Mục lục
Mục lục 1
Phần mở đầu 2
1. Lí do chọn đề tài 2
2. Lịch sử vấn đề 4
3. Mục đích nghiên cứu 6
4. Đối tợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 6
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
6. Phơng pháp nghiên cứu 7
8. Cấu trúc của khóa luận 8
Phần nội dung 8
Chơng 1: Cơ sở lý luận 8
1.1. Năng lực ngời 8
1.2. Năng lực văn 10
1.3. Khái niệm văn miêu tả và đặc trng của văn bản miêu tả 12
Chơng 2: Khảo sát một số bài văn hay của học sinh lớp 4, 5, Từ đó đánh giá
năng lực văn của học sinh tiểu học 16
2.1. Khảo sát 16
Chơng 3: Biện pháp nâng cao năng lực làm bài văn miêu tả cho học sinh
tiểu học 40
3.1. Khắc phục tình trạng học sinh không có ý thức học tập tốt 40
3.2. Trong quá trình dạy Luyện từ và câu, giáo viên chú ý cung cấp
vốn từ, mở rộng vốn từ cho học sinh 40
3.3. Những việc làm của giáo viên giúp học sinh viết đợc bài văn có
sức hấp dẫn, t duy sáng tạo và mang màu sắc cá nhân 40
3.4. Đọc tài liệu tham khảo có liên quan đến phân môn Tập làm văn 62
Kết luận 62
Phụ lục 64
Tài liệu tham khảo 71
Trang
Phần mở đầu
2
Song không phải tất cả học sinh Tiểu học đều không thể viết đợc bài văn
miêu tả hay. Ngợc lại đã có rất nhiều bài làm đặc sắc, đợc đánh giá cao trong
các kỳ thi học sinh giỏi các cấp đợc tuyển chọn và in trong những cuốn sách
tham khảo nh: Những bài văn mẫu, Những bài văn chọn lọc, Những bài văn
đạt giải Quốc gia cấp Tiểu học, Đó là những bài văn hoàn chỉnh, mang đậm
dấu ấn cá nhân, là tập hợp những cách nhìn nhận của trẻ thơ về thế giới xung
quanh - thế giới của thiên nhiên tràn đầy hơng sắc và luân chuyển vĩnh hằng,
thế giới của những con ngời thơng mến với những sinh hoạt gần gũi và bình dị
trong cuộc sống hằng ngày. Các em đã khám phá thế giới ấy bằng con mắt
non tơ, bỡ ngỡ và kì thú và đã để lại cho chúng ta bằng những giọng điệu trìu
mến đầy cảm xúc. Những bức tranh miêu tả thiên nhiên và con ngời của các
em thờng êm dịu và thơ mộng. Đôi lúc với trí tởng tợng thơ ngây và phong
phú các em đã làm cho những bức tranh miêu tả của mình có những nét gần
gũi với t duy cổ tích, t duy huyền thoại. Vạn vật chợt bừng lên rực rỡ trong
mối giao cảm giữa chúng với nhau và giữa chúng với con ngời. Tâm hồn của
các em hết sức mẫn cảm với cái đẹp, tinh tế trong cảm nhận và luôn luôn rộng
mở. Đọc văn miêu tả của các em, chúng ta có cảm giác thú vị nh khi đợc nhìn
qua ống kính vạn hoa. ở đó, những màu sắc, đờng nét, hình khối cứ lung linh
biến hóa không dứt. ở đó, chúng ta sẽ gặp những sự bất ngờ ngay trong những
gì tởng nh đã quá quen thuộc Để viết đợc những bài văn nh thế, các em phải
thực hành, luyện tập thật nhiều.
Thực tế việc dạy Tập làm văn nói chung và dạy văn miêu tả nói riêng,
giáo viên cha có sự đầu t công sức tìm tòi, sáng tạo về phơng pháp mà chỉ dựa
vào giáo trình, hớng dẫn sách giáo khoa nên học sinh không thể viết đợc một
bài văn hay. Vì vậy cần phải tìm ra giải pháp rèn kỹ năng làm văn cho học
sinh nhằm nâng cao năng lực văn cho các em và một trong những giải pháp đó
là học tập từ những bài văn mẫu, sản phẩm làm văn của chính học sinh. Học
tập theo mẫu là phơng pháp quen thuộc với học sinh Tiểu học.
