TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
ĐỖ NGỌC LƯƠNG
RÈN KĨ NĂNG KỂ CHUYỆN THEO QUAN
ĐIỂM GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 4,5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm
ơn thầy giáo Lê Bá Miên- người thầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em
hoàn thành khóa luận này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn các thầy, cô giáo trong Ban Chủ nhiệm
Khoa Giáo dục Tiểu Học, Thư viện Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2.Em
xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban Giám hiệu, các thầy, các cô giáo và
các em học sinh Trường Tiểu Học Hùng Vương- Thị xã Phúc Yên- Tỉnh Vĩnh
Phúc trong suốt quá trình em quan sát, tìm hiểu thực tế thực nghiệm khóa luận
này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên lớp K40D- GDTH đã
tạo điều kiện và động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn
thành khóa luận.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà nội, tháng 5 năm 2018
Người thực hiện
Đỗ Ngọc Lương
Học sinh
3
NXBGD
Nhà xuất bản giáo dục
4
TV4
Tiếng Việt 4
5
SGK
Sách giáo khoa
6
TV5
Tiếng Việt 5
7
ĐC
1.2.1.2. Chương trình kể chuyện lớp 5 ............................................................................................ 22
1.2.2.Thực trạng của dạy học kể chuyện lớp 4,5 ............................................................................. 23
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG KỂ CHUYỆN THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP CHO HỌC SINH
LỚP 4,5 ............................................................................................................................................. 26
2.1.Nguyên tắc đề xuất các biện pháp dạy kể chuyện theo quan điểm giao tiếp cho học lớp 4,5.. 26
2.1.1.Đảm bảo mục tiêu môn học .................................................................................................... 26
2.1.2.Đảm bảo phù hợp với trình độ của học sinh........................................................................... 26
2.1.3.Đảm bảo tính hấp dẫn............................................................................................................. 27
2.2.Hệ thống biện pháp rèn kĩ năng kể chuyện theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4,5 .... 27
2.2.1.Rèn kĩ năng hướng dẫn người nghe, giao tiếp với người nghe khi kể chuyện ....................... 27
2.2.1.1.Đa dạng hóa cách giới thiệu câu chuyện. ............................................................................ 28
2.2.1.2.Đa dạng hóa cách kết thúc câu chuyện. .............................................................................. 29
2.2.2.Kĩ năng nhận xét, đánh giá ...................................................................................................... 31
2.2.3.Kĩ năng đóng vai ...................................................................................................................... 33
*Những biện pháp và kĩ thuật cần thiết khi vận dụng kĩ năng đóng vai trong kể chuyện theo quan
điểm giao tiếp. ................................................................................................................................. 35
2.2.4.Kĩ năng hướng dẫn học sinh kết hợp diễn xuất với đồ dùng trực quan ................................. 37
2.2.4.1.Mục đích của việc kết hợp diễn xuất của người kể với sử dụng đồ dùng trực quan minh
họa cho câu chuyện để kể chuyện hay và hấp dẫn hơn. ................................................................. 37
2.2.4.2.Một số bài tập sử dụng đồ dùng trực quan minh họa cho câu chuyện giúp kể chuyện hay
và hấp dẫn hơn. ............................................................................................................................... 39
CHƯƠNG 3:THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ............................................................................................. 43
3.1.Mục đích thực nghiệm ............................................................................................................... 43
3.2.Thời gian thực nghiệm ............................................................................................................... 43
3.3.Phạm vi thực nghiệm ................................................................................................................. 43
