thống giáo dục gồm có hai bên
là gia đình và nhà trường. Nói rộng ra đó là nhà cung cấp và người tiếp nhận
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
giáo dục. Vì thế mà ảnh hưởng đến sự tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo sẽ
gồm hai nhân tố này. Ngoài ra còn các nhân tố ngoại sinh khác tác động vào
cả hai nhân tố trên.

3.2.1 Các yếu tố vật chất
- Cơ sở hạ tầng như trường lớp học và các công trình phục vụ sinh hoạt như
điện nước.
- Các cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập như đồ đạc, phòng học, bàn
ghế, tủ sách, bảng…
- Đồ dùng dạy học và thư viện.
- Sách giáo khoa và các sách tham khảo khác.
- Văn phòng phẩm cho giáo viên.
- Nguyên vật liệu dùng cho thí nghiệm, thực tập.
Các yếu tố trên chính là đầu vào cần thiết phục vụ cho việc giảng dạy và
học tập của giáo viên và học sinh. Nếu thiếu những đầu vào này thì ảnh
hưởng đến chất lượng học tập ví dụ như: không có các dụng cụ để thực hành
sau bài giảng thì học sinh chỉ biết kiến thức qua lý thuyết, với giáo viên không
có thước kẻ, bảng và các văn phòng phẩm khác thì cũng khó có thể truyền đạt
kiến thức cho học sinh. Những yếu tố đó ảnh hưởng đến chất lượng học tập
của tất cả học sinh trong đó có cả học sinh là trẻ em nghèo.
3.2.2 Các yếu tố phi vật chất
- Giáo viên và cán bộ phục vụ giáo dục : bao gồm chất lượng và số lượng.
Về giáo viên mặt chất lượng thể hiện ở năng lực và phương pháp giảng dạy,
số lượng thể hiện ở tỷ lệ giáo viên trên học sinh. Cán bộ phục vụ giáo dục như
ban giám hiệu nhà trường điều hành các công việc của trường lớp… cũng có
vai trò quan trọng. Học sinh nghèo thường tiếp thu kiến thức chậm hơn
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
những học sinh khác vì thế mà khi giảng dạy cần chú ý phương pháp truyền
đạt và quan tâm đến hoàn cảnh gia đình động viên khuyến khích các em học
tập. Cán bộ phục vụ giảng dạy là người điều hành công việc trường lớp đưa ra
các quy định chế độ liên quan đến giảng dạy và học tập, nắm được hoàn cảnh
các em học sinh. Nếu đội ngũ này điều hành có hiệu quả thì mỗi học sinh sẽ
có được cơ hội học tập tốt hơn, nhất là trẻ em nghèo. Yếu tố này thể hiện ở rõ

chung đều làm cho sự tiếp thu kiến thức giảm sút. Như với trẻ em nghèo phải
lao động kiếm sống thì thời gian dành cho học tập của các em chắc chắn
không nhiều do phải tham gia lao động giúp đỡ gia đình cải thiện cuộc sống,
ảnh hưởng lớn đến sự tiếp cận giáo dục.
- Thu nhập của gia đình : Nếu mức thu nhập của gia đình cao thì ngoài học ở
trường con em họ còn có thể đi học thêm, hay tham gia những lớp đào tạo
khác. Ngược lại khi thu nhập của gia đình hạn hẹp chi tiêu cho học tập không
thể nhiều. Đến trường không phải là miễn phí, trừ bậc tiểu học được miễn
giảm học phí ra thì các bậc khác đều phải đóng học phí, nhưng đi học không
phải chỉ có học phí mà nhiều khoản khác như phần trên đã nêu. Trẻ em trong
gia đình nghèo thu nhập thấp, tiếp cận giáo dục kém là điều tất nhiên.
- Tâm lý thái độ của gia đình với giáo dục : thể hiện ở mức độ đánh giá của
gia đình về tầm quan trọng của giáo dục. Có gia đình thì chỉ cần con cái học
lấy cái chữ có gia đình thì muốn con cái học càng lên cao càng tốt. Một khi đã
muốn con cái học hành đến nơi đến chốn thì gia đình sẵn sàng tạo điều kiện
dù khó khăn đến . Trẻ em nghèo thì phần lớn gia đình không quan tâm đến
giáo dục vì đến cả bố mẹ cũng không được học hành đầy đủ họ không thấy
hết được tầm quan trọng của giáo dục, nhưng cũng có trường hợp điển hình
bố mẹ dù nghèo đến mấy cũng cho con cái đi học. Vì thế cải thiện thái độ với
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
giáo dục cho người nghèo cũng là một vấn đề ảnh hướng đến khả năng tiếp
cận giáo dục của trẻ em nghèo.
3.4. Các nhân tố khác
3.4.1. Tăng trưởng và phát triển kinh tế
Khi nền kinh tế tăng trưởng và phát triển làm tăng tổng thu nhập quốc gia,
phát triển mọi lĩnh vực của xã hội. Cùng với đó là sự phát triển con người, thu
nhập của người dân và chất lượng cuộc sống nâng cao. Nó tác động đến khả
năng tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo qua các mặt sau:
Thứ nhất vì thu nhập của người dân tăng lên làm giảm tỷ lệ nghèo, số trẻ

