Xây dựng hệ thống bài tập câu cầu khiến cho học sinh lớp 4 theo quan điểm giao tiếp - Pdf 43

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
-----------------------------------

TRẦN THỊ DIỆU LY

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
CÂU CẦU KHIẾN CHO HỌC SINH LỚP 4
THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: PPDH Tiếng Việt ở Tiểu học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. HOÀNG THỊ THANH HUYỀN

HÀ NỘI, 2017


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm ơn các
thầy cô trong tổ bộ môn Tiếng Việt, Ban chủ nhiệm khoa Giáo dục Tiểu học,
Ban giám hiệu trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ em
trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng nhƣ hoàn thành khóa luận.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo - TS Hoàng Thị
Thanh Huyền đã tận tình hƣớng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến gia đình, bạn bè đã
động viên, ủng hộ, giúp đỡ em rất nhiều trong suốt thời gian hoàn thành khoá
luận này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh
nhất. Song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp
cận với thực tế cũng nhƣ hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể

GV

Giáo viên

HS

Học sinh

SGK

Sách giáo khoa

SHD

Sách hƣớng dẫn


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu ........................................................................................ 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 5
4. Đối tƣợng và phạm nghiên cứu ..................................................................... 6
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................... 6
6. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 7
NỘI DUNG ....................................................................................................... 8
CHƢƠNG 1: CƠ SỎ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN........................................... 8
1.1. Cơ sở lí luận ............................................................................................... 8
1.1.1. Lí thuyết về giao tiếp ............................................................................... 8
1.1.2 Lí thuyết về câu cầu khiến ...................................................................... 14

3.3 Nội dung thực nghiệm ............................................................................... 54
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 72


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thế giới ngày nay đang có những thay đổi sâu sắc về mọi mặt: xu thế
toàn cầu hóa, việc chuyển sang "nền kinh tế tri thức" có vai trò quyết định đến
sự phát triển kinh tế, sự phát triển nhƣ vũ bão của khoa học công nghệ. Những
thay đổi ấy không chỉ tác động mạnh mẽ đến giáo dục trong việc đổi mới mục
tiêu, nội dung, phƣơng pháp, hình thức dạy học mà còn đặt ra cho giáo dục
những thách thức lớn khi đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lƣợng cao để hội nhập
quốc tế.
Đất nƣớc ta đang thực hiện chiến lƣợc đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa trong điều kiện
kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Trong
việc đổi mới, con ngƣời là khâu đột phá, có tính quyết định. Dĩ nhiên trong đó
khẳng định vai trò của giáo dục là rất quan trọng cho sự phát triển của tƣơng
lai nhân loại, đặc biệt là giáo dục Tiểu học - bậc học nền tảng - nơi ƣơm mầm
và nuôi dƣỡng những tài năng, chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc. Ở bậc Tiểu
học, các em có hiểu biết, có nền kiến thức vững chắc thì sau này các em mới
có đà phát triển.
Ở bậc Tiểu học, cùng với các môn học khác, Tiếng Việt là môn học
quan trọng, chiếm nhiều thời lƣợng và có tính tích hợp cao. Môn Tiếng Việt ở
Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh thể hiện ở
bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. Môn Tiếng Việt còn là cơ sở để các em học
các môn học khác. Ngoài ra môn học này còn là công cụ hữu hiệu trong hoạt
động và giao tiếp của học sinh, giúp học sinh tự tin và chủ động hòa nhập các
hoạt động học tập trong trƣờng học, giúp học sinh hình thành và rèn luyện các

theo quan điểm giao tiếp.

