Khóa luận tốt nghiệp Trần Thị Hoa – K30B GDTH
Lời cảm ơn
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy, Cô trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2 và các thầy cô giáo trường Tiểu học Thị Trấn
Sóc Sơn – Hà Nội, trường Tiểu học Cảnh Thuỵ – Bắc Giang. Qua
đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo Lê Bá
Miên – Giảng viên chính, Thạc sĩ môn Ngôn ngữ trường Đại học
Sư Phạm Hà Nội 2 đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong khoa Giáo
dục Tiểu học. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến
tập thể giáo viên và học sinh trường Tiểu học Thị Trấn Sóc Sơn
và trường Tiểu học Cảnh Thuỵ đã tạo điều kiện để tôi tiến hành
điều tra thống kê kết quả nghiên cứu của đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2008
Trường ĐHSP Hà Nội 2 K30B - GDTH
1
Khóa luận tốt nghiệp Trần Thị Hoa – K30B GDTH
Sinh viên
Lời cam đoan
Với thái độ và tinh thần làm việc nhiệt tình và nghiêm túc,
đặc biệt là sự hướng dẫn hết sức tận tình của ThS – GVC Khoa
Văn, thầy Lê Bá Miên, tôi đã hoàn thành đề tài “Tìm hiểu khả
năng xác định từ loại cơ bản của học sinh tiểu học lớp 4 trên
cơ sở các bài Tập đọc”. Tôi xin cam đoan kết quả này là của
riêng tôi, không trùng với kết quả của tác giả khác.
Hà Nội, ngày 29 tháng 4 năm 2008
Trường ĐHSP Hà Nội 2 K30B - GDTH
2
Khóa luận tốt nghiệp Trần Thị Hoa – K30B GDTH
Loại 2: Bài tập nhận biết hiện tượng chuyển loại giữa các
từ loại cơ bản
Kết luận chung
TàI liêu tham khảo
Phụ lục
Trường ĐHSP Hà Nội 2 K30B - GDTH
4
Khóa luận tốt nghiệp Trần Thị Hoa – K30B GDTH
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Quyết định số 2957/QĐ - ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã chỉ rõ vai trò và tính chất của Giáo dục Tiểu học:
Tiểu học là cấp học
nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện
nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắc cho Giáo dục Phổ thông và
cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân”. Vì vậy, giáo dục Tiểu học cần
được chuẩn bị tốt về mọi mặt để học sinh tiếp tục học lên trên.
Trong chương trình tiểu học, Tiếng Việt là một môn chính, chiếm
nhiều tiết trong tuần. Trong các giờ Tiếng Việt, nhà trường đã cung cấp
cho học sinh những kiến thức về ngôn ngữ như: kiến thức về ngữ âm, từ
vựng, ngữ pháp, tu từ học - phong cách học tiếng Việt, giữ gìn sự trong sáng
giàu đẹp của tiếng Việt.
Trong tiếng Việt, phân môn “Luyện từ và câu” có nhiệm vụ cung cấp
kiến thức tiếng Việt cho học sinh, trong đó có kiến thức về ngữ pháp học.
Trong lịch sử ngôn ngữ học, ngay từ thời Hi Lạp cổ đại, gắn liền với
sự ra đời và phát triển của ngữ pháp học, từ loại đã được nghiên cứu rất
sớm. Nó là một vấn đề cổ truyền bậc nhất của ngữ pháp học truyền thống.
ở tiếng Việt cũng như ở nhiều ngôn ngữ khác, từ loại được xem là một bộ
phận không thể thiếu được trong cơ cấu ngữ pháp học. Từ loại tiếng Việt
Khóa luận tốt nghiệp Trần Thị Hoa – K30B GDTH
2. Lịch sử vấn đề
Vấn đề từ loại là một vấn đề xa xưa và cổ truyền bậc nhất của ngữ
pháp học truyền thống.