3.4.Đối tượng thực nghiệm.............................................................................................................. 43
3.5.Nội dung thực nghiệm ............................................................................................................... 44
3.6.Phương pháp thực nghiệm ........................................................................................................ 52
Nghiên cứu về việc rèn kĩ năng kể chuyện ở tiểu học nói chung và việc rèn
kĩ năng kể chuyện lớp 4, 5 nói riêng là một việc làm thiết thực trong dạy học tiếng
việt của giáo viên và học sinh lớp 3 hiện nay, góp phần đổi mới nội dung giảng
dạy, phương pháp dạy học ở Tiểu học. Xuất phát từ lí do trên nên tôi mạnh dạn
chọn và nghiên cứu đề tài: “Rèn kĩ năng kể chuyện theo quan điểm giao tiếp cho
học sinh lớp 4,5”
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Kể chuyện là một trong những phân môn quan trọng ở Tiểu học. Vì vậy,
phân môn kể chuyện được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Trong số đó, nổi bật
nhất phải kể đến tác giả:
+ Chu Huy với cuốn Dạy kể chuyện ở trường Tiểu học. Nhà xuất bản Giáo
dục, 2000. Ngoài việc xác định vị trí , nhiệm vụ rất quan trọng của phân môn Kể
chuyện, ông còn đề ra phương pháp và kĩ thuật lên lớp với những bài soạn mẫu rất
cụ thể.Cuốn sách giúp chúng tôi nhận thức đúng về phân môn kể chuyện, các biện
pháp hướng dẫn kể chuyện rất phong phú, là cẩm nang cho nhiều giáo viên. Song
các biện pháp trình bày trong sách chỉ phù hợp với tiết kể chuyện được dạy theo
phương pháp cũ (thầy kể trò nghe, ghi nhớ và kể lại), không phù hợp với phương
pháp dạy hiện nay
+ Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học , của bộ giáo dục
và đào tạo. Cuốn sách đã trình bày một cách chi tiết cụ thể về cấu trúc nội dung và
phương pháp dạy học cho từng phân môn trong môn Tiếng Việt trong đó có phân
môn kể chuyện.
+ Giáo trình rèn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (1996) của hai tác giả Đào
Ngọc và Nguyễn Quang Ninh, Nhà xuất bản giáo dục, đã chỉ ra rằng việc rèn luyện
kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ gắn liền với các kĩ năng nghiệp vụ ở Tiểu học như: kĩ
năng đọc thầm, kĩ năng đọc diễn cảm, kĩ năng viết chữ, kĩ năng viết các loại văn
hay ở Tiểu học, kĩ năng nghe, kĩ năng nói, kĩ năng kể chuyện .
+Phương pháp dạy học Tiếng Việt hai của hai tác giả Lê Phương Nga và
3.1. Mục đích
Mục đích là:
- Xác định được thế nào là kể chuyện theo quan điểm giao tiếp. Ý nghĩa và
các yêu cầu đối với kể chuyện theo quan điểm giao tiếp trong quá trình kể chuyện.
- Đề xuất biện pháp (gồm các bước) rèn kĩ năng kể chuyện theo quan điểm
giao tiếp
- Rèn luyện khả năng giao tiếp
3.2. Nhiệm vụ
Nhiệm vụ là:
- Đọc tài liệu
- Rèn luyện kĩ năng kể chuyện theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp
4,5
- Qua thống kê , khảo sát để đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng cho việc giảng day kể chuyện theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4,5
4. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: “Rèn luyện kĩ năng kể chuyện theo
quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4,5.”
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận này, người viết đã sử dụng ba phương pháp nghiên
cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp nghiên cứu này được vận dụng để phân tích tư liệu, thống kê
và tổng hợp kết quả phân tích
- Phương pháp thống kê và phân loại
Sử dụng phương pháp nghiên cứu này để thống kê các câu có trong phân
môn chính tả ở sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học và phân loại chúng theo tiêu
cung cấp những thông tin (hiểu biết) cho người nghe hoặc bày tỏ tình cảm của
người nói cho người nghe chia sẻ hoặc tạo lập, duy trì quan hệ của người nói người
nghe” ( Cơ sở ngữ nghĩa học và từ vựng- NXBGD-H2000 trang 32)
Tác giả Lê A , Đỗ Xuân Thảo cũng cho rằng “ khi có ít nhất hai người gặp
nhau và bày tỏ với nhau điều gì đấy như nỗi buồn, vui, ý muốn, hành động hay
nhận xét nào đấy về sự vật xung quanh thì giữa họ diễn ra một hoạt động giao tiếp
( gọi tắt là giao tiếp )” ( Giáo trình Tiếng Việt 1- NXBGD-1997 trang 27)
Như vậy, giao tiếp là hoạt động tiếp xúc giữa các thành viên trong xã hội
với nhau, dùng ngôn ngữ để bày tỏ tư tương, tình cảm hay trao đổi ý kiến... về xã
hội, con người, thiên nhiên. Mỗi cuộc giao tiếp ít nhất phải có hai người và đều
phải dùng cùng một ngôn ngữ nhất định.
