Khoá luận tốt nghiêp Phạm Thị Phương Chi
LỜI CẢM ƠN
Xây dựng bảng từ theo chủ đề ngữ nghĩa cho học sinh lớp 4, 5 ở
tiểu học là một đề tài có tính ứng dụng cao, đi sâu vào nghiên cứu một vấn đề
có tính thời sự trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học: mở rộng, tích lũy và tích
cực hóa vốn từ cho học sinh.
Được sự hướng dẫn tận tình của Thạc sỹ: Lê Bá Miên- giảng viên
chính Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2, tôi đã tiến hành nghiên cứu và
hoàn thành đề tài này.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Thầy.
Trong quá trình triển khai đề tài, tôi cũng nhận được sự giúp đỡ tận tình
của các thầy cô giáo và các em học sinh lớp 4,5 Trường Tiểu học Lưu Quý
An (Thị Xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc), cùng các thầy cô giáo chuyên ngành
Tiếng Việt trong khoa Giáo Dục Tiểu học, khoa văn Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2.
Qua đây tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo, các em học
sinh Trường Tiểu học Lưu Quý An (Thị Xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc), Các
thầy giáo, cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, khoa Văn Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2 và các bạn bè trong nhóm đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa
luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Phương Chi
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa được
công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây. Các số liệu khảo sát, kết quả
nghiên cứu là chính xác và trung thực.
Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2008
Người cam đoan
Phạm Thị Phương Chi
3
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Phương Chi
được giải thích nghĩa), hoàn toàn khác so với những cuốn từ điển chữ cái
thông thường.
Với cuốn từ điển này học sinh sẽ dễ dàng trong việc nhớ từ cũng như
sử dụng từ để nói, viết cho lưu loát, phù hợp. Vì sự hữu ích như vậy tôi quyết
định chọn đề tài: Xây dựng bảng từ theo chủ đề ngữ nghĩa cho học sinh
lớp 4,5 ở tiểu học làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình. Đây là một
hướng khai thác mới, có tính ứng dụng và thực hành cao. Nó sẽ giúp ích rất
nhiều cho cả giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học.
2. Lịch sử vấn đề
Việc mở rộng và tích lũy vốn từ cho học sinh tiểu học là một việc làm
quan trọng và cần thiết. Vì thế đã có rất nhiều đề tài khoa học, nhiều bài báo
đề cập đến vấn đề này. Có hai trường hợp như sau:
- Trường hợp một : Hầu hết việc nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức nghiên
cứu thực trạng, từ đó rút ra nguyên nhân và biện pháp góp phần nâng cao hiệu
quả dạy học từ ngữ cho học sinh, như:
+ Mở rộng và tích lũy vốn từ ghép cho học sinh tiểu học.
+ Mở rộng và tích lũy vốn từ láy cho học sinh tiểu học.
+ Mở rộng và tích lũy vốn từ cho học sinh tiểu học.
- Trường hợp 2 : Việc nghiên cứu vấn đề dưới dạng lí luận, như:
+ Dạy từ ngữ theo hệ thống( Tạp chí Ngôn ngữ số 3 năm 1973. Tác giả:
Phan Thiều)
+ Giảng dạy từ ngữ ở trường Phổ thông. NXBGD 1993. Phan Thiều,
Nguyễn Quốc Túy, Nguyễn Thanh Tùng.
Mở rộng và tích lũy vốn từ cho học sinh Tiểu học bằng cách xây dựng
bảng từ là việc làm hoàn toàn mới, một hướng nghiên cứu mới, chưa từng
được đề cập đến trong bất kỳ công trình nào trước đây.
4
Các chủ đề ngữ nghĩa lấy làm được lấy làm tiêu chí tập hợp từ được
chọn ra trong số 20 chủ đề ngữ nghĩa của Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4,5.
Bảng từ được xây dựng dựa trên 5 chủ đề ngữ nghĩa sau:
- Thiên nhiên
- Cái đẹp
- Dũng cảm
- Trẻ em
- Bảo vệ môi trường
Các từ ngữ được đưa vào trong bảng đều dựa trên cơ sở Sách giáo
khoa, Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 4,5 và thực tế tâm sinh lí học sinh lớp
4,5, không tập hợp từ một cách tràn lan, tùy tiện.