2


Xuất từ tất cả những lí do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề "Xây dựng
hệ thống bài tập câu khiến cho học sinh lớp 4 theo quan điểm giao tiếp"
làm đề tài nghiên cứu.
2. Lịch sử nghiên cứu
Câu Tiếng Việt đƣợc phân chia theo nhiều tiêu chí: Theo cấu tạo ngữ
pháp, có 4 kiểu: câu đơn, câu phức, câu ghép, câu đặc biệt; theo mục đích
dùng câu, có 4 kiểu: câu kể (câu tƣờng thuật), câu hỏi (câu nghi vấn), câu cảm
(câu cảm thán), câu khiến (câu cầu khiến), theo tình thái, có câu khẳng định,
câu phủ định… Nhƣ thế, câu cầu khiến là một trong 4 kiểu câu phân chia theo
mục đích nói.
Ngữ pháp truyền thống đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến
câu cầu khiến chủ yếu xoay quanh vấn đề "phân loại câu theo mục đích phát
ngôn". Đó là việc xác định mục đích giao tiếp của từng kiểu câu và dấu hiệu
hình thức điển hình tƣơng ứng để khảo sát đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa
của câu.
Từ cuối những năm 80 trở lại đây, ở Việt Nam, vấn đề hành động ngôn
ngữ đã thu hút đƣợc sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học. Các công trình
nghiên cứu về hành động ngôn ngữ nói chung và hành động cầu khiến nói
riêng đã đƣợc xem xét từ góc độ ngữ dụng. Ngữ dụng học là một chuyên
ngành của ngôn ngữ học nghiên cứu ngôn ngữ trong mối quan hệ với ngƣời
sử dụng, mục đích sử dụng, cũng tức là nghiên cứu những vấn đề liên quan
đến hoạt động giao tiếp mà câu cầu khiến là câu thể hiện hành động tƣơng tác
rất rõ.
Về mặt lí luận, một số công trình khoa học của các nhà ngôn ngữ học
khi nghiên cứu các kiểu câu chia theo mục đích nói đã đề cập đến câu cầu

ngƣời nghe đáp lại hành động. Do đó câu cầu khiến gắn liền với ý nghĩa hành
động. Nội hàm của khái niệm cầu khiến bao gồm sự mời mọc, yêu cầu, mệnh

4


lệnh, cấm đoán và chúc tụng. Về dạng thức câu cầu khiến cũng có khẳng định
và phủ định. Phƣơng tiện cầu khiến có 3 loại: hƣ từ, thực từ có nghĩa cầu
khiến và ngữ điệu dung nhƣ nhau cho mọi ngôi của chủ ngữ. Nội dung cầu
khiến có 3 loại : mời mọc,yêu cầu; mệnh lệnh, cấm đoán; kêu gọi, chúc
tụng.[8, 16]
Cách hiểu câu cầu khiến của Hoàng Trọng Phiến xuất phát từ nội dung
ý nghĩa nên phạm vi câu cầu khiến rộng hơn của Diệp Quang Ban, tỏ ra phù
hợp với Tiếng Việt hơn, song việc nghiên cứu còn quá ít ỏi, mới chỉ là những
nhận định chƣa đƣợc chứng minh.
Các tài liệu đƣợc dẫn ở trên đã đề cập khá nhiều vấn đề xây dựng bài
tập Tiếng Việt cho học sinh theo quan điểm giao tiếp nhƣng các tác giả chỉ
tập chung nghiên cứu sâu về từng mảng kiến thức riêng biệt: cấu tạo của câu
cầu khiến, dấu câu Tiếng Việt, việc dạy học câu khiến cho HS theo quan
điểm giao tiếp,… Nhƣng vấn đề " Xây dựng hệ thống bài tập câu cầu khiến
cho học sinh lớp 4 theo quan điểm giao tiếp" chƣa đƣợc nghiên cứu thành
đề tài chuyên sâu và có tính hệ thống. Vì vậy đây là một vấn đề mới, cần đƣợc
nghiên cứu và thử nghiệm cải tiến việc xây dựng hệ thống bài tập câu cầu
khiến ở lớp 4 theo quan điểm giao tiếp một cách thích hợp nhằm hình thành
và rèn luyện năng lực giao tiếp cho học sinh ở Tiểu học.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của đề tài này là góp phần giải quyết những khó
khăn của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học câu cầu khiến, đồng
thời nâng cao chất lƣợng dạy học vấn đề về câu cầu khiến theo quan điểm

quan đến phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài để thu thập
thông tin, cơ sở lí luận cho đề tài.