Giao tiếp tồn tại ở hai dạng: Giao tiếp bằng lời (giao tiếp bằng miệng) và
giao tiếp bằng văn tự (giao tiếp bằng viết)
Vậy tại sao con người phải giao tiếp với nhau? Câu trả lời chỉ có thể tìm
thấy trong mục đích hay chức năng của giao tiếp. Vai trò mà giao tiếp có thể đảm
nhận trong đời sống cộng đồng chính là chức năng của ngôn ngữ. Giao tiếp có 4
chức năng chính:
Chức năng tạo lập quan hệ: Không chỉ dừng lại ở chức năng trao đổi thông
tin, trong quá trình giao tiếp con người luôn hướng đến việc xây dựng và duy trì
các mối quan hệ tốt đẹp giữa những cá nhân tham gia giao tiếp. Đôi khi, mục đích
này lại là mục đích chính của cuộc giao tiếp.Tuy nhiên, chức năng này bao gồm cả
chức năng phá vỡ quan hệ.
Chức năng thông tin ( chức năng thông báo): Qua các cuộc giao tiếp người
ta trao đổi các thông tin ( các thông tin thời sự, chính trị, các tri thức khoa học, văn
hóa nghệ thuật...) dưới dạng nhận thức, tức là họ đã thực hiện chức năng thông báo
của giao tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức của con người. Đây chính là chức
năng mà chúng ta thường gặp trong giao tiếp.
Chức năng tự biểu hiện: Qua giao tiếp con người có thể tự bộc lộ mình về
giữa người nói và người nghe.
*Hiện thực được nói đến
Hiện thực được nói tới chính là những sự vật, những hiện tượng hay những
sự kiện diễn ra trong tự nhiên và trong đời sống xã hội xung quanh con người.
Hiện thực được nói tới đã cấu thành nội dung của các cuộc giao tiếp và tạo nên đề
tài hay là chủ đề của các cuộc nói chuyện. Tùy theo đề tài, chủ đề của các cuộc nói
chuyện mà cả hai bên lựa chọn các nội dung chi tiết hay các phương tiện ngôn ngữ
để giao tiếp.
*Hoàn cảnh giao tiếp
Cuộc giao tiếp nào cũng diễn ra trong một bối cảnh cụ thể . Hoàn cảnh giao
tiếp được chia làm hai loại:
+ Hoàn cảnh giao tiếp rộng là tổng thể những đặc điểm và điều kiện tự nhiên,
xã hội, lịch sử.
+ Hoàn cảnh giao tiếp hẹp còn gọi là tình huống giao tiếp, bao gồm các yếu
tố thời gian, địa điểm, hình thức giao tiếp, tình trạng sức khỏe.
*Ngôn ngữ sử dụng
Ngôn ngữ là công cụ để hai bên tiến hành giao tiếp. Trong văn bản hay
trong văn chương, nhà văn giao tiếp với bạn đọc, ngoài bằng phương tiện ngôn
ngữ còn giao tiếp bằng hình tượng nhân vật, bằng hình ảnh hay bằng các biện
pháp tu từ...
*Ngôn bản
“ Ngôn bản là chuỗi kết hợp các yếu tố ngôn ngữ tạo nên lời nói của nhân
vật giao tiếp” ( Giáo trình Tiếng Việt- NXBGD-1997 trang 31) nói cách khác
ngôn bản là sản phẩm của lời nói được tạo ra trong quá trình giao tiếp nhằm đạt
mục đích giao tiếp. Như thế có thể hiểu đầy đủ thì ngôn bản là sản phẩm dạng
nói lẫn dạng viết của việc giao tiếp bằng ngôn ngữ.
Ngôn bản nói là chuỗi các yếu tố ngôn ngữ thể hiện ra bằng âm thanh,
bằng lời nói miệng khi giao tiếp.
năng, kĩ xảo bên cạnh các loại hình văn miêu tả, văn nghị luận.