Việc khảo sát khả năng mở rộng, tích lũy và tích cực hóa vốn từ của
học sinh được tiến hành trên học sinh ở hai khối lớp 4, 5 của trường Tiểu học
Lưu Quý An( Thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc).
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thông kê
Quá trình tiến hành như sau:
- Đọc tư liệu lí thuyết về trường nghĩa qua các giáo trình, tài liệu
- Nghiên cứu Sách giáo khoa, Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 4,5
- Tiến hành khảo sát khả năng mở rộng, tích lũy và tích cực hóa vốn từ
của học sinh
- Xử lí số liệu
- Xây dựng bảng từ
6
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Phương Chi
- Đề xuất một số biện pháp để học sinh sử dụng bảng từ có hiệu quả
NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lí luận
định.
Giữa các từ có không ít những sự đồng nhất về hình thức và ý nghĩa.
Căn cứ vào những cái chung giữa các từ, chúng ta sẽ tiến hành phân lập toàn
bộ từ vựng của Tiếng Việt thành những hệ thống nhỏ hơn và phát hiện ra
những quan hệ giữa các từ trong từ vựng.
Do quá lớn và quá phức tạp, những liên hệ ngữ nghĩa trong từ vựng của
Tiếng Việt không hiện ra một cách trực tiếp giữa các từ lựa chọn ngẫu nhiên.
Khó có thể nói được giữa hai từ : “thiên thể” và “quần áo” có quan hệ gì về
ngữ nghĩa. Tuy nhiên, những quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi
đặt các từ (đúng ra là ý nghĩa của các từ ) vào những hệ thông con thích hợp,
mỗi tiểu hệ thống ý nghĩa là một trường nghĩa. Nhờ đó, chúng ta có thể phân
lập một cách tổng quát những quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ vựng thành
những quan hệ ngữ nghĩa giữa các trường nghĩa và các quan hệ ngữ nghĩa
trong lòng mỗi trường.
Theo F.De.Sausure trong “giá trị ngôn ngữ học đại cương” đã chỉ ra hai
dạng quan hệ chung nhất của ngôn là : Quan hệ ngang (tuyến tính, ngữ đoạn)
và quan hệ dọc( trực tuyến, hệ hình). Theo hai dạng quan hệ này, có thể có hai
loại trường nghĩa: trường nghĩa ngang và trường nghĩa dọc.
Trường nghĩa ngang là tập hợp các từ được kết hợp theo thứ tự trước
sau. Giữa chúng lập nên mối quan hệ ngang được tiếng Việt chấp nhận. Do
8
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Phương Chi
vậy, có những cách kết hợp chỉ có trong ngôn ngữ này mà không được chập
nhận ở ngôn ngữ khác.
Ví dụ: Trong tiếng Việt: Hai phụ âm không được đi liền nhau.
Về trật tự từ: tính từ đứng sau danh từ.
Điều này hoàn toàn khác so với tiếng Anh.
Trường nghĩa dọc được phân thành hai dạng tương ứng với hai ý nghĩa
của từ: Trường biểu vật (được xác lập dựa trên ý nghĩa biểu vật của từ) và
tập hợp).
Sau đó, chọn các từ thỏa mãn cấu trúc biểu niệm ấy (chọn các từ có
cùng nét nghĩa).
Ví dụ: Trường biểu niệm: Hoạt động dời chỗ bằng chân: đi, chạy, lùi,
tiến, bước, bê, lê, bật,…
2.3. Từ đồng nghĩa từ trái nghĩa
Ngoài mối quan hệ ngang và dọc, giữa các từ trong tiếng Việt còn có
thể có quan hệ đồng nhất hay đối lập với nhau. Trên cơ sở mối quan hệ này,
tiếng Việt có từ đồng nghĩa (gần nghĩa) và từ trái nghĩa.