6


- Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm: là phƣơng pháp khảo sát một
nhóm đối tƣợng trên một diện rộng nhằm phát hiện những quy luật phân bố,
trình độ phát triển, những đặc điểm về mặt định tính và định lƣợng của các
đối tƣợng cần nghiên cứu. Các tài liệu điều tra đƣợc là những thông tin quan
trọng về đối tƣợng cần cho quá trình nghiên cứu và là căn cứ quan trọng để đề
xuất những giải pháp khoa học hay giải pháp thực tiễn.
6. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa
luận gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chƣơng 2: Vận dụng quan điểm giao tiếp vào việc xây dựng hệ thống
bài tập câu cầu khiến cho học sinh lớp 4.
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm.

7


NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỎ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Lí thuyết về giao tiếp
1.1.1.1. Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc giữa các thành viên trong xã hội
để trao đổi thông tin, tƣ tƣởng, tình cảm và để bày tỏ thái độ của bản thân với

Trạng thái tình cảm có thể đƣợc bộc lộ trực tiếp.
Ví dụ: Chao ôi! Đôi giày mới đẹp làm sao! (Tiếng Việt 4)
Tình cảm, ƣớc nguyện có thể đƣợc bộc lộ gián tiếp qua thông tin về
một sự kiện bên ngoài ý thức chủ quan của con ngƣời.
Ví dụ: Ngƣời mẹ dẫn ngƣời con đi chợ, đi qua hàng đồ chơi đẹp. Ngƣời
con chỉ vào một con búp bê và nói: “ con búp bê này mà đƣợc chơi cùng con
chắc thích lắm mẹ nhỉ?”
Ngƣời mẹ mua con búp bê đó cho ngƣời con.
Nhƣ vậy, câu nói của ngƣời con không nhằm tới sự xác tín của ngƣời
mẹ về con búp bê mà bộc lộ một ƣớc muốn chủ quan. Và ngƣời mẹ đã hiểu
điều đó.
c. Chức năng tạo lập và duy trì quan hệ
Tạo lập và duy trì quan hệ là tạo lập và duy trì các mối quan hệ xã hội
giữa ngƣời với ngƣời; rất cần thiết cho sự gắn kết cộng đồng.
Chẳng hạn những câu hỏi của ngƣời Việt kiểu nhƣ: " Chị đi chợ về đấy
à?," " Bác ăn cơm chƣa?", " Bác đi đâu đấy?" không nhằm đến sự trả lời về nội
dung hỏi. Chúng đƣợc dùng với chức năng để tạo lập, duy trì quan hệ xã hội.
Với những câu hỏi nhƣ vừa nêu, thƣờng có lời đáp: " Vâng, chào bác."
" Vâng, mời anh vào chơi.", " Vâng, chào cô."
d. Chức năng giải trí
Giải trí, nghỉ ngơi là nhu cầu không thể thiếu đƣợc của con ngƣời. Ta
có thể giải tỏa những mệt mỏi về sức lực, sự căng thẳng về tâm lí bằng nhiều

9


cách, trong đó có cách tán chuyện phiếm với nhau. Trong giờ ra chơi, bạn có
thể nghe nhạc, chơi cờ caro, đánh bài tiến lên, hoặc tán chuyện phiếm với
nhau. Những câu chuyện phiếm nhƣ vậy không hề vô bổ. Chúng có thể khiến
bạn cƣời lên, giải tỏa đƣợc những căng thẳng về tâm lí.

