Khoá luận tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
**************
ĐỖ THỊ THU TRANG
TÌM HIỂU NHỮNG KHÓ KHĂN
TRONG GIAO TIẾP CỦA HỌC SINH
LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC
LƯU QUÝ AN, THỊ XÃ PHÚC YÊN,
TỈNH VĨNH PHÚC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tâm lý học
HÀ NỘI – 2008
Đỗ Thị Thu Trang 1 K30A
– GDTH
Khoá luận tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
**************
ĐỖ THỊ THU TRANG
TÌM HIỂU NHỮNG KHÓ KHĂN
TRONG GIAO TIẾP CỦA HỌC SINH
LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC
LƯU QUÝ AN, THỊ XÃ PHÚC YÊN,
TỈNH VĨNH PHÚC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tâm lý học
Người hướng dẫn khoa học:
Th.S HÀ KIM DUNG
HÀ NỘI – 2008
Đỗ Thị Thu Trang 2 K30A
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2008
Sinh viên
Đỗ Thị Thu Trang
Đỗ Thị Thu Trang 4 K30A
– GDTH
Khoá luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
Mở đầu 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4. Đối tượng, khách thể nghiên cứu 2
4.1. Đối tượng nghiên cứu 2
4.2. Khách thể nghiên cứu 2
5. Phạm vi nghiên cứu 2
6. ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3
7. Giả thuyết khoa học 3
8. Phương pháp nghiên cứu 3
9. Dự kiến dàn ý công trình nghiên cứu 4
Nội dung 5
Chương 1. Cơ sở lí luận 5
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.2. Những vấn đề lí luận chung 7
1.2.1. Giao tiếp là gì? 7
1.2.2. Các trở ngại trong giao tiếp 9
1.2.3. Đặc điểm giao tiếp của học sinh Tiểu học 11
1.2.4. Một số nét về nhân cách học sinh Tiểu học 12
Chương 2. Thực trạng khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4
trường Tiểu học Lưu Quý An, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
15
47
3.4.3. Kết quả thử nghiệm một số biện pháp tác động
nhằm giảm bớt khó khăn trong giao tiếp với gia đình
50
Kết luận và kiến nghị
53
1. Kết luận 53
2. Kiến nghị 54
Phụ lục
56
Phụ lục 1. Phiếu trng cầu ý kiến 56
Phiếu số 1 56
Phiếu số 2 60
Phụ lục 2. Một số trò chơi 62
1. Trò chơi: "Hiểu nhau" 62
2. Trò chơi: "Nếu thì " 63
3. Trò chơi: "Đặt tên cho bạn" 63
Tài liệu tham khảo
65
Th Thu Trang 6 K30A
GDTH
Khoá luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Thu Trang 7 K30A
– GDTH
Khoá luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Con người từ khi xuất hiện trên Trái đất, để có thể tồn tại và phát triển,
đã không ngừng nhận thức thế giới xung quanh cũng như thế giới bên trong
mình. Trong quá trình nhận thức, loài người phải tiến hành giao tiếp, không
chế khó khăn trong giao tiếp cho học sinh Tiểu học.
- Đề xuất một số giải pháp để giảm khó khăn của học sinh trong quá
trình giao tiếp.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận của đề tài.
- Xây dựng phiếu điều tra tìm hiểu khó khăn trong giao tiếp của học sinh
lớp 4.
- Tiến hành điều tra qua một số phương pháp nghiên cứu để lấy số liệu.
- Phân tích kết quả nghiên cứu để làm rõ khó khăn trong giao tiếp của
học sinh lớp 4 và nguyên nhân gây ra khó khăn này.
- Đề xuất một số biện pháp tác động nhằm giảm bớt khó khăn trong
giao tiếp của học sinh lớp 4.
4. Đối tượng, khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Quý
An, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu là học sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Quý An,
thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
5. Phạm vi nghiên cứu
Đỗ Thị Thu Trang 9 K30A
– GDTH
Khoá luận tốt nghiệp
- Nghiên cứu những khó khăn mà học sinh lớp 4 bậc Tiểu học gặp phải
trong giao tiếp với giáo viên, bạn bè và những người thân trong gia đình.