Thực hiện đề tài T nhng bi vn hay ca hc sinh lp 4, 5, tỡm
thống kỹ năng văn và đề ra nhiệm vụ phải nâng cao năng lực văn cho học sinh
còn nâng cao bằng cách nào thì cha đợc xem xét cụ thể. Có chăng cũng chỉ đề
cập đến một loại năng lực bộ phận trong hệ thống năng lực tiếp nhận cùng giải
pháp để rèn luyện và nâng cao năng lực ấy ví nh năng lực cảm thụ văn học
chẳng hạn. Đây là trờng hợp của tác giả Trần Mạnh Hởng với cuốn sách
Luyện tập về cảm thụ văn học ở Tiểu học của mình,
Cũng quan tâm đến một loại năng lực, một thể loại văn cụ thể, văn miêu
tả và phơng pháp dạy học văn miêu tả đã đợc nhiều tác giả quan tâm, nghiên
4
cứu. Tác giả Nguyễn Trí với cuốn Văn miêu tả và phơng pháp dạy học văn
miêu tả ở Tiểu học, tác giả Đặng Mạnh Thờng với cuốn Tập làm văn 4 và
Luyện tập làm văn 5 Đó là những cuốn sách có tính chất giáo trình hớng
dẫn. Cách thức, phơng pháp làm bài văn miêu tả. Đặc biệt trong cuốn Tập làm
văn 4 và Luyện tập làm văn 5, tác giả Đỗ Mạnh Thờng đã viết rất tỉ mỉ và
trình bày rất khoa học về mục đích yêu cầu, hình thức luyện tập, mức độ cần
luyện tập, cách hớng dẫn để học sinh làm đợc bài tập trong sách giáo khoa của
từng tiết học trong đó có các tiết học về thể loại văn miêu tả. Ngoài ra tác giả
còn mở rộng vấn đề, trình bày thêm về lý thuyết và cách thức giảng dạy. Nó là
tài liệu rất bổ ích cho giáo viên, học sinh khi dạy và học phân môn Tap làm
văn nói chung và văn miêu tả nói riêng.
Bên cạnh những cuốn sách mang tính chất giáo trình, hớng dẫn thì một
số tác giả quan tâm đến trẻ thơ đã viết những cuốn sách nói về kinh nghiệm
viết văn của mình. Tác giả nhắc nhở các em những việc cần làm để viết đợc
bài văn miêu tả hay. Đó là nhà văn Tô Hoài với Sổ tay viết văn, nhóm nhà
văn Vũ Tú Nam - Phạm Hổ - Bùi Hiển - Nguyễn Quang Sáng với: Văn miêu
tả và kể chuyện, tác giả Chu Thị Phợng với bài Để dạy học sinh viết đợc bài
văn hay - Tạp chí Giáo dục số 159, năm 2004 Những kinh nghiệm ấy quả
là vô cùng quý báu để các em có thể viết đợc bài văn miêu tả hay, trở thành
ngời viết văn miêu tả giỏi. Miêu tả giỏi là khi đọc những gì chúng ta viết, ng-
ời đọc nh thấy những cái đó hiện ra trớc mắt mình: một con ngời, một con vật,
Việc chọn và nghiên cứu đề tài này nhằm:
3.1. Giúp giáo viên có những định hớng mới, sáng tạo trong dạy Tập làm
văn thông qua các biện pháp nâng cao năng lực làm bài văn miêu tả cho học
sinh.
3.2. Tạo cơ sở để giáo viên có thể xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ
năng làm văn miêu tả cho học sinh.
3.3. Giúp học sinh có hớng t duy sáng tạo, viết đợc những bài văn miêu
tả sinh động để các em thấy đợc làm văn miêu tả không phải là công việc khó
khăn mà đó là công việc kích thích trí tởng tợng của các em phát triển với
những khám phá và phát hiện mới mẻ về thế giới xung quanh.