Quan hệ đồng nhất hay đối lập giữa các từ chỉ có thể xác lập trên cơ sở
các từ trong cùng một trường. Nói cách khác, quan hệ này là một trong những
mối quan hệ giữa các từ trong trường. Vì vậy, hiện tượng đồng nghĩa và hiện
tượng trái nghĩa chỉ sảy ra khi các từ thuộc cùng một trường nghĩa.
2.3.1. Từ đồng nghĩa
Đồng nghĩa là mối quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ có ít nhất một nét
nghĩa chung nào đó.
Theo sách giáo khoa Tiếng Việt 5 tập 1( trang 8): “ Từ đồng nghĩa là
những từ có nghĩa giống nhau”.
Ví dụ: Siêng năng, chăm chỉ, cần cù…
Có những từ đồng nghĩa hoàn toàn, có thể thay thế cho nhau trong lời
nói
Ví dụ: hổ, cọp,…
10
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Phương Chi
Có những từ đồng nghĩa không hoàn toàn. Khi dùng những từ này, ta
phải cân nhắc để lựa chọn đúng.
Ví dụ:
- Ăn, xơi, chén,…( biểu thị thái độ tình cảm khác nhau đối với người
đối thoại hoặc điều được nói đến)
điểm / lớp. Các chủ điểm này tập trung vào những phẩm chất của con người
hoặc những vấn đề mà học sinh cần quan tâm với tư cách là một người công
dân.
Như vậy, sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học đã quán triệt quan điểm
dạy từ ngữ cho Học sinh trên cơ sở các trường nghĩa. Mỗi trường nghĩa chính
là một chủ điểm.
Trong phân môn luyện từ và câu, các bài mở rộng vốn từ theo chủ điểm
chiếm tỉ lệ lớn và là dạng bài chính xuyên suốt chương trình của phân môn từ
lớp 2 đến lớp 5. Mỗi chủ điểm đều có một đến hai bài mở rộng vốn từ theo
chủ điểm đó. Ở cả lớp 4 và lớp 5 đều có mười bảy tiết luyện từ và câu: mở
rộng vốn từ theo chủ đề được phân bố trong mười chủ điểm.
Số lượng từ mà học sinh cần nắm vững theo mục tiêu dạy học tiểu học
là rất lớn và tăng dần theo khối lớp.
Ở lớp 4: Học sinh học thêm từ 500-550 từ mới.
Ở lớp 5: Học sinh học thêm từ 600- 650 từ mới.
Các từ này học sinh được học trong tất cả các môn, trong đó môn Tiếng
Việt là chủ yếu.
Cụ thể việc giảng dạy năm chủ đề ngữ nghĩa được chọn nghiên cứu
trong đề tài như sau:
- Chủ đề: Thiên nhiên
+ Chủ điểm : Con người với thiên nhiên - Tuần 7, 8, 9 (sách giáo khoa
Tiếng Việt 5)
+ Tập đọc: Những người bạn tốt, Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà,
Kì diệu rừng xanh, Trước cổng trời, Cái gì quý nhất, Đất Cà Mau,…
12
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Phương Chi
+ Kể chuyện: Cây cỏ nước Nam, kể chuyện đã nghe, đã đọc về mối
quan hệ giữa con người với thiên nhiên,…
+ Tập làm văn: Tả cảnh
+ Chủ điểm: Giữ lấy màu xanh- Tuần 11, 12, 13 (Sách giáo khoa Tiếng
Việt 5)
+ Tập đọc: Chuyện một khu vườn nhỏ, Tiếng vọng, Mùa thảo quả,
Người gác vườn tí hon, Trồng rừng ngập mặn,…
+ Kể chuyện: Người đi săn và con nai, kể chuyện đã nghe, đã đọc có
nội dung bỏa vệ môi trường,…
+ Luyện từ và câu: Mở rộng vốn từ: Bảo vệ môi trường( 2 tiết)
Như vậy, việc dạy từ ngữ trên cơ sở các trường nghĩa là nền tảng vững