trẻ em nghèo.
4.1. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo.
Đánh giá khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo có thể dùng các chỉ
tiêu sau :
- Mức chi tiêu cho giáo dục : bao gồm mức chi tiêu theo mỗi khoản đóng
góp, mức chi tiêu cho giáo dục một trẻ em trong mỗi cấp học.
+ Mức chi tiêu theo mỗi khoản đóng góp bao gồm các khoản như học phí,
sách vở , quần áo… Cho thấy được chi phí của từng khoản trong quá trình
học tập của trẻ em, khoản đóng góp nào chiếm tỷ lệ cao nhất là ảnh hưởng
đến khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo nhất.
+ Mức chi tiêu cho giáo dục một trẻ em trong mỗi cấp thể hiện tổng chi phí
khi trẻ em đi học từng cấp : mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học cơ
sở, trung học phổ thông. So sánh mức chi tiêu này với tỷ lệ trẻ em nghèo đi
học tìm ra mối quan hệ giữa chúng
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Tỷ lệ trẻ em đi học đúng độ tuổi ở mỗi cấp.
Được xác định như bảng 1.1 dưới đây.
Các tỷ lệ trong bảng có thể tính riêng cho nam và nữ, tính riêng cho từng
vùng, tính riêng cho nhóm di dân và không di dân, tính riêng cho nhóm nghèo
và nhóm không nghèo… để có thể tiến hành so sánh.
Bảng 1.1 : Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi trẻ em các cấp
Cấp học Tỷ lệ trẻ em đi học đúng độ tuổi
Mầm non Số đi học nhà trẻ đúng độ tuổi
Số 6 tháng - 3 tuổi
Số đi học mẫu giáo đúng độ tuổi
Số 4 - 5 tuổi
Tiểu học Số đi học tiểu học đúng độ tuổi
Số 6 - 10 tuổi
Trung học cơ sở Số đi học trung học cơ sở đúng độ tuổi

Đánh giá mức độ công bằng trong khả năng tiếp cận giáo dục giữa nhóm
trẻ em nghèo và không nghèo. Đường cong này biểu diễn tỷ lệ % tích lũy của
biến giáo dục trên trục tung (y) và tỷ lệ tích lũy của nhóm dân số tương ứng
trên trục hoành (x), được sắp xếp theo nhóm thu nhập, bắt đầu từ nhóm nghèo
nhất cho tới nhóm giàu nhất trong dân số. Ví dụ như đường cong Loren có thể
chỉ ra tỷ lệ % tích lũy của nhóm trẻ nghèo nhất đi học mẫu giáo đúng độ tuổi
tương ứng với tỷ lệ % tích lũy nhóm nghèo nhất từ 3-6 tuổi. Nếu tất cả trẻ em,
không phân biệt mức thu nhập , có tỷ lệ % tích lũy đi học mẫu giáo bằng nhau
ở tất cả các nhóm thì sẽ hình thành nên một đường thẳng 45
0
, chia đôi trục
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hoành thành hai đường bằng nhau, gọi là đường công bằng. Còn nếu tỷ lệ %
tích lũy của biến giáo dục có giá trị thấp hơn ( cao hơn ) trong số những người
nghèo thì đường cong sẽ nằm ở dưới đường công bằng, thể hiện tình trạng
khó ( dễ ) tiếp cận với giáo dục hơn đối với người nghèo. Đường cong nằm
càng xa đường công bằng bao nhiêu, càng thể hiện nhóm người nghèo khó
tiếp cận hơn với giáo dục bấy nhiêu
4.2.3 Chỉ số đánh giá khả năng tiếp cận giáo dục của nhóm nghèo và không
nghèo ( EAAI)
Chỉ số này được xây dựng dựa trên nguyên tắc chuyển các tỷ lệ thành chỉ số
rồi tổng hợp thành một chỉ số duy nhất theo các trọng số thể hiện mức độ
quan trọng của từng tỷ lệ.
Các tỷ lệ được chuyển thành chỉ số theo công thức sau :

T
max
- T
th

= 4
Sau khi có đầy đủ các chỉ số tổng hợp, chúng ta tiến hành tính chỉ số đánh
giá khả năng tiếp cận giáo dục EAAI theo công thức bảng dưới, trong đó các
trọng số C
i
được xác định với giả thiết rằng giáo dục mầm non và giáo dục
tiểu học là các dịch vụ xã hội cơ bản và đóng vai trò quan trọng hơn giáo dục
cấp phổ thông
Bảng 1.2: Hệ thống chỉ số đánh giá khả năng tiếp cận giáo dục
Tên chỉ số Chỉ số nhập
học (d)
Chỉ số bỏ học
( b)
Chỉ số tổng hợp = chỉ
số bỏ học - chỉ số nhập
học
Khả năng tiếp
cận giáo dục
mầm non (I
1
)
I
1d
NA
Khả năng tiếp
cận giáo dục
tiểu học (I
2
)
I