4. Đối tợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tợng nghiên cứu
Đề tài có đối tợng nghiên cứu sau:
a) Những bài văn hay của học sinh đợc in trong cuốn sách Học văn qua
mẫu 5 của các tác giả: Xuân Thị Nguyệt Hà, Phạm Thị Thanh Hà, Lê Ngọc T-
ờng Khanh, Nguyễn Thị Bích, Nxb Hà Nội, năm 2006 và cuốn Những bài văn
6
đạt giải Quốc gia cấp Tiểu học của các tác giả: Tạ Thanh Sơn, TS Nguyễn
Trung Kiên, TS Nguyễn Việt Nga, TS Phạm Đức Minh, Nxb Đại học S phạm,
năm 2006.
b) Kinh nghiệm và một số biện pháp làm văn miêu tả của các nhà văn và
một số tác giả
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tập trung vào trình độ của học sinh lớp 4, 5 - Bậc Tiểu học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu đề tài Từ những bài văn hay của học sinh lớp
4, 5, tìm hiểu năng lực văn của học sinh Tiểu học, tôi giải quyết các nhiệm
vụ sau đây:
Thứ nhất: hệ thống hóa những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài.
Thứ hai: xây dựng hệ thống các loại bài tập để rèn luyện kỹ năng làm văn
2.2. Đánh giá
Chơng 3: Biện pháp nâng cao năng lực làm bài văn miêu tả cho học sinh
Tiểu học
3.1. Khắc phục tình trạng học sinh không có ý thức học tập tốt
3.2. Trong quá trình dạy Luyện từ và câu, giáo viên chú ý cung cấp
vốn từ, mở rộng vốn từ cho học sinh
3.3. Những việc làm của giáo viên giúp học sinh viết đợc bài văn có
sức hấp dẫn, t duy sáng tạo và mang màu sắc cá nhân
3.4. Đọc tài liệu tham khảo có liên quan đến phân môn Tập làm văn
Phần nội dung
Chơng 1: Cơ sở lý luận
1.1. Năng lực ngời
1.1.1. Năng lực là gì?
Năng lực là một mức độ nhất định của khả năng con ngời, biểu thị khả
năng hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó.
Mỗi ngời đều có nhiều năng lực vì với mỗi công việc con ngời phải sử
dụng nhiều năng lực khác nhau. Vì vậy mỗi ngời phải rèn luyện để có những
năng lực khác nhau.
1.1.2. Năng lực ngời có bản chất xã hội và bản chất hoạt động
Bản chất xã hội là năng lực ngời không có sẵn trong con ngời mà phải lấy
từ bên ngoài vào hay nói cách khác là lấy của lịch sử, của con ngời trong lịch
sử. Năng lực của mỗi ngời có đợc là do xã hội chuyển vào.
8
Năng lực ngời có bản chất hoạt động nghĩa là quá trình chuyển năng lực
xã hội vào trong mỗi ngời phải do mỗi ngời tự làm lấy bằng hoạt động tích
cực của chính mình. Cho nên năng lực của mỗi ngời thế nào sẽ đợc thể hiện
thông qua sản phẩm hoạt động của chính họ.
1.1.3. Năng lực ngời luôn luôn ở dạng bỏ ngỏ
Bỏ ngỏ nghĩa là mỗi con ngời có nhiều tiềm năng, ẩn dấu những năng lực
cao hơn so với những gì họ bộc lộ - năng khiếu. Chính vì vậy ngời ta kết luận
mới. Nói cách khác, đó là con đờng từ học đến hành, từ hành đến
học. Do vậy, học phải đi đôi với hành, phải trao đổi thờng xuyên, liên
tục thì năng lực học hành mới lớn lên đợc.