Học thuyết về từ loại ra đời từ thời cổ Hy Lạp gắn với tên tuổi của
nhà triết học Arixtôt. Thuở ấy từ loại đã được đặt trong quan hệ với lô gic, song
Arixtôt đã không gắn các từ loại với các phạm trù mà ông đề xuất. Ông chỉ chú ý
đến tính chất vị ngữ của động từ và cho rằng động từ thể hiện vị thể của phán
đoán. Danh từ thì được coi là tên gọi của các sự vật.
Các nhà ngữ pháp của học phái A lêch xăng đri định nghĩa danh từ và
động từ không phải theo các thành phần của phán đoán mà theo những khái niệm
do chúng biểu hiện: “Danh từ là từ loại biến cách chỉ vật thể đồ đạc, được phát
ngôn cả cái chung và cái riêng”. “Động từ là từ loại không biến cách và thể hiện
các hoạt động chủ động, bị động”.
Thế kỉ XVII - XVIII các nhà ngữ pháp duy lý lại đặt trở lại mối quan hệ
giữa từ loại và các phạm trù của lô gic, cụ thể là mối quan hệ giữa động từ với vị
thể của phán đoán. Danh từ và tính từ được giải thích như là những từ chỉ sự vật
không xác định nào đó qua một khái niệm đã xác định mà ngẫu nhiên đối với
bản chất sự vật.
Trong nhiều năm, mối quan hệ giữa từ loại và các phạm trù của lô gic
chưa được giải quyết một cách thoả đáng. Phải đến cuối thế kỉ XIX vấn đề từ
loại tiếng Việt mới được bàn lại, theo đó vấn đề từ loại được xem xét:
Năm 1986, tác giả Đinh Văn Đức trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (Từ
loại) quan tâm đến các vấn đề:
Trường ĐHSP Hà Nội 2 K30B - GDTH
7
Khóa luận tốt nghiệp Trần Thị Hoa – K30B GDTH
1) Bản chất và các đặc trưng của từ loại, tiêu chuẩn phân định từ loại.
2) Hệ thống các từ loại tiếng Việt.
3) Từ loại là các phạm trù của tư duy.
- Tìm hiểu thực tế khả năng xác định từ loại cơ bản của học sinh.
Trên cơ sở đó nhận định đúng thực trạng đối tượng học sinh như nhau
thuộc các vùng khác nhau.
- Phân loại được từng đối tượng học sinh để có biện pháp dạy học
phù hợp giúp học sinh xác định đúng từ loại tiếng Việt.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi thực hiện nhiệm vụ:
- Tìm hiểu lý thuyết về từ loại cơ bản.
- Trên cơ sở lí luận đã có, tiến hành khảo sát thực tế tại các trường
thuộc hai vùng khác nhau là nông thôn và thành thị với đối tượng học sinh
như nhau.
- Miêu tả, phân loại và so sánh được kết quả điều tra.
- Đề xuất biện pháp dạy học hợp lý.
4. phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau:
Trường ĐHSP Hà Nội 2 K30B - GDTH
9
Khóa luận tốt nghiệp Trần Thị Hoa – K30B GDTH
1. Đọc và tra cứu tài liêu.
2. Điều tra thống kê tư liệu thực
3. Mô tả, phân loại và so sánh tư liệu
4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Quá trình nghiên cứu đề tài được tiến hành tuần tự theo các bước sau:
1. Đọc lý thuyết có liên quan đến đề tài.
2. Thống kê tư liệu điều tra được.
3. Xử lý tư liệu điều tra bằng các biện pháp: phân tích, phân loại và so sánh.
5. Đối tượng nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu
5. 1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là học sinh thuộc khối lớp 4.