thể, trực tiếp mà cuộc giao tiếp diễn ra:
+ Thời điểm, thời gian, địa điểm giao tiếp.
+ Nhiệt độ, âm thanh, ánh sáng, màu sắc, mùi vị,…
+ Trang phục, trang điểm; những yếu tố tâm lí, sinh lí của nhân vật
giao tiếp.
Hoàn cảnh giao tiếp ảnh hƣởng không nhỏ đến cuộc giao tiếp.
Ví dụ: Khi tiến hành kí kết một hợp đồng mua bán ngoại thƣơng (mua
bán giữa hai đối tác khác quốc tịch) ngƣời ta không thể không quan tâm đến
những cơ sở pháp luật của hai quốc gia liên quan đến vụ mua bán.
Dạy học trong một phòng kín, không quạt, nắng gắt buổi chiều “ luộc”
cả thầy lẫn trò “ mồ hôi thánh thoát nhƣ mƣa ruộng cày” thì chắc chắn hiệu quả
sẽ không cao cho dù thầy tổ chức giờ học với phƣơng pháp tích cực, sinh động.
c. Hiện thực được nói tới
Hiện thực đƣợc nói tới là những điều đƣợc đề cập trong cuộc giao tiếp,
tạo nên đề tài, nội dung giao tiếp.
Hiện thực đƣợc nói tới chi phối việc sử dụng ngôn ngữ và cách truyền tin.
d. Ngôn ngữ giao tiếp
Ngôn ngữ giao tiếp là ngôn ngữ đƣợc các nhân vật giao tiếp dùng để
sản sinh và tiếp nhận ngôn bản.
Chẳng hạn, Nam biết tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Nga; Hoa biết tiếng
Việt, tiếng Nga, tiếng Trung, tiếng Lào. Ngôn ngữ giao tiếp của hai ngƣời khi
nói chuyện với nhau chỉ có thể là tiếng Việt hoặc tiếng Nga. Nếu Nam nói
tiếng Anh còn Hoa nói tiếng Lào thì giao tiếp ngôn ngữ không thực hiện
đƣợc.

11


Trong giao tiếp, ngƣời nói cần biết sử dụng ngôn ngữ phù hợp với năng
lực ngôn ngữ của ngƣời nghe. Ở Tiểu học, nội dung khoa học không khó đối

giao tiếp khác nhau, nhƣng không có phƣơng tiện nào đem lại hiệu quả cao
nhƣ ngôn ngữ. Ngôn ngữ không phải là phƣơng tiện giao tiếp duy nhất, nhƣng
là phƣơng tiện quan trọng nhất của con ngƣời.
Xuất phát từ mục đích của việc dạy học Tiếng Việt trong nhà trƣờng.
Dạy Tiếng Việt trong nhà trƣờng có hai mục đích cơ bản:
Truyền thụ những kiến thức khoa học về Tiếng Việt, cụ thể là những
khái niệm, công thức, quy tắc, cùng những hiểu biết khác nữa về một bộ môn
khoa học, đó là Việt ngữ học.
Rèn những năng lực ngôn ngữ tƣơng ứng với những lí thuyết tiếp thu
đƣợc trong bộ môn Việt ngữ học vào thực tế hoạt động giao tiếp.
Đây là phƣơng pháp dạy học dựa vào những lời nói sinh động, coi
trọng việc phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh. Phƣơng pháp dạy học
theo quan điểm giao tiếp thể hiện ở các dạng bài tập tạo câu viết đoạn sử dụng
câu trong từng tình huống giao tiếp cụ thể.
Ví dụ: Bài tập 3, sách Tiếng Việt 4, tập 2, trang 89
Hãy đặt một câu khiến để nói với bạn, với anh chị hoặc với cô giáo
(thầy giáo).
Dạy Tiếng Việt theo hƣớng giao tiếp tức là dạy phát triển lời nói cho
từng cá nhân học sinh. Để thực hiện phƣơng pháp dạy học theo quan điểm
giao tiếp cần có môi trƣờng giao tiếp, các phƣơng tiện ngôn ngữ và các thao
tác giao tiếp. Phƣơng pháp này không chỉ hƣớng dẫn học sinh vận dụng lí
thuyết đƣợc học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp, mà còn
cung cấp lí thuyết cho học sinh trong chính quá trình giao tiếp. Khi vận dụng
phƣơng pháp giao tiếp vào dạy học câu cầu khiến, chúng ta đã tận dụng vốn

13


hiểu biết về từ ngữ, ngữ pháp của học sinh để trẻ cảm thấy nhẹ nhàng hơn
trong việc tiếp nhận kiến thức và rèn luyện các kĩ năng học tập mới.