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nghiên cứu trên học sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Quý An, thị
xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc là quan trọng và cần thiết, trên cơ sở đó cung
cấp những kiến thức, hiểu biết cơ bản về khó khăn trong giao tiếp và việc điều
tra sẽ trang bị cho ta những hiểu biết về khó khăn trong giao tiếp của học sinh
9. Dự kiến dàn ý công trình nghiên cứu
Nội dung
Chương 1. Cơ sở lý luận
Chương 2. Thực trạng khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp
4 trường Tiểu học Lưu Quý An, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Chương 3. Một số tác động thử nghiệm nhằm hạn chế khó khăn
trong giao tiếp của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Quý An, thị xã
Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Kết luận và kiến nghị
1. Kết luận
2. Kiến nghị
Phụ lục
Tài liệu tham khảo
Đỗ Thị Thu Trang 11
K30A – GDTH
Khoá luận tốt nghiệp
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giao tiếp là vấn đề rất được các nhà nghiên cứu quan tâm. Cho đến
nay, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này và các công trình nghiên
cứu đó đều đem lại giá trị thực tiễn rất cao.
T.s Nguyễn Xuân Thức - ĐHSP Hà Nội đã có nhiều công trình nghiên
cứu về tâm lý giao tiếp của học sinh Tiểu học, trong đó có thể kể đến công
trình nghiên cứu "Khó khăn tâm lí của trẻ đi học lớp 1". Tác giả đã nhận xét:
"Trẻ gặp khó khăn trong việc thiết lập quan hệ giao tiếp với thầy cô và bạn bè,
đặc biệt là giao tiếp với giáo viên. Ở mẫu giáo, quan hệ cô - trò nặng về khía
cạnh tình cảm, dỗ dành và nhẹ về công việc. Nhưng khi đi học lớp 1, dù có
niềm nở và nhân hậu thì giáo viên vẫn là người có uy tín và nghiêm khắc, đưa
ra những nguyên tắc nhất định và ngăn chặn mọi hành vi vi phạm quy tắc nhà
nhận xét: "Hòa nhập vào tập thể lớp học, đối với trẻ, là một công việc chẳng
hề đơn giản chút nào so với việc học tập. Bởi lẽ, công việc này của trẻ diễn ra
một cách tự phát, âm thầm "sau cánh cửa" của lớp học, ngoài những hoạt
động "chính thức" của người học sinh, và ở đó, lần đầu tiên trong đời trẻ phải
tự lập lấy vị trí của mình mà không có được bất kì một sự quan tâm êm dịu
nào".
[11,tr68]
Đi sâu vào nghiên cứu "Nội dung giao tiếp của học sinh cuối Tiểu học",
Đào Thị Oanh nhận xét: "Nội dung giao tiếp của học sinh cuối bậc Tiểu học
khá đa dạng, phong phú. Những vấn đề được các em quan tâm, trao đổi, bàn
luận khi gặp nhau được nhóm lại và trải rộng từ lĩnh vực học tập của bản thân
(là nhiệm vụ chính của các em) đến những chuyện trong gia đình, trường lớp
của mình và xã hội".
Đỗ Thị Thu Trang 13
K30A – GDTH
Khoá luận tốt nghiệp
[12,tr34]
Điểm qua các công trình nghiên cứu đã cho thấy đặc điểm giao tiếp của
học sinh Tiểu học. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chưa xác định rõ khó
khăn, biểu hiện và nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong giao tiếp của học
sinh cuối bậc Tiểu học. Vì vậy, việc tìm hiểu những khó khăn trong giao tiếp
của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Quý An, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh
Phúc là việc làm cần thiết để xác định nội dung và phương pháp giáo dục phù
hợp nhằm hạn chế những khó khăn các em thường gặp phải trong giao tiếp,
giúp các em phát triển nhân cách hoàn thiện nhất.
1.2. Những vấn đề lí luận chung
1.2.1. Giao tiếp là gì?
Sống trong xã hội, con người không chỉ có quan hệ với thế giới sự vật,
hiện tượng bằng hoạt động có đối tượng, mà còn có quan hệ giữa con người
với con người, giữa con người với xã hội - đó là quan hệ giao tiếp.