1.1.6. Thớc đo trình độ năng lực ngời
Thớc đo trình độ năng lực ngời thông qua sản phẩm lao động - sự kết
tinh năng lực của ngời đó. Đo năng lực văn của Nguyễn Du không phải bởi
con ngời Nguyễn Du mà phải thông qua các tác phẩm văn học của ông nh
Truyện Kiều, Văn chiêu hồn,
Theo quan niệm của Mác, thì vấn đề không phải là con ngời làm ra cái gì
mà phải xem con ngời làm ra cái đó bằng cách nào. Chính vì vậy, cách làm ra
sản phẩm là căn cứ để đo trình độ năng lực của con ngời. Cách làm lại đợc kết
tinh trong công cụ, vì thế nhìn vào công cụ ngời ta đánh giá đợc năng lực con
ngời. Công cụ để làm ra sản phẩm chính là thớc đo năng lực ngời.
1.2. Năng lực văn
1.2.1. Năng lực văn là một bộ phận của năng lực ngời. Là khả năng con
ngời tiếp nhận văn, sáng tạo văn một cách hiệu quả
1.2.2. Bản chất xã hội, bản chất hoạt động của năng lực văn
Bản chất xã hội: Năng lực văn không có sẵn trong con ngời mà muốn có
nó, con ngời phải lấy từ bên ngoài vào. Năng lực văn đợc lấy từ hai nguồn:
ngoài cuộc sống và trong tác phẩm văn học. Mỗi học sinh phải lấy năng lực
văn của các nhà văn trong tác phẩm của họ chuyển sang cho mình - nó là sản
phẩm xã hội.
Năng lực văn có bản chất hoạt động nên mỗi học sinh phải tự làm ra
năng lực văn cho mình bằng hoạt động tích cực của chính mình. Do đó, năng
lực văn của học sinh là sản phẩm của hoạt động chính học sinh đó.
1.2.3. Năng lực văn luôn ở dạng bỏ ngỏ
Trong mỗi học sinh đều tiềm tàng những năng lực cha bộc lộ . Vì thế khi
dạy văn, giáo viên phải khai thác tiềm năng văn còn đang tiềm tàng trong học
sinh.
Học sinh có khả năng tiếp nhận những gì cao siêu hơn so với những điều
ra sản phẩm. Cách làm ra sản phẩm thể hiện ở công cụ. Nâng cao năng lực văn
là nâng cao công cụ văn cho học sinh.
Công cụ đó là:
Năm giác quan (vị giác, thính giác, thị giác, khứu giác và xúc giác) để
thu nhận thông tin bên ngoài con ngời.
11
Ngời có năng lực văn khác ngời bình thờng ở khả năng quan sát, tìm tòi,
khám phá, phát hiện ra cái đẹp, cái mới lạ khác thờng, Phát hiện và diễn đạt
những cái đó nghĩa là trong văn đã có sự sáng tạo.
Năm giác quan luôn phải gắn liền với hình dung, tởng tợng. Yếu tố này
làm cho con mắt của ngời làm văn nhìn cuộc đời thật sống động. Nếu không
có hình dung, tởng tợng thì Xuân Diệu sẽ không thể vẽ đợc bức tranh mùa thu
với những hình ảnh đầy ấn tợng:
Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vờn sắc đỏ rủa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy sơng mỏng manh.
(Đây mùa thu tới - Xuân Diệu)
Học văn phải dùng cả trái tim, trái tim lúc nào cũng phải nồng cháy đến
tột cùng, cảm xúc văn chơng là cảm xúc không lng chừng mà phải giàu cảm
xúc. Muốn học sinh có cảm xúc văn chơng thực sự phải dạy cho các em biết
nhập vai, nhập cuộc, phải luôn luôn đặt mình vào mỗi sự kiện, diễn biến của
tác phẩm.
Học văn cần có tâm hồn, tâm hồn phải bay bổng lãng mạn, biết ớc mơ
khát vọng và luôn hớng tới ngày mai.
Học văn rất cần đầu óc tởng tợng, liên tởng phong phú, suy luận khái
quát đầy bất ngờ. Một trong yếu tố đánh giá sự sáng tạo của văn chính là việc
liên tởng, suy nghĩ và tìm ra cái mới mẻ, độc đáo.