3. Khả năng nhận biết về tính từ
Loại 2: Bài tập nhận biết hiện tượng chuyển loại giữa các từ
loại cơ bản
Kết luận chung
Tài liêu tham khảo
Phụ lục
PHẦN NỘI DUNG
Trường ĐHSP Hà Nội 2 K30B - GDTH
11
Khóa luận tốt nghiệp Trần Thị Hoa – K30B GDTH
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TỪ LOẠI CƠ BẢN VÀ VIỆC HỌC TỪ LOẠI
CƠ BẢN CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
1. Khái niệm về từ loại
1.1. Khái niệm:
Từ loại là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp được phân chia
theo ý nghĩa khái quát, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác và thực
hiện những chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu. (Đinh Văn Đức -
Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại).
Từ loại là khái niệm chỉ sự phâ loại từ nhằm mục đích ngữ pháp,
theo bản chất ngữ pháp của từ. (Lê Biên - Từ loại tiếng Việt hiện đại)
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt - 2008 (trang 1327) định nghĩa “Từ
loại là phạm trù ngữ pháp bao gồm các từ có chung đặc điểm ngữ pháp và ý
nghĩa khái quát như: danh từ, động từ, tính từ,…”
1.2. Vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt
1.2.1. Phủ nhận sự tồn tại của từ loại, tác giả Hồ Hữu Tùng cho
rằng:tiếng Việt cơ cấu theo một lối khác hẳn so với các ngôn ngữ phương
Tây (không có sự biến đổi hình thái) do đó không có từ loại, mà tuỳ thuộc
vào vị trí trong câu mà có tính chất nhất định, một từ có thể có nhiều thuộc
tính khác nhau.
một tiêu chuẩn hỗ trợ. Các từ thuộc một lớp nào đó có thể đảm đương
không phải một mà vài ba chức vụ cú pháp ở trong câu. Trong số các chức
Trường ĐHSP Hà Nội 2 K30B - GDTH
13
Khóa luận tốt nghiệp Trần Thị Hoa – K30B GDTH
vụ cú pháp đó thường có một hoăc vài chức vụ nổi lên rõ hơn có tính chất tiêu
biểu cho lớp từ đó.
- Danh từ thường làm chủ ngữ. Khi làm vị ngữ, danh từ thường phải
kết hợp với từ “là” (Ví dụ: Em là học sinh.)
- Động từ thường làm vị ngữ. Khi đóng vai trò chủ ngữ, động từ mất
khả năng kết hợp với đã, sẽ, đang, cũng, vẫn, cứ, hãy, đừng, chớ,…
- Tính từ thường làm vị ngữ. Khi đóng vai trò chủ ngữ tính từ mất khả
năng kết hợp với đã, đang, sẽ, đang, cũng, vẫn, cứ, rất, lắm, quá,…
1.4. Kết quả phân loại
Hệ thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm, bao gồm
những từ loại sau đây:
Nhóm 1: danh từ, động từ, tính từ;
số từ;
đại từ.
Nhóm 2: phụ từ (định từ, phó từ);
kết từ;
kiểu từ (trợ từ và tình thái từ)
Trong khoá luận này, chúng tôi chỉ nghiên cứu trên ba lớp: danh từ,
động từ, tính từ - ba từ loại cơ bản trong SGK Tiếng Việt 4, tập 1.