+Kể chuyện là một môn học của các lớp Tiểu học trường phổ thông. Có
người hiểu đơn giản kể chuyện chỉ là kể chuyện dân gian, kể chuyện cổ tích.
Thực ra không hẳn như vậy, kể chuyện ở đây bao gồm việc kể nhiều loại truyện
khác nhau, kể cả chuyện cổ tích và truyện hiện đại, nhằm mục đích giáo dục,
giáo dưỡng, rèn kĩ năng nhiều mặt của một con người.
Sở dĩ có thể xác định “kể chuyện” là một thuật ngữ vì nó có một kết cấu âm
tiết ổn định, một phạm trù ngữ nghĩa nhất định. Lâu nay thuật ngữ “kể chuyện” vẫn
dùng với ý nghĩa kể một câu chuyện bằng lời, kể cả câu chuyện có hình thức hoàn
chỉnh, được in trên sách báo.
(Xem Chu Huy, Dạy kể chuyện ở trường Tiểu học. NXB GD-2000, trang
11-12)
b) Đặc điểm thể loại truyện và môn kể chuyện
Đặc điểm của môn kể chuyện
Kể chuyện có vị trí quan trọng trong dạy học tiếng mẹ đẻ, trước hết hành
động kể là một hành động “nói”, đặc biệt trong hoạt động giao tiếp.Kể chuyện vận
dụng một cách tổng hợp sự hiểu biết về đời sống và tạo điều kiện để học sinh rèn
luyện một cách tổng hợp các kĩ nằng tiếng việt như mghe, nói, đọc, viết.
Khi nghe thầy cô kể chuyện, học sinh đã tiếp nhận tác phẩm văn học ở dạng
lời nói có âm thanh. Khi các em kể chuyện là các em đang tái sinh hoặc sản sinh
một tác phẩm nghệ thuật ở dạng lời nói.
Vì chuyện là một tác phẩm văn học nên kể chuyện có được sức mạnh của cả
văn học. Truyện có khả năng bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ.Sự hiểu biết về cuộc sống,
về con người, tâm hồn, tình cảm, của các em sẽ nghèo đi biết bao nhiêu nếu không
còn môn kể chuyện trong trường học.Vì vai trò của hành động kể và sản phẩm
truyện, phân môn kể chuyện có vị trí quan trọng trong dạy học Tiếng việt.
Phân môn kể chuyện có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu được nghe kể chuyện của
các em, phát triển ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ năng nghe-nói , đồng thời phát triển tư
Đọc truyện
Kể chuyện
- Người đọc sử dụng mọi sắc thái
- Kể cũng dùng âm thanh, các sắc
giọng của mình và các phương diện đọc thái ngữ điệu khác nhau để thể hiện một
biểu cảm khác làm cho tác phẩm cất văn bản. Nhưng khi kể so với đọc thì
tiếng nói.Thể hiện một văn bản đọc đều hoàn toàn khác về mặt biểu cảm, bởi khi
phải đảm bảo số lượng từ, đọc chính xác kể chuyện người kể không cần phải kể
không được thoát ly văn bản.
đúng từng từ từng chữ trong văn bản.
-Đọc truyện phải đọc nguyên văn, Điều quan trọng, người kể phải làm sao
phải trung thành, không có điều kiện thể hiện được hết nội dung câu chuyện
sáng tạo như kể chuyện.
đó bằng ngữ điệu, giọng kể làm cho
người nghe hiểu được hết nội dung văn
bản.
-Chuyện là sự việc được kể lại
bằng lời nói miệng
Kể là lời nói có đầu có đuôi theo
trình tự diễn biến sự việc để cho người
khác biết.
Vậy kể chuyện là lời nói có đầu
-Chủ động xác định mục đích giao tiếp. Người kể xác định câu chuyện của
mình nhằm mục đích tác động đến tình cảm, thái độ, hành vi của người đọc, người
xem. Đích tác động này có thể tác dụng ngay tức thì nhưng cũng có thể một thời
gian sau mới có các tác dụng.
+Hệ thống các biện pháp người kể dùng để tác động đến người đọc, người
nghe, người xem.