chắc để tập hợp từ tạo thành các bảng từ. Học sinh không chỉ nắm vững cách
lập bảng, mà còn lập được bảng với số lượng từ lớn. Từ đó, các em có kỹ
năng sử dụng từ ngữ linh hoạt và sáng tạo khi nói cũng như khi viết.14
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Phương Chi
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG
Bảng từ được xây dựng trên cơ sở các chủ đề ngữ nghĩa trong sách giáo
khoa Tiếng Việt 4, 5. Trong tổng số 20 chủ đề ngữ nghĩa đó, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu trên 5 chủ đề ngữ nghĩa sau:
- Thiên nhiên
- Cái đẹp
- Dũng cảm
- Trẻ em
- Bảo vệ môi trường
Đối với mỗi chủ đề, cấu trúc đều gồm ba phần:
* Khảo sát khả năng mở rộng và tích lũy vốn từ theo chủ đề ngữ nghĩa
cho học sinh lớp 4, 5:
Mục đích của việc làm này là tìm hiểu thực trạng vốn từ của học sinh,
giải thích nguyên nhân của thực trạng, từ đó có định hướng xây dựng bảng từ
phù hợp với trình độ và tâm lí học sinh
của học sinh
Yêu cầu đưa ra là:
- Tìm các từ ngữ chỉ các sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên
- Trong các từ ngữ sau: cha mẹ, nhà cửa, cây cối, tươi đẹp, đất, rừng,
yêu quý, tổ quốc, bao la, lên thác xuống ghềnh( LTXG)
Những từ ngữ nào nói về thiên nhiên?
16
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Phương Chi
Kết quả khảo sát như sau:
a. Tìm các từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên.
a1. Bảng kết quả khảo sát :
Lớp 4( 60 bài)
Số
từ
SL
4 từ 5 từ 6 từ 7 từ 8 từ 9 từ >9 từ Tổng số từ
Đúng 2 3 2 5 13 12 23 375
Sai 0 0 0 0 0 0 0 0
Lớp 5( 60 bài)
Số từ
SL
7 từ 8 từ 9 từ >9 từ
Tổng số từ
Đúng 6 4 10 40 432
Sai 0 0 0 0 0
a2. Nhận xét và miêu tả:
Các từ học sinh tìm được đều đúng 100%, nhưng có sự khác nhau về số
lượng từ giữa lớp 4 và lớp 5.
+ Lớp 4: Học sinh tìm được ít nhất là 4 từ.
Từ
SL
Cha
mẹ
Nhà
cửa
Cây
cối
Tươi
đẹp
Đất Rừng
Yêu
quý
Tổ
quốc
Bao la LTXG
Lớp 4
( 60 bài)
Đúng
60
100%
40
67%
60
100%
60
100%
42
70%
58
Thiếu 0
8
13%
0 0
9
15%
0
Sai 0
3
5%
0 0 0
19
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Phương Chi
b2. Nhận xét và miêu tả :
- Các từ học sinh xác định đúng nhiều nhất là : cây cối, đất, rừng ( 100%).
- Học sinh xác định thiếu chủ yếu tập trung vào hai từ : tươi đẹp, bao la.
Nhưng số lượng xác định thiếu giảm dần theo khối lớp.
+ Với từ : “ tươi đẹp”
Số học sinh xác định thiếu ở lớp 4 là : 20 học sinh/60 học sinh chiếm
33%.
Số học sinh xác định thiếu ở lớp 5 là : 08 học sinh/60 học sinh chiếm
13%.
+ Với từ : “ bao la”
Số học sinh xác định thiếu ở lớp 4 là : 18 học sinh/60 học sinh chiếm
30%.
Số học sinh xác định thiếu ở lớp 5 là : 09 học sinh/60 học sinh chiếm
15%.
- Học sinh xác định sai chủ yếu là ở hai từ : nhà cửa, tổ quốc.
+ Với từ : “ nhà cửa”
viên có thể giải nghĩa từ cho học sinh bằng cách thích hợp nhất (trực quan, từ
điển, ngữ cảnh). Từ đó học sinh sẽ dễ dàng hơn trong việc xác định từ, lựa
chọn từ theo yêu cầu đề ra.