A. Danh từ
Danh từ là thực từ có ý nghĩa thực thể (ý nghĩa chỉ “vật” hiểu rộng),
được dùng làm tên gọi các “vât”, kết hợp được về phía trước với từ chỉ
Trường ĐHSP Hà Nội 2 K30B - GDTH
14
Khóa luận tốt nghiệp Trần Thị Hoa – K30B GDTH
3.1. Danh từ vật thể
Danh từ chỉ vật thể bao gồm 4 lớp con
- Danh từ chỉ đồ vật: ao, nhà, bàn, bát,…
- Danh từ chỉ thực vật: cỏ, lúa, táo, bưởi,…
- Danh từ chỉ động vật: cá, chim, trâu, bò,…
- Danh từ chỉ người: học sinh, công nhân, bác sĩ,…
3.2. Danh từ chất thể
Danh từ chất thể chỉ các chất thuộc cả ba thể là: thể rắn, thể lỏng, thể
khí, như: đá, nước, hơi, khói,…
3.3. Danh từ trừu tượng
Danh từ trừu tượng gồm các danh từ chỉ các vật thể tưởng tượng,
như: thần, thánh, ma, quỷ,…; và các danh từ chỉ khái niện trừu tượng, như: lí luận,
trí tuệ,…
3.4. Danh từ tập thể
Danh từ tập thể là danh từ chỉ những vật khác nhau về loại cụ thể nhưng
thường đi kèm với nhau thành một tập hợp hoàn chỉnh, và mỗi tập hợp này
làm thành một “đơn vị rời” đếm được như: bầy, bọn, bộ, đám, đàn, lũ,…
3.5. Danh từ chỉ hiện tượng thời tiết
Trường ĐHSP Hà Nội 2 K30B - GDTH
16
Khóa luận tốt nghiệp Trần Thị Hoa – K30B GDTH
Danh từ chỉ hiện thời tiết có khả năng kết hợp với một số loại từ
riêng, như: bão, chớp, lũ, lụt, gió, mưa, sấm,…
Ví dụ: ánh đi với chớp
cơn đi với bão, gió, mưa
tiếng đi với sấm, sét
…
4. Danh từ đơn vị
Trong số các danh từ vật thể có thể tách ra những từ sẵn chứa trong
mình ý nghĩa “đơn vị rời” có thể đo đếm được, chúng tập hợp lại dưới cái
Danh từ đếm được không tuyệt đối là những danh từ vốn không đếm
được, nhưng trong một số trường hợp sử dụng khá quen thuộc chúng có thể
xuất hiện trực tiếp sau số từ chính xác.
Ví dụ: Làng này có ba ao năm giếng,…
Đồng hồ ba kim, bàn tám chân,…
5.2. Danh từ không đếm được
Lớp danh từ này bao gồm:
5.2.1. Danh từ không đếm được là danh từ chất thể
Trường ĐHSP Hà Nội 2 K30B - GDTH
18
Khóa luận tốt nghiệp Trần Thị Hoa – K30B GDTH
Các danh từ chất thể, như: muối, dầu, hơi,…không có khả năng trực
tiếp đứng sau số từ chính xác. Chúng có thể đo đếm được thông qua các
loại đơn vị thích hợp biểu thị bằng danh từ đơn vị quy ước và một số loại từ
thích hợp.
Ví dụ:
- hai tấn sắt, hai xe sắt, hai đống sắt,…
- hai lít dầu, hai phao dầu, hai thùng dầu,…
5.2.2. Danh từ không đếm được là danh từ tổng hợp
Các danh từ tổng hợp, như: áo quần, binh lính, xe cộ,…không có khả
năng trực tiếp đứng sau số từ chính xác. Chúng chỉ có thể đo đếm được
thông qua các danh từ đơn vị quy ước, một số danh từ tập thể thích hợp
dùng làm danh từ đơn vị.
Ví dụ:
- hai bộ quần áo, hai tấn quần áo;
- hai đàn gà vịt, hai xe gà vịt, hai tạ gà vịt;
- hai chục ki-lô-mét đường sá.
B. Động từ
Động từ là những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình.Động từ
thường kết hợp với các từ: đã, sẽ, đang, cũng, vẫn, hãy, đừng, chớ,…
Trường ĐHSP Hà Nội 2 K30B - GDTH
20
Khóa luận tốt nghiệp Trần Thị Hoa – K30B GDTH
- Quan hệ diễn biến theo thời gian: bắt đầu, tiếp tuc, kết thúc,…
- Quan hệ so sánh, đối chiếu: giống, khác, như, tựa,…
- Quan hệ diễn biến trong không gian: gần, xa, ở,…
2. Động từ độc lập
Động từ độc lập là những động từ biểu thị ý nghĩa quá trình (hành
động hoặc trạng thái). Ý nghĩa quá trình có thể nhận thức được tương đối
rõ, ngay cả trong trường hợp động từ không có từ khác đi kèm để bổ nghĩa.