4. Nhà nghiên cứu về sự giao tiếp ở trẻ em Perdonici (1963) đã định
nghĩa sự giao tiếp gắn liền với khái niệm "thông tin". Ông viết: "Giao tiếp là
xác lập mối quan hệ thông tin và tương hỗ giữa hai cá nhân hoặc giữa một cá
nhân với một nhóm người. Ở đây cần tránh một sự hiểu lập lờ do sự định
nghĩa đơn giản từ "thông tin", không sử dụng từ này với ý nghĩa thông dụng
trong báo chí, tức là thông báo về một biến cố xảy ra ở đâu đó. Thông tin là
sự biểu hiện cảm nhận được của một chức năng cao cấp nhất của con người,
là sự biểu hiện ý tưởng".
Đối với các nhà tâm lí học ứng dụng, sự giao tiếp được xem là một tập
hợp các quá trình nhằm truyền đạt và tri giác các thái độ, các niềm tin và các
ý định, dựa vào bộ máy sinh học - tâm lí chung của loài người, làm sao để cho
các bên đối thoại hiểu được nhau và đạt được các mục tiêu giao tiếp.
Đỗ Thị Thu Trang 15
K30A – GDTH
Khoá luận tốt nghiệp
Đối với các nhà tâm lí học nhân cách, giao tiếp là quá trình tác động
qua lại giữa người và người, thông qua đó sự tiếp xúc tâm lí được thực hiện
và các quan hệ liên nhân cách được cụ thể hóa.
[9,tr59]
Hybels và Weaver (1992) thì định nghĩa: "Giao tiếp là bất cứ quá trình
nào trong đó người ta chia sẻ thông tin, ý niệm và tình cảm; nó viện đến
không chỉ ngôn từ ở dạng khẩu ngữ và bút ngữ mà cả ngôn ngữ thân thể,
phong cách và kiểu cách cá nhân, ngoại cảnh và mọi thứ bổ sung ý nghĩa cho
thông điệp".
[13,tr2]
Như vậy, có thể thấy các định nghĩa nêu trên đều đã:
- Nêu bật được các đặc tính của giao tiếp.
- Nêu ra được các phương tiện hiện thực hóa giao tiếp.
- Nêu rõ được các cấp độ của giao tiếp.
Trong giao tiếp, con người không chỉ nhận thức được người khác, nhận
- Khả năng sáng tạo, thuật dùng các từ và tổ hợp từ, làm cho bản thông
điệp đem lại sự thú vị, mang tính văn học nghệ thuật của bài nói.
+ Các trạng thái tâm lí hiện hữu của từng người đối thoại. Về mặt sinh
lí, sự suy yếu các khả năng cảm nhận thị giác, thính giác, các tật chứng có liên
quan đến cơ quan phát âm (nói ngang, nói lắp…) là những trở ngại cho sự
trao đổi. Sự mệt mỏi do lao động chân tay căng thẳng có ảnh hưởng đến khả
năng tiếp thu thông tin.
Về mặt tâm lí, những yếu tố gây trở ngại trong giao tiếp là:
- Những chấn thương tình cảm.
- Những sự khác nhau về chính kiến, những xung đột.
Đỗ Thị Thu Trang 17
K30A – GDTH
Khoá luận tốt nghiệp
- Những sự tưởng tượng, sự đánh giá về người khác, những định kiến,
sự có thiện cảm hay ác cảm, chịu ảnh hưởng của khuynh hướng cá nhân của
người người đối thoại.
Các trở ngại do môi trường (tự nhiên và xã hội) có những yếu tố gây
nhiễu như:
- Các kích thích thị giác gây phân tán tư tưởng.
- Nhiệt đọ không khí quá cao, từ 26 đến 33
0
C làm giảm từ 28 đến 50%
khả năng tri giác thông tin.
- Tiếng ồn từ 70 đến 100 décibels làm cho số lượng các thông tin tiếp
thu sai lệch lên tới 40%.
- Đối tượng muốn nói rõ sự thật nhưng cảm thấy không an toàn vì sự có
mặt của một người thứ ba…
[9,tr59]
1.2.3. Đặc điểm giao tiếp của học sinh Tiểu học
Cuộc sống tâm lí của con người bắt đầu từ nhu cầu giao tiếp với con
cuộc sống của chúng - lứa tuổi thiếu niên.
