Giải pháp tăng cường khả năng tiếp cận giáo dục cho trẻ em nghèo tại tỉnh Lạng Sơn - Pdf 49

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“Hiền tài là nguyên khí quốc gia” Mọi chiến lược phát triển của các quốc gia đều
hướng tới phát triển con người, lấy con người làm trung tâm. Thực tế cũng đã chứng
minh rằng ở các nước đang phát triển , các nước công nghiệp mới ,chính sách đầu tư
phát triển cho con người đã mang lại những hiệu quả to lớn về kinh tế- xã hội. Vì thế ,
giáo dục đã trở thành chìa khóa của sự thịnh vượng cho mỗi quốc gia. Ở Việt Nam
giáo dục cũng luôn được coi là quốc sách hàng đầu , là sự ưu tiên số một trong quá
trình phát triển đất nước. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính
sách, chương trình đầu tư, phát triển cho giáo dục, phổ cập giáo dục ở các cấp học,
đảm bảo cho mọi thành viên trong xã hội đều được tiếp cận với giáo dục. Tuy nhiên
trong tình trạng đất nước chưa phát triển, nghèo đói vẫn còn hoành hành thì những cố
gắng ,nỗ lực của Nhà nước vẫn là chưa đủ. Cùng với tình trạng nghèo về kinh tế đó là
tình trạng nghèo về giáo dục, rất nhiều trẻ em nghèo đã không có đủ khả năng để tiếp
cận với giáo dục nhất là ở những vùng sâu vùng xa, vùng biên giới, hải đảo ,vùng kinh
tế xã hội đặc biệt khó khăn. Và Lạng Sơn là một tỉnh như vậy. Với đặc điểm kinh tế,
xã hội, địa hình không thuận lợi,giao thông chia cắt , đời sống của người dân nơi đây
còn nhiều khó khăn vất vả. Vì thế mà khả năng tiếp cận với giáo dục của các trẻ em
nghèo nơi đây cũng rất hạn chế .Điều này đã làm cho người dân nghèo mãi luẩn quẩn
trong vòng đói nghèo. Chỉ khi nào nghèo giáo dục được giải quyết triệt để thì tình
trạng nghèo chung mới có tiền đề được giải quyết tận gốc, người nghèo mới có cơ hội
để thoát nghèo bền vững. Tuy nhiên để làm được điều đó không phải là điều đơn
giản , có thể làm trong một sớm một chiều được mà nó luôn cần sự chung tay, góp sức
của tất cả các cấp, các ngành và toàn thể xã hội, trong đó có sự tham gia quan trọng
của ngành công tác xã hội, moth ngành khoa học ứng dụng luôn hướng tới những đối
tượng yếu thế trong xã hội, với mục tiêu xây dựng xã hội ngày một thêm công bằng và
tốt đẹp hơn.
Chính vì những lý do trên mà em đã chọ đề tài : “ Giải pháp tăng cường khả năng tiếp
cận giáo dục cho trẻ em nghèo tại tỉnh Lạng Sơn” để nghiên cứu và làm đề tài tiểu
luận của mình.



Qua nhiều cuộc khảo sát, nghiên cứu, khái niệm nghèo đói được công nhận phổ biến
là:
Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu
cầu cơ bản của con người và có mức sống không ngang bằng với mức sống tối thiểu
của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
Khái niệm về hộ nghèo: Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thoả mãn
một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung
bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
Ngoài ra , Việt Nam còn có những tiêu chuẩn để xác định xã nghèo, huyện nghèo,
Chuẩn nghèo mới nhất được áp dụng theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về chuẩn
hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015: - Hộ nghèo ở nông thôn là
hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4,8 triệu
đồng/người/năm) trở xuống. - Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân
từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6 triệu đồng/người/năm) trở xuống. - Hộ cận nghèo
ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000