Văn còn một công cụ nữa rất đặc biệt và quan trọng, nó nằm trong mỗi
con ngời, là cầu nối cho sự chuyển chỗ, có trong sản phẩm, nó chứng kiến sự
dạy văn miêu tả là bồi dỡng cho các em tâm hồn, cảm xúc là dạy các em tích
lũy vốn sống, vốn hiểu biết về cuộc sống, biết cảm thụ và rung động trớc cái
đẹp, cái đáng yêu của đối tợng miêu tả. Đó chính là dạy các em nhận thức thế
giới.
c. Văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mỹ, chứa đựng tình cảm của ngời
viết
Có thể nói hầu nh bất kỳ sự vật hiện tợng nào trong đời sống cũng có thể
trở thành đối tợng của văn miêu tả, ví dụ: một cái đồng hồ, một con gà, một
cái cặp,Tất cả đều trở thành đề tài đầy thú vị với những cây bút miêu tả.
Trong khoa học cũng cần có miêu tả nhng đó là sự miêu tả một cách lạnh
lùng khách quan nhằm mục đích nhận thức trí tuệ. Loại văn này gạt bỏ những
cảm xúc riêng t của ngời viết. Trong khi đó, những đặc điểm riêng của đối t-
ợng, những cảm xúc cá nhân chứa đựng những tâm trạng, cảm xúc của ngời
viết là nội dung chính của bài văn miêu tả. Đối tợng của bài văn miêu tả luôn
đợc ngời viết nhìn cặn kẽ, chi tiết trong một quá trình vận động. Nó có thể là
13
những đối tợng vô hình nh âm thanh, tiếng động, hơng vị, hay t tởng, tình
cảm riêng t, thầm kín của con ngời. Bài văn miêu tả bao giờ cũng chứa đựng
những tâm t, tình cảm yêu ghét hay những ý kiến đánh giá, bình luận của ngời
viết.
d. Một bài văn miêu tả bao giờ cũng là sự gắn bó hòa quyện giữa cảm xúc chủ
quan của ngời viết với thiên nhiên, với hiện thực khách quan
Khi miêu tả hình ảnh của một đối tợng, ngời viết phải huy động (có lựa
chọn) vốn kiến thức về ngôn ngữ của mình để làm cho cảnh vật, con ngời hiện
lên, nổi bật cụ thể, sinh động để giúp ngời đọc có cảm giác mình đang ngắm
nhìn, sờ mó, chứng kiến các sự vật hiện tợng bằng chính giác quan cụ thể của
mình. Bởi vậy yêu cầu đặt ra với ngời viết phải biết gạt bỏ những chi tiết thực
sự không cần thiết, không có sức gợi tả, gợi cảm. Từ đó chọn lọc những chi
tiết nổi bật gây ấn tợng mạnh mẽ, không nên dập khuôn máy móc, bắt chớc để
đa vào bài văn những chi tiết rờm rà theo kiểu liệt kê, đơn điệu.
Nh vậy, để bài văn miêu tả sinh động và lôi cuốn đợc ngời đọc, ngời viết
phải biết quan sát đối tợng và tìm ra cái mới, cái độc đáo của đối tợng miêu tả
và lựa chọn đợc ngôn từ, cách diễn đạt để tái hiện lại hình ảnh của đối tợng.
Với học sinh Tiểu học thì việc học môn Tiếng Việt gồm Luyện từ và câu, Kể
chuyện, Tập đọc, Tập làm văn, Chính tả, Tập viết có sự kế thừa từ lớp dới lên
lớp trên theo nguyên tắc đồng quy và sự gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau
của các phân môn đã tạo nên trong t duy của trẻ một kho tàng tri thức tổng
hợp để viết bài phong phú, ấn tợng và độc đáo.
15
Chơng 2: Khảo sát một số bài văn hay của học sinh
lớp 4, 5, Từ đó đánh giá năng lực văn của
học sinh tiểu học
2.1. Khảo sát
2.1.1. Thống kê các bài văn miêu tả trong một số cuốn sách tham khảo
a. Cuốn sách thứ nhất: Học qua văn mẫu 5 của các tác giả: Xuân Thị Nguyệt
Hà, Phạm Thị Thanh Hà, Lê Ngọc Tờng Khanh, Nguyễn Thị Bích, Nxb Hà
Nội, năm 2006.