Phạm vi giao tiếp của học sinh Tiểu học chưa rộng, chủ yếu trẻ quan hệ
giao tiếp hàng ngày với những người thân trong gia đình, với thầy cô giáo,
bạn cùng lớp, cùng làng, cùng phố. Nội dung giao tiếp của trẻ ở lứa tuổi này
tập trung xung quanh các vấn đề học tập và cuộc sống vui chơi, hoạt động tập
thể trong nhà trường hoặc ở địa phương.
1.2.4. Một số nét về nhân cách học sinh Tiểu học
Học sinh Tiểu học là một thực thể hồn nhiên, đang tiềm ẩn những khả
năng tốt đẹp cho sự phát triển mà ở trong nó hiện tồn tại một nhân cách đang
hình thành giữa những tác động muôn vẻ của giáo dục - đào tạo, của thực tại
khách quan không ngừng đổi mới và sôi động. Đối với các em, tất thảy những
gì của cuộc sống đều rất mới mẻ. Trẻ phải tham gia vào các mối quan hệ xã
Đỗ Thị Thu Trang 19
K30A – GDTH
Khoá luận tốt nghiệp
hội để chiếm lĩnh đối tượng vô cùng mới mẻ đó, nhằm chuyển tải những nội
dung ấy vào bên trong, biến thành những phẩm chất nhân cách của mình.
Trẻ sống bằng hiện tại của các hoạt động, các quan hệ để hướng về
tương lai - ngày mai. Cách nghĩ của trẻ nhi đồng không hướng về quá khứ nên
các em sống, hoạt động và quan hệ một cách vô tư và hồn nhiên. Trẻ em khi
tiếp nhận nội dung mới của đối tượng cũng sẽ vô tư, hồn nhiên như chính bản
chất của nó.
Trong thực tiễn, trẻ em tuổi nhi đồng luôn bộc lộ những nhận thức, tư
tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay
thẳng. Trẻ rất dễ xúc động và thích sống bằng tình cảm. Đời sống tình cảm
của học sinh tuổi nhi đồng mang tính cụ thể, trực quan và giàu cảm xúc. Tình
cảm của các em dễ nảy sinh, thiếu tính ổn định - bền vững. Tình cảm trí tuệ
của trẻ đang phát triển. K.Đ.Usinxki, nhà tâm lí học Liên Xô cũ đã cho rằng
các em tuổi nhi đồng đã biết suy nghĩ bằng hình ảnh, màu sắc, âm thanh của
đối tượng và bằng cảm xúc mạnh của chính mình. Trẻ thích tìm hiểu thông tin
Nhìn chung, có thể cho rằng, đối với học sinh Tiểu học, những gì có
được trong nhân cách đều cần phải có sự tác động giáo dục của mọi người
trong cộng đồng. Những gì sẽ có trong nhân cách vẫn còn đang ở phía trước
các em. Những gì sẽ có đều phải có được trong toàn bộ những thao tác giáo
dục của người lớn ở ngày hôm nay. Trong đó, những tác động giáo dục - đào
tạo của nhà trường Tiểu học giữ vai trò chủ đạo, hành động tự giáo dục của
các em là yếu tố trực tiếp quyết định và tác động giáo dục của mọi tổ chức -
cá nhân của cộng đồng nơi trẻ sống có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát
triển nhân cách của nhi đồng.
Đỗ Thị Thu Trang 21
K30A – GDTH
Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 2.
THỰC TRẠNG KHÓ KHĂN TRONG GIAO TIẾP CỦA HỌC SINH LỚP 4
TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯU QUÝ AN, THỊ XÃ PHÚC YÊN,
TỈNH VĨNH PHÚC
Trong chương này, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích kết quả nghiên cứu
để làm rõ khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu
Quý An, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Khách thể nghiên cứu là 65 học
sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Quý An, trong đó có 30 học sinh lớp 4A
1
và
35 học sinh lớp 4A
3
.