đồng/người/tháng. - Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ
501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng. Mức chuẩn nghèo quy định nêu trên là
căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác.
Hiện nay Việt Nam đang tiếp cận vấn đề nghèo theo hướng nghèo đa chiều
Tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 gồm tiêu
chí về thu nhập, mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.
Tiêu chí về thu nhập, chuẩn nghèo ở khu vực nông thôn là 700.000 đồng/người/tháng;
khu vực thành thị 900.000 đồng/người/tháng. Chuẩn cận nghèo khu vực nông thôn là
1.000.000 đồng/người/tháng; khu vực thành thị 1.300.000 đồng/người/tháng. Tiêu chí
mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm 5 dịch vụ: y tế, giáo dục,
nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin. Chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ
xã hội cơ bản gồm 10 chỉ số: Tiếp cận các dịch vụ y tế; BHYT; trình độ giáo dục của
người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân

gây nguy hiểm nhiều nhất cho trẻ em, khiến trẻ em không thể hưởng những quyền của
mình, không thể phát huy hết khả năng của bản thân cũng như không thể tham gia xã
hội như những thành viên đầy đủ''.
Ở Việt Nam, trẻ em nghèo là những trẻ em sống trong các hộ gia đình nghèo, theo các
tiêu chí xác định hộ nghèo trong từng giai đoạn nhất định.
Khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục là việc tiếp cận tới dịch vụ giáo dục một cách dễ
dàng, không có những rào cản trong điều kiện và khả năng khác nhau của người học.
Chỉ số nghèo về giáo dục được đo bằng tỷ lệ trẻ em không tới trường đúng độ tuổi
hoặc trẻ từ 11- 15 tuổi không hoàn thành chương trình tiểu học. Trẻ em không tới
trường theo đúng độ tuổi được định nghĩa là trẻ: 5 tuổi không đi học mẫu gióa hoặc
nhà trẻ; 6-10 tuổi không đi học tiểu học; 11-15 tuổi không đi học trung học cơ sở.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Tình trạng nghèo trên thế giới và Việt Nam
2.1.1. Tình trạng nghèo trên thế giới
Theo số liệu thống kê của WB (WB) năm 1981 trên thế giới có 1,5 tỉ người nghèo
tương ứng với 40% dân số thế giới, năm 1993 số người nghèo là 1,314 tỉ người (29%
dân số thế giới), đến năm 2001 có 1,1 tỷ người (21% dân số thế giới) có thu nhập ít
hơn 1 đô la Mỹ tính theo sức mua địa phương và vì thế được xem là rất nghèo. Phần
lớn những người nghèo này sống tại Châu Phi, Châu Á. Trong khi nhờ vào tăng
trưởng kinh tế tại nhiều vùng của Châu Á, tỷ lệ người nghèo giảm xuống rõ rệt (từ
58% xuống còn 16% tại Đông Á) thì con số những người nghèo nhất lại tăng lên ở
châu Phi (gần gấp đôi từ 1981 đến 2001 phía Nam sa mạc Sahara). Tại Đông Âu và
Trung Á con số những người nghèo nhất đã tăng lên đến 6% dân số năm 2004. Nếu
như đặt ranh giới nghèo là 2 đô la Mỹ mỗi ngày thì có tổng cộng là 2,7 tỉ người nghèo,


gần một nửa dân số thế giới. Nhưng trong năm 2008, năm đầu tiên của cuộc khủng
hoảng tài chính và lương thực trên thế giới thì cả số lượng và tỷ lệ người có mức sống
dưới 1,25 USD/ngày (mức được xếp loại nghèo đói theo chuẩn giá cả năm 2005) đã
giảm trên mọi khu vực của thế giới. Theo WB ước tính năm 2010, tình trạng nghèo