Tổng số bài làm: 62 bài
Trong đó: + Văn miêu tả: 54 bài
+ Văn kể chuyện: 8 bài
Trong 54 bài văn miêu tả, mỗi kiểu văn miêu tả gồm một số bài sau:
+ Tả cảnh: 20 bài
+ Tả ngời: 22 bài
+ Tả đồ vật: 6 bài
+ Tả cây cối: 3 bài
+ Tả con vật: 3 bài
* ở kiểu bài văn tả cảnh:
Đề bài 1: Tả cảnh một buổi sáng (hoặc tra, chiều) trong vờn cây (hay trong
công viên, trên đờng phố, trên cánh đồng, nơng rẫy).
Số bài làm: 02 bài.
Số bài làm: 03 bài.
Đề bài 6: Tả một ca sĩ đang biểu diễn.
Số bài làm: 02 bài.
Đề bài 7: Tả một nghệ sĩ hài mà em yêu thích.
17
Số bài làm: 01 bài.
Đề bài 8: Tả cô giáo (hoặc thầy giáo) đã từng dạy dỗ em và để lại cho em
nhiều ấn tợng và tình cảm đẹp.
Số bài làm: 03 bài.
Đề bài 9: Tả một ngời mà em mới gặp một lần nhng để lại cho em những ấn t-
ợng sâu sắc.
Số bài làm: 02 bài.
* ở kiểu bài văn tả đồ vật:
Đề bài 1: Tả quyển sách Tiếng Việt 5, tập 2.
Số bài làm: 02 bài.
Đề bài 2: Tả chiếc đồng hồ báo thức.
Số bài làm: 02 bài.
Đề bài 3: Tả một đồ vật trong nhà mà em yêu thích.
Số bài làm: 01 bài.
Đề bài 4: Tả một đồ vật hoặc một món quà có ý nghĩa sâu sắc với em.
Số bài làm: 01 bài.
* ở kiểu bài văn tả cây cối:
Đề bài 1: Tả một loài hoa mà em yêu thích.
Số bài làm: 02 bài.
Đề bài 2: Tả một cây cổ thụ.
Số bài làm: 01 bài.
* ở kiểu bài văn tả con vật:
Đề bài: Hãy tả một con vật mà em yêu thích.
Số bài làm: 03 bài.
b. Cuốn sách thứ hai: Những bài văn đạt giải quốc gia cấp Tiểu học của các
Đề bài 3: Tả một công viên mà em đã có lần đến thăm thú.
Số bài làm: 01 bài.
Đề bài 4: Tả cảnh một buổi tối đáng nhớ nhất trong gia đình em.
19
Số bài làm: 01 bài.
* Văn tả con vật: 01 bài.
Đề bài: Tả cảnh gà mẹ và gà con mà em từng quan sát.
Số bài làm: 01 bài.
2.1.2. Khảo sát một số bài văn hay trong hai cuốn sách: Học văn qua mẫu
5 và Những bài văn đạt giải Quốc gia cấp Tiểu học
a. Khảo sát những bài văn hay trong cuốn Học văn qua mẫu 5 của các tác
giả: Xuân Thị Nguyệt Hà, Phạm Thanh Hà, Lê Ngọc Tờng Khanh, Nguyễn
Thị Bích, Nxb Hà Nội, năm 2006
Đề bài 1: Tả cái đồng hồ báo thức
Số bài khảo sát: 02 bài
Bài 1 - Nguyễn Vân Trung - Hà Nội - Sđd - Tr.104
Bài 2 - Trịnh Duy Hoàng - Thanh Hoá - Sđd - Tr.106
a) Mở bài: Giới thiệu chiếc đồng hồ báo thức (Em có nó từ bao giờ, đợc tặng
hay mua? ).