1.2 Bảng từ :
Trên cơ sở các từ ngữ mà học sinh tìm ra, kết hợp với sách giáo khoa,
sách giáo viên, các tài liệu có liên quan và kiến thức thực tế của bản thân
chúng tôi tiến hành lập ra bảng từ như sau:
21
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Phương Chi
Chủ đề: Thiên nhiên
Sự vật trong
thiên nhiên
Hiện tượng
trong thiên
nhiên
Tính chất của
thiên nhiên
Từ ngữ miêu tả
không gian
Từ ngữ gắn với
sự vật, hiện
tượng cụ thể
Ngữ cố định
Cây cối, ao, hồ,
sông, suối, rừng,
núi, bầu trời,
chim chóc,…
Mưa, gió, sấm,
sét, chớp, bão, lũ,
Mục đích của việc làm này là dèn luyện cho học sinh kỹ năng dùng từ
đặt câu, viết đoạn văn. Có nghĩa là học sinh có kỹ năng lựa chọn mô hình câu,
chọn từ thích hợp để “lấp đầy” mô hình câu đấy và sử dụng các từ trong cùng
một trường để viết các câu tạo nên sự liên kết về nghĩa giữa các câu trong
đoạn.
- Yêu cầu đưa ra là : đặt câu với bốn từ chỉ sự vật, hiện tượng trong
thiên nhiên.
- Kết quả khảo sát :
Kết quả
Lớp
Tổng bài
Đúng Sai
Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%)
Lớp 4 60 56 93.3 4 6.7
Lớp 5 60 58 96.7 2 3.3
- Nhận xét và miêu tả:
+ Tỷ lệ học sinh làm bài đúng là rất cao, cụ thể :
Lớp 4 : số học sinh làm bài đúng là 56 học sinh/ 60 học sinh chiếm
93.3%.
Lớp 5 : số học sinh làm bài đúng là 58 học sinh/ 60 học sinh chiếm
96.7%.
+ Học sinh đặt câu sai chiếm tỷ lệ thấp (6.7% ở lớp 4 và 3.3% ở lớp 5)
và chủ yếu học sinh chỉ sai một câu.
+ Học sinh lớp 4 chỉ đặt những câu đơn giản, ngắn gọn, ít có những câu
ghép dài, hay những câu sử dụng các biện pháp nghệ thuật.
Ví dụ : Quanh hồ, chim hót líu lo.
Suối chảy róc rách.
23
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Phương Chi
nguyên tắc về ngữ âm và ngữ nghĩa. Vì vậy, giáo viên cũng phải chú ý nhắc
nhở học sinh về cách kết hợp của từ ngữ trên chuỗi ngang.
Dạng bài dùng từ đặt câu chính là bước chuẩn bị để học sinh làm tốt
dạng bài tập dùng từ trong bảng để viết đoạn văn theo chủ đề thích hợp.
2. CHỦ ĐỀ : CÁI ĐẸP
2.1. Kết quả khảo sát khả năng mở rộng và tích lũy vốn từ theo chủ đề cái
đẹp của học sinh.
Yêu cầu đưa ra là:
- Tìm những từ thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên, con người.
- Gạch chân dưới những từ nói về cái đẹp trong đoạn văn sau:
Trước nhà, mấy cây bông giấy nở hoa tưng bừng. Trời càng nắng gắt,
hoa giấy càng bừng lên rực rỡ. Màu đỏ thắm, màu tím nhạt, màu da cam, màu
trắng muốt tinh khiết…. Hoa giấy đẹp một cách giản dị.
Kết quả khảo sát như sau:
a.Tìm những từ thể hiện vẻ đẹp của:
* Thiên nhiên
Lớp 4 (52 bài)
Số từ
SL
1 từ 2 từ 3 từ 4 từ 5 từ 6 từ 7 từ > 7 từ
Tổng
số từ
Đúng 2 4 8 10 6 8 10 4 268
Sai 2 0 0 0 0 0 0 0 225