Theo số liệu vừa được công bố, có tới 1,1 triệu trẻ em Việt Nam độ tuổi từ 5-14 tuổi
chưa từng được đến trường học hoặc đã bỏ học.
Trong số này, tỷ lệ trẻ em 5 tuổi ngoài nhà trường chiếm 12,19% tổng số trẻ cùng độ
tuổi, tỷ lệ trẻ ngoài nhà trường ở độ tuổi từ 6 đến 10 tuổi là 3,97%; từ 11 đến 14 tuổi là
11,17%.
Số liệu này vừa được công bố tại “Hội thảo Báo cáo Trẻ em ngoài nhà trường: nghiên
cứu của Việt Nam, ” do Bộ Giáo dục và Đào tạo và UNICEF phối hợp tổ chức sáng
nay, ngày 11/9, tại Hà Nội. Cũng theo báo cáo này, tỷ lệ trẻ em chưa bao giờ đi học
khá cao. Cả nước có 2,57% trẻ em từ 5 đến 17 tuổi chưa bao giờ đi học. Trẻ em chưa
từng đi học, bỏ học hoặc có nguy cơ bỏ học gồm những trẻ em nghèo, sống ở các khu
vực xa xôi hẻo lánh, trẻ em dân tộc thiểu số, khuyết tật, phải lao động, trẻ em di cư.
Đánh giá giữa kỳ chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo và chương trình 135
II cho thấy 2/3 trẻ em nghèo không có tranh truyện hoặc sách cho trẻ em. Trẻ em
nghèo thì càng lên bậc học cao hơn thì tiếp cận giáo dục càng kém. Nếu như ở bậc tiểu
học số trẻ em đến trường của nhóm nghèo và nhóm không nghèo không chênh lệch
nhiều, thì lên bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông thì sự chênh lệch càng rõ.
Trong số trẻ em từ 3 đến 6 tuổi có 14,2% không đi học mẫu giáo tập trung chủ yếu
vào trẻ em thuộc các hộ dân tộc thiểu số và các vùng nông thôn.Dân tộc Mông có tỷ lệ
trẻ em từ 5 đến 17 tuổi chưa bao giờ đi học cao nhất trong các nhóm dân tộc thiểu số
chính, chiếm 23,02% tổng số trẻ trong độ tuổi. Điều này có nghĩa gần 1/4 số trẻ em
dân tộc Mông ở độ tuổi đi học nhưng chưa từng đi học bất cứ một loại trường lớp nào.
Thực tế là trẻ em là người dân tộc thiểu số chiếm hơn 60% tổng số trẻ em nghèo ở
Việt Nam. Do gặp phải khó khăn về ngôn ngữ và đường đi học xa và khó khăn nên
chỉ có hơn 60% trẻ em dân tộc thiểu số hoàn thành tiểu học trong khi đó tỷ lệ này ở trẻ
em người Kinh là 86%. Tỷ lệ trẻ em đi học trung học ở dân tộc thiểu số là 65% và ở
trẻ em người Kinh là gần 82%. Ngoài ra, do chi phí giáo dục cao nên gần 1/3 số hộ gia
đình dân tộc thiểu số có một con bỏ học trước khi học hết một lớp trong khi tỷ lệ này
ở các gia đình người Kinh là 16%.
. Một tình trạng nhức nhối đang được quan tâm là hiện tượng học sinh bỏ học hàng

chiếm 8,87% và 7,63% hộ thuộc diện đối tượng đặc biệt khó khăn. Nguyên nhân chủ
yếu dẫn đến nghèo là thiếu vốn, thiếu đất sản xuất và thiếu kinh nghiệm làm ăn. Theo
Kết quả tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo cuối năm 2015, toàn tỉnh có 48.827 hộ
nghèo, chiếm tỷ lệ 25,95% và 23.885 hộ cận nghèo, chiếm 12,69% tổng số hộ toàn
tỉnh. Những hộ nghèo, cận nghèo chủ yếu tập trung ở các xã vùng cao, biên giới, khu
vực các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Qua đánh giá, ngoài thu
nhập dưới chuẩn nghèo, hộ nghèo chủ yếu còn thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản cao
như y tế; giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, tiếp cận thông tin.
3.2.