Cả hai bạn đều mở bài theo kiểu gián tiếp.
b) Thân bài:
* Trình tự miêu tả:
Cả hai bạn đều quan sát kỹ lỡng và tinh tế cái đồng hồ của mình và đều
chọn trình tự miêu tả đi từ tả bao quát đến tả cụ thể các bộ phận của chiếc
đồng hồ, tả đôi nét về âm thanh báo thức và việc giữ gìn đồng hồ.
- Tả bao quát chiếc đồng hồ
Cả hai bạn đều miêu tả chiếc đồng hồ tỉ mỉ đến từng chi tiết nhỏ và đã
chọn đợc những chi tiết khá tiêu biểu để miêu tả hình dáng bên ngoài của
chiếc đồng hồ nh: chất liệu, kích thớc, hình dáng, màu sắc. Tuy nhiên ở mỗi
bài đều có cách diễn đạt khác nhau làm nổi bật chiếc đồng hồ của mỗi bạn.
* Một số hình ảnh so sánh và nhân hoá đặc sắc trong cả hai bài để miêu tả các
thành viên trong gia đình nhà kim thể hiện trí tởng tợng vô cùng phong phú
của ngời viết.
* Cách diễn đạt: Trong cả hai bài, các câu văn đợc diễn đạt lu loát, cấu trúc
câu thay đổi linh hoạt, từ ngữ sử dụng chính xác, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc.
Nội dung miêu tả phong phú. Tất cả hoà phối nhịp nhàng với nhau để tạo nên
một bài văn miêu tả hấp dẫn, đầy sáng tạo.
c) Kết bài: Cảm nghĩ về chiếc đồng hồ báo thức
Cả hai bạn đều kết bài theo kiểu mở rộng
d) Những hạn chế
Bài 1:
Phần mở bài bạn viết câu hơi dài, còn mắc lỗi lặp từ.
21
- Câu: Để rồi mỗi buổi sáng khi bác kim giờ chạy đến gần anh kim phút
thì khúc nhạc quen thuộc lại reo lên, đồng thời đôi mắt của chú thỏ cũng nhấp
nháy nh thúc giục, tôi dạy mau để chuẩn bị tới trờng có nội dung cha chính
xác.
Phần thân bài khi miêu tả mặt đồng hồ còn thiếu ý, cha miêu tả về các số.
Bài 2:
Phần thân bài còn thiếu ý (chi tiết về chiếc kim báo thức cha đợc miêu
tả).
Phần kết bài hơi khô khan gợng ép.
Đề bài 2: Tả một loài hoa mà em thích
Số bài khảo sát: 01 bài
Bài làm của Trịnh Thị Hằng - Nam Định - Sđd - Tr.114.
Đối tợng miêu tả: Hoa Cúc đại đoá
a) Mở bài: Giới thiệu cây hoa sẽ tả (cây hoa cúc đại đoá; đợc trồng ở mảnh v-
ờn nhỏ trớc sân nhà; hoa nở vào mùa thu)
b) Thân bài:
* Trình tự miêu tả:
+ Bụi cúc chỉ cao khoảng năm mơi xăng - ti - mét
+ Đầu mỗi cành mọc ra những chùm nụ nh hàng chục chiếc cúc áo
+ Hoa nọ san sát hoa kia nh một mâm xôi vàng rực rỡ, nổi bật trên
nền lá xanh, trông tuyệt đẹp
+ Cây hoa cúc nh một vị chúa tể của vờn hoa trong mùa thu, nó làm
bớt đi vẻ đìu hiu quạnh quẽ của vạn vật khi chuẩn bị bớc sang mùa đông lạnh
lẽo.
Những hình ảnh so sánh này đã thể hiện đợc sự liên tởng, tởng tợng hết
sức phong phú, độc đáo của ngời viết. Nhờ những hình ảnh so sánh này, hoa
cúc bộc lộ đợc hết vẻ đẹp của nó, gây đợc sự liên tởng thú vị đối với ngời đọc.
c) Kết bài
Cảm nghĩ về cây hoa (vẻ đẹp của hoa gắn liền với mùa thu, sẽ chăm sóc
cho cây từng ngày, mong cây giữ mãi vẻ đẹp)
- Bạn kết bài theo kiểu mở rộng
Tóm lại bằng việc quan sát kỹ lỡng cây hoa, sử dụng nhiều hình ảnh so
sánh cùng với lời văn chau chuốt sinh động và đầy sáng tạo, Hằng đã viết đợc
một bài văn miêu tả khá hay về cây hoa cúc đại đoá - một loài hoa đẹp nhng
lại không có nhiều ngời lựa chọn để miêu tả.