Xin hai anh vui lòng cho tôi đƣợc trả tiền.
- Bày tỏ lời khuyên răn, dỗ dành:
Các cháu nên chia làm ba phần.
- Thể hiện lời chúc, điều mong muốn:
Xin thần tha tội cho tôi!
Giống nhƣ các loại câu khác, việc xác định mục đích của câu không chỉ
dựa vào những đặc điểm trong hình thức cấu tạo của câu, mà còn cần căn cứ
vào hoàn cảnh sử dụng câu, vào mối quan hệ của câu trong một ngữ cảnh, vào
mối quan hệ của những ngƣời tham gia hoạt động giao tiếp,… Có nhiều câu
mang hình thức của câu tƣờng thuật hay câu nghi vấn nhƣng lại nhằm mục
đích cầu khiến.
Ví dụ: Có nín đi không? (Câu nghi vấn nhƣng nhằm mục đích thúc giục)
a. Các quan điểm nghiên cứu câu cầu khiến:
- Quan điểm của ngôn ngữ học truyền thống:
Câu cầu khiến là một kiểu câu chia theo mục đích nói, đây là cách phân
loại của ngôn ngữ học truyền thống. Để làm rõ khái niệm câu cầu khiến chúng
ta không thể không tìm hiểu hệ thống phân loại này.
Câu chia theo mục đích nói gồm: Câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu
khiến, câu cảm thán. Các loại câu này đƣợc phân biệt về mặt nội dung và
mang những dấu hiệu hình thức riêng biệt.
Ví dụ: Em đi mặc thêm áo. (Câu trần thuật)
Em không lạnh à? (Câu hỏi)
Em mặc thêm áo vào đi! (Câu cầu khiến)
Em lạnh quá! (Câu cảm thán)

16


Xét về nội dung nói và dấu hiệu hình thức, bốn ví dụ trên thuộc bốn
kiểu câu. Nhƣng thực tế cho thấy, câu hỏi “em không lạnh à?” cũng có thể

Các cháu có thể nói nhỏ hơn không? (2) [18,155]
Nếu xét về mặt hình thức thì hai câu (1) và (2) là câu hỏi. Nhƣng
nếu đƣa vào ngữ cảnh thì những trƣờng hợp nêu trên sẽ đƣợc hiểu là câu cầu
khiến. Ngữ cảnh của câu (1) là: Vì bác sĩ Ly vẫn ôn tồn giảng cho ông
chủ quán trọ nghe cách trị bệnh trong khi chúa tàu đã đập tay xuống bàn
quát mọi ngƣời im lặng và mọi ngƣời ai nấy đã nín thít. Do đó, Chúa tàu
trừng mắt nhìn bác sĩ và quát: Có câm mồm đi không? Ngữ cảnh của câu (2)
là: Khi đang ở trong Nhà văn hoá có hai bạn cứ say sƣa trao đổi với nhau về
bộ phim đang xem làm ảnh hƣởng đến ngƣời khác, do đó có ngƣời bên
cạnh bảo: Các cháu có thể nói nhỏ hơn không?
+ Về mặt nội dung: Có hai xu hƣớng quan niệm về nội dung câu
cầu khiến:
Xu hƣớng quan niệm rộng: "Câu cầu khiến nhằm mục đích nói lên ý
chí của ngƣời nói và đòi hỏi mong muốn đối phƣơng thực hiện những điều
nói..Những điều nêu ra trong câu nói ở đây có thể là: ra trong câu nói". Mong
muốn, đòi hỏi ngƣời nghe thực hiện một hành động, thể hiện một trạng thái,
một phẩm chất.
Xu hƣớng quan niệm hẹp cho rằng: " Câu cầu khiến nêu lên ý muốn
của chủ thể phát ngôn và yêu cầu ngƣời nghe đáp lại bằng hành động. Do
đó câu cầu khiến gắn liền với ý nghĩa hành động"
Đã có nhiều tranh cãi xung quanh việc xác định nội dung câu cầu khiến
và vấn đề xác định "nội hàm khái niệm câu cầu khiến".
Tác giả Diệp Quan Ban cho rằng: "Câu mệnh lệnh (còn gọi là câu cầu
khiến) đƣợc dùng để bày tỏ ý muốn nhờ vả hay bắt buộc ngƣời nghe thực hiện
điều đƣợc nêu lên trong câu" [8, 15]. Vì thế mà các nội dung: khuyên răn, dặn

18


dò, mời mọc, chúc tụng không đƣợc tác giả xếp vào nội hàm khái niệm cầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status