Các chính sách hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo tại Tỉnh Lạng Sơn
Lạng Sơn đã triển khai một cách có hiệu quả các chương trình hỗ trợ giảm nghèo của
Nhà nước. Công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện Chương trình 135 phù hợp với điều


kiện thực tế của mỗi địa phương, đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ, đồng thời
xác định đúng đối tượng thụ hưởng
Việc triển khai thực hiện Quyết định số 28/2013 của UBND tỉnh về chính sách hỗ trợ
phát triển sản xuất đối với DTTS vùng khó khăn trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2014 2015. Với phương thức hỗ trợ trực tiếp bằng hiện vật (cây giống, con giống, phân
bón) cho các hộ nghèo DTTS có dân số dưới 10% tổng số dân toàn tỉnh để phát triển
sản xuất. Công tác khuyến nông, khuyến lâm, hỗ trợ phát triển sản xuất được trú trọng
đã làm thay đổi dần tập quán canh tác và nhận thức của người dân vùng đồng bào dân
tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Đặc biệt là các hộ nghèo có điều kiện tiếp cận những
tiến bộ của khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất, không chỉ mang lại lợi ích kinh tế
trước mắt mà quan trọng hơn là được tiếp cận với phương thức canh tác mới, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay thế bằng những giống cây trồng mang lại giá trị
và hiệu quả kinh tế ngày càng cao trên một đơn vị diện tích canh tác Trong năm 2009,
toàn tỉnh đã xây dựng được 16 mô hình chuyển giao khoa học kỹ thuật, với 677 hộ
được hưởng lợi; mở 76 lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật với 3.358 lượt
người tham gia.

một cách tích cực, mang lại những thành tựu đáng kể cho công tác xóa đói, giảm
nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Khi tình trạng nghèo đói
trong dân cư đã suy giảm thì các hậu quả do nghèo đói gây ra cũng được giảm đi,trong
đó có tình trạng khó khăn trong tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo.
3.3. Các chính sách, chương trình hỗ trợ trẻ em nghèo tiếp cận giáo dục tại tỉnh
Lạng Sơn
Tỉnh Lạng Sơn thực hiện chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập cho
các em học sinh, sinh viên đang học tập tại các trường, cơ sở giáo dục trên địa bàn
tỉnh theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ về cơ chế thu,
quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính
sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015 - 2016 đến năm học
2020 - 2021. Học sinh vùng đặc biệt khó khăn đều được hỗ trợ gạo, sách vở, miễn và
giảm chi phí học tập; hằng năm, thu hút hàng nghìn con em đồng bào các dân tộc
vùng cao, vùng khó khăn đến trường.


Kêu gọi, khuyến khích sự tham gia hỗ trợ, ủng hộ cho các em học sinh nghèo từ các tổ
chức, đoàn thể, các doanh nghiệp trên địa bàn trong và ngoài tỉnh. Xã hội hoá giáo
dục đã thúc đẩy phong trào học tập, phong trào xây dựng cơ sở vật chất trường học và
bước đầu đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho phát triển giáo dục nói chung và hỗ
trợ tiếp cận giáo dục cho trẻ em nghèo trên đại bàn tỉnh.
Thành lập Hội khuyến học tỉnh, huyện, xã đến các thôn, xóm, dòng họ. Hội đồng giáo
dục, Hội khuyến học hoạt động tích cực và bước đầu có hiệu quả.
Triển khai có hiệu quả chương trình kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho
giáo viên theo Quyết định số 20/2008/QĐ-TTg ngày 01/02/2008 của Thủ tướng Chính
phủ .
Đầu tư kiên cố hóa cơ sở vật chất cho các trường học. Thực hiện đổi mới chương trình
giáo dục phổ thông, các trường được cấp đủ các bộ thiết bị dạy học theo quy định đối
với mỗi cấp học, tuy nhiên các thiết bị dạy học được trang bị lâu ngày, không được
trang bị bổ sung, đồng thời công tác bảo quản, sửa chữa không tốt, nên đã xuống cấp,