2.1. Biểu hiện của khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4
trường Tiểu học Lưu Quý An, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
2.1.1. Khó khăn trong giao tiếp với giáo viên
Khó khăn trong giao tiếp với giáo viên của học sinh lớp 4 trường Tiểu
học Lưu Quý An là có thực. Nó diễn ra ở nhiều khía cạnh với những mức độ
Nhìn vào bảng 1 ta thấy, trẻ gặp phải một số khó khăn trong giao tiếp
với giáo viên. Cụ thể là:
+ Trẻ cảm thấy lo lắng, sợ hãi khi mắc khuyết điểm mà bị giáo viên
phát hiện. Có 7,69% học sinh thường xuyên gặp phải khó khăn này; 73,85%
học sinh thỉnh thoảng gặp phải và 18,46% học sinh không bao giờ gặp phải
khó khăn trên. Qua thực tế quan sát chúng tôi thấy, trẻ thường cố gắng giấu đi
khuyết điểm mà mình mắc phải, tránh để giáo viên phát hiện. Chẳng hạn, khi
trẻ làm sai bài tập, không theo sự hướng dẫn của giáo viên, các em sẽ tìm
cách xóa bỏ lỗi sai như dùng bút tẩy để tẩy, dùng bút gạch bỏ phần sai, thậm
chí có em còn xé bỏ trang giấy đó. Khi trẻ gây lộn với bạn bè mà sau đó bị
giáo viên phát hiện thì trên nét mặt của trẻ lộ rõ sự căng thẳng, lo lắng về hình
phạt giáo viên sẽ đưa ra và ngay lập tức, các em sẽ có thái độ thân thiện trở
lại, cùng xin lỗi nhau và thực hiện lời hứa với giáo viên. Như vậy, tâm lí "lo
lắng, sợ hãi khi mắc khuyết điểm mà bị giáo viên phát hiện" là có thực ở các
em. Do giáo viên là người có uy tín và luôn nghiêm khắc với mọi hành vi sai
mà trẻ mắc phải, vì thế cần có biện pháp tác động kịp thời để làm giảm bớt
khó khăn này ở trẻ.
+ Trẻ thường cảm thấy "lúng túng, ngượng ngiụ khi tiếp xúc với giáo
viên". Kết quả nghiên cứu cho thấy: có 7,69% học sinh cảm thấy rất lúng túng
khi đang đi trên đường mà bất chợt gặp cô giáo; 4,62% học sinh cảm thấy
lúng túng, còn 87,69% học sinh thì không hề lúng túng, trái lại, tỏ ra rất tự tin
khi bất chợt gặp cô giáo. Như vậy, tâm lí này có xuất hiện ở trẻ, nhưng được
biểu hiện với tỉ lệ rất thấp. Hầu hết các em khi bất chợt gặp giáo viên trên
Đỗ Thị Thu Trang 23
K30A – GDTH
Khoá luận tốt nghiệp
đường đi thì đều chào hỏi rất lễ phép, dù đó có thể không phải là cô giáo trực
tiếp giảng dạy của các em.
+ Để tìm hiểu khó khăn: "Căng thẳng, sợ hãi khi giáo viên đặt câu hỏi"
ở trẻ, chúng tôi đã tiến hành điều tra qua câu hỏi: "Em cảm thấy như thế nào
quên không làm bài tập hoặc làm bài sai. Khi đó, trẻ thường đưa ra một số lí
do mà theo trẻ là "có tính thuyết phục nhất" để trình bày với giáo viên. Cũng
có khi, trẻ cảm thấy khó trình bày lời nói của mình với cô giáo là do trẻ bỗng
dưng quên mất điều định nói hoặc sợ rằng ý kiến của mình không đúng, cũng
có khi do vốn ngôn ngữ của trẻ không đủ nên trẻ không thể diễn đạt chính xác
những điều mình muốn nói. Vì vậy, trẻ cảm thấy rất khó nói khi đứng trước
giáo viên.
Như vậy, những khó khăn mà học sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Quý
An gặp phải trong giao tiếp với giáo viên là có thực. Những khó khăn này có
ảnh hưởng trực tiếp đến việc học tập cũng như sự hình thành nhân cách của
trẻ.
2.1.2. Khó khăn trong giao tiếp với bạn bè
Khó khăn trong giao tiếp với bạn bè của học sinh lớp 4 trường Tiểu học
Lưu Quý An thể hiện ở mối quan hệ của các em với các bạn cùng lứa tuổi.
Đỗ Thị Thu Trang 25
K30A – GDTH