Đề bài 3: Tả một em bé đang tuổi tập đi, tập nói.
Số bài khảo sát: 03 bài.
Bài 1 - Trần Đức Thành - Thành phố Hồ Chí Minh - Sđd - Tr.44.
Bài 2 - Nguyễn Vân Anh - Hà Nội - Sđd - Tr.45, 46.
23
Bài 3 - Vũ Quang - Hà Nội - Sđd - Tr.47.
Cả ba bài làm đều có bố cục rõ ràng gồm ba phần: mở bài, thân bài, kết
luận và điều miêu tả em bé gái đang tuổi tập đi, tập nói.
a) Mở bài:
Giới thiệu tên và mối quan hệ của em bé đợc tả với ngời miêu tả.
Có 2 bài (bài 1, bài 2) mở bài trực tiếp: Giới thiệu ngay em bé đợc tả.
Bài 3 mở bài theo lối gián tiếp, bắt đầu bằng câu kể lại câu nói của ngời
+ Hoạt động tập đi: Cả ba bài đều miêu tả em bé lẫm chẫm, chập chững
bớc đi từng bớc một. Khi tập đi, các bé hay bị ngã nhng không khóc mà lại
đứng lên đi tiếp. Miêu tả hoạt động tập đi của các bé, các em cũng có những
cách diễn đạt khác nhau.
Ví dụ: Bài 1: Thoạt đầu, bé phải bám vào tủ, vào tờng hoặc ai đó để tập đi.
Dần dần bé bớc từng bớc một, chậm rãi nhng không còn phải bám vào đâu
cả.
Bài 2: Bé bám vào thành giờng, dang 2 tay nh cô diễn viên đi trên
dây thăng bằng. Một, hai, ba đi từng bớc một
+ Những biểu hiện ngây thơ khi tiếp xúc với ngời thân trong gia đình,
trong sinh hoạt hàng ngày, khi ăn, khi chơi, khi ngủ.
* Cách diễn đạt
Cả ba bài đều có cách diễn đạt chân thành, tự nhiên, kết hợp giữa lời kể
với lời tả, tả với bộc lộ cảm xúc của mình.
* Những từ ngữ gợi tả, gợi cảm
Trong bài 2, bạn Vân Anh đã khéo léo sử dụng những từ ngữ gợi tả phù
hợp với đặc điểm của em bé: khuôn mặt bầu bĩnh, tóc la tha, mắt ngây
thơ, môi đỏ hồng.
ở bài 3, Quang biết sử dụng hợp lý các tính từ tuyệt đối chỉ màu sắc nh:
đen nhánh, hồng hào, đỏ chót, trắng nõn, và trắng hồng nhằm làm
nổi rõ vẻ đẹp, đáng yêu của em bé.
ở đoạn tả hoạt động đi đứng, nói cời của bé, lời văn của Quang giản dị,
mộc mạc, chân thực nhng cũng rất dí dỏm tạo ra sự thú vị đối với ngời đọc:
Cháu bèn đứng dậy, cúi lng lom khom, vắt hai tay ra đằng sau, loạng choạng
bớc; sà vào lòng mẹ, cời khanh khách; lăn kềnh ra khóc, vỗ tay đen
đét; nhảy cẫng lên sung sớng.
c) Kết bài: Cảm nghĩ về em bé, yêu quý em bé
d) Hạn chế
- Bài làm của bạn Vân Anh còn mắc lỗi dùng từ, chẳng hạn trong câu
sau: khi mẹ tắm cho bé, hai chân bé đạp lia lịa, vẻ thích thú lắm.