Sơn

Mạng lưới trường học của tỉnh Lạng Sơn: Năm học 2010 - 2011, tỉnh Lạng Sơn có
650 trường (tăng 252 trường so với năm 2001) và 9 cơ sở mầm non tư thục. Trong đó:
139 trường mầm non (MN); 246 trường tiểu học (TH); 24 trường phổ thông cơ sở
(PTCS); 202 trường trung học cơ sở (THCS); 25 trường trung học phổ thông (THPT);
11 Trung tâm giáo dục thường xuyên (TT GDTX); 01 Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp –
hướng nghiệp; 01 trường Cao đẳng sư phạm (CĐSP) và 01 trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật tỉnh.
Mức độ tiếp cận giáo dục mầm non của trẻ em nghèo: Mặc dù đây là một cấp học
quan trọng với trẻ em , là tiền đề bước đầu của quá trình xã hội hóa với các em cũng là
sự làm quen, học tập đầu tiên với chữ phổ thông, một bước chuẩn bị quan trọng cho
quá trình học tập sau này của trẻ khi mà trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có đến hơn một
nửa là người dân tộc thiểu số Nhưng do những sợ khó khăn nhất định mà vẫn còn rất
nhiều những trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo vẫn chưa được tới trường. Nhất là ở những
xã xã xôi, hẻo lánh, kinh tế đặc biệt khó khăn của tỉnh . Tiêu biểu như xã Vũ Lăng và
Vũ Lễ của huyện Bắc Sơn .CDECC(trung tâm phát triển cộng đồng và trẻ em) đã khảo
sát công tác Bảo vệ trẻ em dân tộc thiểu số tỉnh Lạng Sơn (xã Vũ Lăng và xã Vũ
Lễ, huyện Bắc Sơn), tháng 4/2009. Một kết quả điều tra liên quan đến mức độ tiếp cận
giáo dục của trẻ em ghèo ở đây cho thấy
Xã Vũ Lăng trẻ trong độ tuổi học mẫu giáo chưa được đến trường 10.41%, xã Vũ Lễ
12.88% và phần lớn các em thuộc các gia đình hộ nghèo, hộ cận nghèo trong xã.
Nhiều xã ở khu vực khó khăn, khu vực đặc biệt khó khăn và khu vực biên giới chưa
có trường mầm non. Những nơi này, giáo dục mầm non gắn với trường phổ thông; các
nhóm trẻ, lớp mẫu giáo chưa có phòng học riêng mà sử dụng chung lớp học với cấp
tiểu học hoặc học nhà văn hóa thôn, do vậy chất lượng giáo dục mầm non ở khu vực


này có rất nhiều hạn chế và việc huy động trẻ em trong độ tuổi đi học nhà trẻ, mẫu
giáo gặp nhiều khó khăn.
Tại các xã nghèo, đa số trẻ em chỉ đi học mầm non ở các lớp mẫu giáo lớn , số học

trung học cơ sở phải học ghép, học chung với nhau trong một lớp. Các công trình
phục vụ học tập như: thư viện, phòng thí nghiệm và các công trình phụ trợ còn thiếu
quá nhiều, chưa ñáp ứng ñược yêu cầu thực tế hiện nay. Tình trạng lớp học xuống cấp,


không đảm bảo chất lượng cũng không phải là hiếm gặp. Chính chất lượng không đảm
bảo của hệ thống trường lớp đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập của các em
học sinh, đồng thời cũng gây khó khăn trong việc kêu gọi,vận động các em học sinh
nghèo tới lớp học.