Có thể phân chia động từ độc lập thành một số nhóm nhỏ:
2.1. Các nhóm động từ độc lập phân loại theo phụ từ đi kèm, gồm:
2.1.1. Động từ chỉ hành động
Động từ chỉ hành động gồm những động từ kết hợp được với hãy,
đừng, chớ và với lắm, quá; không kết hợp được với rất, hơi, khí: viết, đánh, đi, làm,
…
2.1.2. Động từ chỉ trạng thái
Động từ chỉ trạng thái, bao gồm:
- Những động từ kết hợp được với hãy, đừng, chớ; với lắm, quá và với
rất, hơi, khí: yêu, ghét, thương, giận,…
- Những động từ không kết hợp được với “xong”: thấy, hiểu, mỏi, biết,
…
2.2. Các nhóm động từ phân loại theo thực từ đi kèm
Bao gồm:
Trường ĐHSP Hà Nội 2 K30B - GDTH
21
Khóa luận tốt nghiệp Trần Thị Hoa – K30B GDTH
- Động từ không đòi hỏi thực từ đi kèm: nói, cười, khóc, ngồi, đứng,
bò,… thường chỉ các hành động cơ thể hoặc chỉ trạng thái tâm lý. Những
động từ này được gọi là động từ nội động.
- Ý nghĩa về lượng: nhiều, ít, cao, thấp, xanh, đỏ,…
1.2. Tính từ quan hệ
Tính từ quan hệ là tính từ mà ý nghĩa chỉ tính chất của chúng được
vay mượn ở ý nghĩa thực thể của danh từ.
Tính từ chỉ quan hệ có thể có gốc là danh từ chung, cũng có thể có gốc là
danh từ riêng.
Ví dụ:
- Tính từ có quan hệ với danh từ riêng: giọng (rất) Sài Gòn, thái độ (rất) Chí Phèo,
…
- Tính từ có quan hệ với danh từ chung: tác phong (rất) công nhân,
cung cách (rất) quý phái, thái độ (rất) cửa quyền…
2. Tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ và tính từ chỉ đặc trưng
không xác định thang độ
2.1. Tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ
Tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ là tính từ có thể kết hợp với
các phó từ chỉ thang độ rất, hơi, khí, quá,… về phía sau.
Ví dụ: rất đẹp, rất anh hùng…, đẹp lắm, vui quá,…
Trường ĐHSP Hà Nội 2 K30B - GDTH
23
Khóa luận tốt nghiệp Trần Thị Hoa – K30B GDTH
2.2. Tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ
Trong tiếng Việt có một nhóm nhỏ từ, xét cách hoạt động trong câu
và xét mặt ý nghĩa thì giống hệt tính từ, nhưng không kết hợp được với các
phó từ chỉ thang độ thường đứng trước tính từ. Đó là những tính từ chỉ đặc
trưng không xác định thang độ như: chính, công, chung, riêng, tư,… trong
các tổ hợp từ: vấn đề chính, quyền lợi chung, quỹ công, đời tư,…
Về nghĩa, Tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ có thể là tính từ
chỉ tính chất hoặc tính từ quan hệ. Ví dụ:
Vấn đề chính = vấn đề có tính chất chính ( tính chất)
Quyền lợi chung = quyền lợi nói chung, không cụ thể (tính chất)
- Khái niệm (chỉ các đối tượng có tính chất trừu tượng hoặc thuộc tư
duy) cuộc sống, cái đẹp,
- Đơn vị: con, cái, cơn,…
Sau khi đưa ra các khái niệm về danh từ sách giáo khoa dành riêng môt
tiết đề cập đến vấn đề phân chia danh từ thành danh từ riêng và danh từ
chung.
Danh từ chung là tên chung của một loại sự vật.
Ví dụ: núi, sông, xe,
Trường ĐHSP Hà Nội 2 K30B - GDTH
25