0.9 biểu thị khả năng tiếp cận giáo dục khá, khoảng từ 0.9 đến 1 biểu thị khẳ
năng tiếp cận giáo dục tốt. Nếu chỉ số có giá trị âm, chỉ số nhập học còn lớn
hơn chỉ số bỏ học, chứng tỏ khả năng tiếp cận giáo dục quá kém.
Bảng 1.3: Trọng số các thành tố phản ánh khả năng tiếp cận giáo dục
Các thành tố Trọng số ( C
i
) Các thành tố Trọng số C
i
Mầm non 0.35 Trung học cơ sở 0.2
Tiểu học 0.35 Trung học phổ
thông
0.1
Nguồn: nghiên cứu tăng cường khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em
nghèo Hà Nội - Trần Xuân Cầu
5. Kinh nghiệm của thế giới về tăng cường khả năng tiếp cận giáo dục
của trẻ em nghèo
Trên thế giới hiện nay còn khoảng hơn 2 tỷ người sống trong nghèo khổ,
vì thế mà lượng trẻ em nghèo còn rất nhiều. Vấn đề tiếp cận giáo dục của trẻ
em nghèo là một chủ đề được chính phủ nhiều nước trên thế giới quan tâm thể
hiện bằng nhiều chương trình chính sách cụ thể. Dưới đây là kinh nghiệm của
một số nước và những bài học bổ ích cho Việt Nam. Các chương trình của họ
đã được thực hiện rất thành công, có chương trình chỉ tập trung vào đối tượng
trẻ em nghèo như Mêhicô, Brazil. Cũng có chương trình không tập trung hẳn
vào đối tượng trẻ em nghèo nhưng có tác động sâu sắc tới đối tượng này vì có
nhiều vấn đề liên quan đến giáo dục không chỉ liên quan đến trẻ em nghèo đó
là các chương trình của Hàn Quốc…
5.1 Kinh nghiệm của các nước
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
5.1.1. Kinh nghiệm của Mêhicô

Đặc biệt gần 60% các khoản trợ cấp của chương trình được tài trợ cho nhóm
20% dân số nghèo nhất và hơn 80% ngân sách 40% dân số nghèo nhất.
Kết quả của chương trình này được đánh giá rất cao. Tỷ lệ nhập học của
các em gái đã tăng từ 67% lên gần 75% và của các em trai tăng từ 73% lên
78%. Chương trình đã có tác dụng chủ yếu là giữ được học sinh ở trường, chứ
không khuyến khích những học sinh bỏ học quay lại lớp.
Như vậy có thể thấy chương trình trợ cấp bằng tiền có điều kiện có thể là
một cách hữu hiệu để thúc đẩy các kết quả về giáo dục cho người nghèo.
Thành công của chương trình Progresa đã dẫn đến sự ra đời của nhiều chương
trình tương tự ở các nước châu Mỹ La Tinh khác như Côlômbia, Jamaica…
5.1.2 Kinh nghiệm của Brazil
Ở Brazil tình trạng lao động trẻ em là một vấn đề bức xúc nhất là ở vùng
nông thôn. Nhận thức được nguyên nhân của lao động trẻ em là do nghèo đói
và tình trạng này cũng ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng giáo dục, năm 1996
chính phủ Brazil đã đưa ra chương trình ''Xóa bỏ lao động trẻ em''( PETI ).
Chương trình này được khởi xướng tại các vùng nông thôn với mục tiêu tăng
thành tích giáo dục giảm nghèo và xóa bỏ ''các hình thức tồi tệ nhất'' của lao
động trẻ em.
Chương trình cung cấp khoản tiền bồi dưỡng với mức xấp xỉ 25 Ringit
một tháng cho các gia đình nghèo có trẻ em trong độ tuổi từ 7 đến 14 và đang
phải lao động; tiền được trao cho mẹ của những đứa trẻ là đối tượng hưởng
thụ của chương trình. Để đủ tiêu chuẩn nhận tiền tất cả trẻ em trong độ tuổi đi
học trong gia đình phải đi học, tham gia vào các hoạt động sau giờ lên lớp và
phải nhất trí không làm việc. Các hoạt động sau giờ lên lớp là một cách thức
để đảm bảo rằng trẻ em không kết hợp đi học với việc đi làm. Chương trình
25

Trích đoạn Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xóa đói giảm nghèo Tăng cường và phân bổ hợp lý ngân sách Giải pháp về phía nhà cung cấp dịch vụ cơ sở
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status