Hình ảnh Trường Tiểu học Nà Lốc huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn với 8 lớp học 2
phân trường. 2 lớp mầm non và 6 lớp tiểu học
Đội ngũ giáo viên giảng dạy còn thiếu và yếu: Mặc dù tỉnh cũng đã có nhiều chính
sách ưu đãi, thu hút giáo viên lên các vùng xa xôi, hẻo lánh, cắm bản để giảng dạy,
mang con chữ đến cho các em học sinh nghèo. Nhưng đội ngũ giáo viên vẫn còn thiếu
và yếu về chất lượng, nhất là ở các bản,xã khó khăn.
3.4.2. Các nguyên nhân đến từ các yếu tố ngoài sư phạm
Khả năng chi trả cho giáo dục của các hộ gia đình nghèo hay chính là tình trạng
nghèo của các hộ gia đình: với các hộ gia đình nghèo, việc đảm bảo chi tiêu cho các
nhu cần sinh hoạt cơ bản hàng ngày của gia đình đã là một sự khó khăn. Vì thế , khả
năng chi trả cho các dịch vụ giáo dục của các gia đình nghèo cho con em mình là rất
hạn chế. Mặc dù trẻ em nghèo đã được hỗ trợ rất nhiều như miễn , giảm học phí, hỗ
trợ chi phí học tập…nhưng với các khoản chi phí khác như: mua sách, vở. chi phí ăn
uống, đi lại…. vẫn là những thách thức to lớn ngăn cản chúng đến trường và theo đuổi
các bậc học.


Nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục: trước hết đó là sự nhận thức của các bậc
phụ huynh: các trẻ em nghèo thường được sinh ra trong các gia đình mà bố mẹ chúng
cũng ít được tiếp cận giáo dục, trình độ văn hóa thấp. Chính vì thế mà nhận thức của

baodatviet.vn, 2013)
Sự bất bình đẳng giới: Tỉnh Lạng Sơn nhìn chung thì điều kiện kinh tế xã hội còn
nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp nhất là ở vùng dân tộc thiểu số, tình trạng trọng
nam khinh nữ còn khá nặng nề: chính điều này đã làm hạn chế đi rất nhiều khả năng
được tiếp cận giáo dục của trẻ em gái nhất là các trẻ em gái nghèo. Khi mà kinh tế gia
đình không đủ khả năng để chi trả cho việc học hành của tất cả các thành viên thì đối
tượng được ưu tiên đi học sẽ là con trai còn con gái sẽ phải nghỉ ở nhà phụ giúp lao
động thay vì tiếp tục được tới trường. Bên cạnh đó , tình trạng tảo hôn, kết hôn sớm ở
các trẻ em gái cũng là một cản trở cơ hội được tiếp cận giáo dục của các em . Đây là
lý do chính cho rất nhiều trường hợp các em học sinh nữ bỏ học ở Lạng Sơn trong
những năm qua, nhất là với các em ở cấp cuối bậc trung học cơ sở.
Sự khác biệt về ngôn ngữ, dân tộc: Dân số của tỉnh Lạng Sơn đa phần là người dân tộc
thiểu số, chính vì thế mà việc học tập ngôn ngữ phổ thông (tiếng kinh) với các em học
sinh ở đây gặp rất nhiều khó khăn. Khả năng sử dụng tiếng phổ thông trong quá trình
học kém đã làm cho các em tiếp thu kiến thức bài học khá chậm, lực học kém đã làm
cho nhiều em học sinh chán nản, không hứng thú học tập dẫn tới bỏ học .Cũng chính
vì sự bất đồng ngôn ngữ đã làm cho các giáo viên rất khó khăn trong việc giảng dạy
truyền đạt kiến thức cho các em học sinh nhất là ở bậc mẫu giáo và tiểu học khi khả
năng sử dụng tiếng kinh của các em còn rất hạn chế. Bên cạnh đó ,sự bất đồng ngôn
ngữ cũng làm cho công tác vận động phụ huynh cho con em mình đi học của các giáo
viên gặp khó khăn và chưa hiệu quả.
Những bất cập trong chính sách: Các chính sách vẫn chưa đến được hết tất cả các trẻ
em nghèo do sự hạn chế về nguồn lực.
Vẫn có nhiều bất cập trong nội dung và việc triển khai các chính sách: các chương
trình, chính sách đãi ngộ cho giáo viên tại các vùng khó khăn còn nhiều hạn chế.