-Lựa chọn đề tài và chủ đề phù hợp đối tượng; xây dựng cốt truyện hợp lí,
hấp dẫn đúng đề tài, chủ đề và thể hiện được mục đích của câu chuyện; xây dựng
nhân vật có những đặc điểm tiêu biểu chuyền đạt được thông điệp mà câu chuyện
muốn gửi gắm. Tùy vào mục đích của người viết câu truyện mà cốt truyện có thể
xây dựng từ đề tài, chủ đề hay nhân vật.
-Lựa chọn các cách mở đầu, kết thúc và dẫn dắt câu chuyện. Tùy thuộc vào
phong cách và dụng ý của người kể mà câu chuyện sẽ được mở đầu, kết thúc và
phát triển như nào nhằm đạt được hiểu quả cao nhất.
- Lựa chọn ngôn ngữ: Người kể thường viết câu chuyện bằng ngôn ngữ mà
mình thông hiểu nhằm đạt được hiểu quả cao nhất. Tuy nhiên, tùy theo đối tượng
mà câu chuyện hướng đến mà người kể sử dụng ngôn ngữ sao cho phù hợp đặc
biệt là từ ngữ, cách diễn đạt,...
*Đặc điểm giao tiếp của kể chuyện xác định từ phía người nghe, người
xem:
+Vai trò chủ quan của người nghe, người xem trong cuộc giao tiếp với
người kể chuyện theo quan điểm giao tiếp. Người nghe, người đọc, người xem
đóng vai trò là đối tượng mà người kể hướng đến. Vì vậy, ngoài việc đánh giá câu
chuyện ở khía cạnh ý nghĩa, cốt truyện, tình tiết, ...người đọc, người xem còn có
thể đánh giá tác phẩm ở kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, bút pháp của người kể.
+Tác động trở lại của người nghe, người đọc, người xem với người kể
trong kể chuyện theo quan điểm giao tiếp.
-Khi cuộc giao tiếp diễn ra, người nhận thường có phản ứng với nội dung
chuyện chưa được bộc lộ nhưng nếu liên kết các tình huống lại thì các tình huống
đều hướng đến mục đích của câu chuyện.
*Xây dựng (thể hiện) các tình huống giao tiếp trong câu chuyện
-Các tình huống giao tiếp phải phù hợp với bối cảnh câu chuyện và cần
diễn ra theo trình tự lôgic nội tại của tác phẩm để cùng hướng đến mục đích của
câu chuyện.
-Các tình huống giao tiếp phải là những tình huống ngẫu nhiên để tạo được
sự mới lạ, hấp dẫn. Trong đó, các nhân vật đối thoại với nhau tự nhiên để bộc lộ
tính cách, thân phận của mình.
1.1.2.Cơ sở tâm lí
1.1.2.1. Nhận thức cảm tính
Tri giác mang tính cụ thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định.Ở
giai đoạn lớp 4,5 tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật
hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có
phương hướng rõ ràng.Tri giác có chủ định ( trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp
xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó,...)
Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới,
mang màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích
trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác.
1.1.2.2.Nhận thức lí tính
*Tư duy
Lớp 4,5 bắt đầu biết khái quát hóa lí luận.Tuy nhiên, hoạt động phân tích,
tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng
*Tưởng tượng
Ở lớp 4,5 tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ
trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển, trẻ
bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,...Đặc biệt tưởng tượng của
các em trong giai đoạn này chi phối mạnh mẽ bởi các cảm xúc, tình cảm, nhũng
Tuần 19
Tên bài
Bác đánh cá và gã hung thần
Tuần 1
Sự tích hồ Ba bể
Tuần 2
Kể chuyện đã nghe, đã đọc Tuần 20
Kể chuyện đã nghe, đã đọc
Tuần 3
Kể chuyện đã nghe, đã đọc Tuần 21
Kể chuyện được chứng kiến
hoặc tham gia
Tuần 4
Một nhà thờ chân chính
Tuần 22
Con vịt xấu xí
Kể chuyện được chứng Tuần 27
Kể chuyện được chứng kiến
kiến hoặc tham gia
hoặc tham gia
Tuần 10
Ôn tập giữa học kì 1
Tuần 28
Ôn tập giữa học kì 2