Các giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục cho trẻ em nghèo còn chưa
bao quát mà mới chỉ tập trung vào việc hỗ trợ về chi phí, vật chất cho các em. Công
tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho các bậc phụ huynh và bản thân các em học

huy động được nội lực của chính mỗi hộ gia đình, mỗi công đồng và tại mỗi khu vực.
Cần đầu tư thúc đẩy nhanh việc phát triển nghề công tác xã hội để cung cấp dịch vụ
trợ giúp trẻ em nghèo, trẻ em sống trong các gia đình có thu nhập thấp.
Cải thiện điều kiện sống và làm việc của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên: thực
hiện tốt các chương trình thu hút, đãi ngộ cho các giáo viên .
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về tầm quan trọng và lợi ích do giáo dục mạng lại
cho người nghèo: có những hình thức, cách thức tuyên truyền cho phù hợp, hiệu quả
đối với các bậc phụ huynh và cả các các em học sinh.


3.6.

Vai trò của ngành công tác xã hội trong việc nâng cao khả năng tiếp
cận giáo dục cho trẻ em nghèo tại tỉnh Lạng Sơn

Vai trò của NVCTXH trong việc nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục cho trẻ em
nghèo
Vai trò giáo dục: cung cấp những kiến thức, kỹ năng trong việc giúp người dân làm ăn
kinh tế, cải thiện cuộc sống, vươn lên thoát nghèo. Cùng với đó NVCTXH còn là
người giáo dục, thay đổi nhận thức của người dân về tầm quan trọng và lợi ích của
giáo dục.
Vai trò biện hộ: Những người nghèo thường là những người có ít hoặc không có tiếng
nói trong xã hội. Vì thế, NVCTXH cần thể hiện được vai trò biện hộ của mình trong
việc giúp người dân được nói lên tiếng nói của họ, Đồng thời giúp họ đề xuất những ý
kiến, mong muốn lên tới các cơ quan, đơn vị và biện hộ để họ nhận được những quyền
lợi của mình, để cho các em học sinh nghèo được tiếp cận được những quyền lợi của
mình.
Vai trò biện hộ chính sách: NVCTXH sẽ có những đề xuất , kiến nghị và tham mưu
với các cơ quan chức năng có thẩm quyền về bổ sung, chỉnh sửa hay ban hành các
chính sách liên quan đến giảm nghèo, hỗ trợ tiếp cận giáo dục cho trẻ em nghèo.

cho trẻ em nghèo, một nhân tố quan trọng để thúc đấy chương trình giảm nghèo bền
vững. Đầu tư xây dựng , cải tạo hệ thống trường lớp, cải thiện hệ thống giao thông
giúp phát triển kinh tế cũng như giảm bớt những khó khăn, nguy hiểm trên con đường
tới trường cho các em học sinh nghèo.
Cải thiện mức lương cho giáo viên và có những chính sách hỗ trợ hơn nữa cho các
giáo viên công tác tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Từ đó thu hút nguồn
nhân lực sư phạm mạnh cả về số lượng và chất lượng cho các vùng khó khăn đó.
Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, khả
năng tuyên truyền cho đội ngũ cán bộ cơ sở, cho các giáo viên trong việc vận động
các em học sinh tới lớp.
Xã hội hóa các nguồn lực vào việc hỗ trợ người dân nghèo nói chung và các trẻ em
nghèo nói riêng tiếp cận với giáo dục, giảm đi tình trạng nghèo giáo dục trong nhân
dân.
Tận dụng hiệu quả sự giúp đỡ của các tổ chức phi chính phủ. Các tổ chức phi chính
phủ với tiềm lực tài chính, tính chuyên nghiệp về mặt kỹ thuật , cách thức triển khai.
Đã có rất nhiều dự án đến trẻ em nghèo,giúp trẻ em nghèo tiếp cận giáo dục từ các dự
án của NGOs, các tổ chức của UNICEF, PLAN…Nhà nước cần thu hút và điều kiện
tốt cho các tổ chức này hoạt động .
Với các cấp chính quyền tỉnh Lạng Sơn:
Đẩy mạnh các chương trình giảm nghèo trên địa bàn tỉnh. Tận dụng và sử dụng tối đa,
hiệu quả các nguồn lực hỗ trợ của Nhà Nước.
Tiếp tục và tăng cường hơn nữa cung cấp vở học tập cho học sinh ở các xã đặc biệt
khó khăn và các hộ gia đình nghèo và mở rộng việc cung cấp sách giáo khoa cho các
đối tượng này.
Phối hợp, kêu gọi sự chung tay , ủng hộ của các cá nhân, tổ chức, đơn vị các doanh
nghiệp trong và ngoài tỉnh chung tay, hỗ trợ vào chương trình giảm nghèo cũng như
hỗ trợ trẻ em nghèo tiếp cận giáo dục.


Cần khuyến khích một khoản trợ cấp ăn hàng tháng và quần áo cho trẻ em nghèo khi

Phát triển hơn nữa các dịch vụ cá nhân cho trẻ em nghèo. Giúp các em được tiếp cận
toàn diện hơn trong lĩnh vực giáo dục.

KẾT LUẬN


Thực hiện theo đúng những phương châm, những mong muốn của Hồ Chủ tịch kính
yêu đó là: “…mong muốn cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn
ấm no, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, Đảng và Nhà
nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách quan tâm đến người nghèo nói chung và
trẻ em nghèo nói riêng vì mục tiêu cuối cùng của quốc gia là tạo cho tất cả mọi người
có một cuộc sống đầy đủ, không ngừng nâng cao về đời sống vật chất và tinh thần của
người dân. Tuy vậy , vì nước ta vẫn còn nghèo, vẫn còn rất nhiều trẻ em không được
tới trường và chưa được đi học theo đúng nghĩa thực sự, rất nhiều những trẻ em
nghèo trên khắp đất nước còn chưa được tiếp cận giáo dục hoặc tiếp cận giáo dục một
cách chưa toàn diện. Chính cái nghèo , nghèo về kinh tế, nghèo trong giáo dục, nhận
thức, nghèo trong tiếp cận thông tin và nhiều nguyên nhân khác nữa đã đẩy các em rơi
vào cái vòng cái vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo mà chính bố mẹ các em cũng ở
trong đó. Một số lượng lớn những trẻ em nghèo – nhưng chủ nhân tương lai của Đất
nước sẽ chẳng được học hành, được phát triển toàn diện , sẽ rất khó để góp phần vào
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà còn rất dễ lại trở thành những đối tượng
của các tệ nạn xã hội, là nạn nhân của sự nghèo đói, của sự lạc hậu, trở thành lực cản,
gánh nặng cho sự phát triển của xã hội . Để giúp các trẻ em nghèo nâng cao được khả
năng tiếp cận với giáo dục, giúp các em trở thành những công dân tốt đóng góp tích
cực cho cộng đồng và xã hội. Chúng ta hãy cùng chung tay, góp sức hành động vì một
cơ hội bình đẳng trong tiếp cận giáo dục cho các trẻ em nghèo.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Văn Khảm, Công tác xã hội với người nghèo (2010), Tài liệu .vn
2. Thư viện pháp luật.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status