Mở đầu
I. lý do chọn đề tài.
Nền kinh tế nớc ta đang từng bớc phát triển mạnh mẽ để nhanh chóng hoà
nhập vào nền kinh tế khu vực cũng nh nền kinh tế thế giới. Công cuộc đổi mới
của đất nớc đề ra những yêu cầu mới đối với ngành Giáo dục - Đào tạo. Báo cáo
của Ban chấp hành TW Đảng tại Đại hội lần thứ IV đã khẳng định: Nâng cao
chất lợng giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách XHCN của
thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có văn hoá, có kỹ thuật và giàu tính sáng
tạo...
Nghị quyết hội nghị lần thứ t Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt
Nam khoá VII đã chỉ rõ: Đổi mới phơng pháp dạy và học ở tất cả các cấp, các
bậc học... áp dụng những phơng pháp giáo dục hiện đại để bồi dỡng cho học sinh
năng lực t duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề.
Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam khoá
VIII cũng nhấn mạnh: Đổi mới mạnh mẽ phơng pháp giáo dục đào tạo, khắc
phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp t duy sáng tạo của ngời
học....
ở điều 24 Luật Giáo dục cũng xác định: Phơng pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với
đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dỡng phơng pháp tự học....
Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập của nớc ta hiện nay, việc đào tạo nên
những con ngời thực sự năng động và giàu tính sáng tạo để họ thích ứng đợc với
sự phát triển nhanh chóng của xã hội là điều vô cùng cần thiết, bởi có thể nói
rằng: Tất cả đều bắt nguồn từ sáng tạo... Sáng tạo trở thành cái bảo đảm sự tồn
tại của một quốc gia.
Theo tinh thần cơ bản đó, việc rèn luyện và phát triển năng lực sáng tạo cho
học sinh có thể và cần đợc tiến hành trong suốt thời gian các em còn ngồi trên ghế
nhà trờng thông qua việc thực hiện các quá trình s phạm, việc dạy học đối với tất
1/ Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc bồi dỡng năng lực t duy sáng tạo cho
học sinh.
2/ Nghiên cứu các tiêu chí của bài tập sáng tạo, để xây dựng và phân loại
hệ thống bài tập.
3/ Nghiên cứu nội dung kiến thức phần Cơ học lớp 10 để vận dụng giảng
dạy hệ thống bài tập đã xây dựng nhằm bồi dỡng năng lực t duy sáng tạo cho học
sinh.
4/ Tiến hành thực nghiệm s phạm: kiểm tra tính hiệu quả của hệ thống bài
tập đã biên soạn .
5/ Xử lý phân tích kết quả thực nghiệm.
5. Đối tợng nghiên cứu.
- Những yêu cầu nâng cao chất lợng dạy và học Vật lý ở trờng Trung học
phổ thông.
- Học sinh lớp 10 Trung học phổ thông.
6. Phơng pháp nghiên cứu.
- Phơng pháp nghiên cứu lý thuyết:
+ Nghiên cứu các tài liệu lý luận dạy học để làm sáng tỏ về mặt lý luận
các vấn đề có liên quan đến đề tài.
+ Nghiên cứu chơng trình Sách giáo khoa, sách bài tập, các tài liệu tham
khảo để phân tích cấu trúc logic, nội dung của các kiến thức thuộc phần Cơ học
lớp 10.
- Phơng pháp nghiên cứu thực nghiệm s phạm: Nhằm kiểm tra giả thuyết
khoa học của đề tài.
- Phơng pháp thống kê toán học: Để xử lý kết quả thực nghiệm s
phạm.
3
7 7. đóng góp mới của luận văn.
Về mặt lý luận : Góp phần làm sáng tỏ việc bồi dỡng năng lực t duy sáng
4
Chơng 1
Cơ sở lý luận của việc xây dựng hệ thống
Bài tập sáng tạo phần cơ học lớp 10.
1.1.
năng lực sáng tạo và những biểu hiện năng lực sáng
tạo của học sinh trong học tập.
1.1.1. Năng lực t duy sáng tạo.
1.1.1.1. Khái niệm về năng lực.
Theo tâm lý học thì năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc lập của cá
nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trng của một hoạt động nhất định, nhằm
đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động đó [19,16] .
Nh vậy, năng lực là những thuộc tính tâm lý riêng của cá nhân, nó đợc thể
hiện ở trình độ học vấn , sự phát triển trí tuệ, kỹ năng, kinh nghiệm hoạt động
sáng tạo,hệ thống tri thức, sự trải nghiệm cuộc sống. . .
Mặc dù năng lực của mỗi cá nhân một phần dựa trên cơ sở t chất, nhng chủ
yếu năng lực đợc hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cực của
con ngời dới sự tác động của rèn luyện, học tập, giáo dục. Trong đó việc hình
thành và phát triển các phẩm chất nhân cách là phơng tiện hiệu quả thúc đẩy sự
phát triển năng lực.
1.1.1.2. Khái niệm về t duy .
Theo các nhà tâm lý học [21] : T duy là quá trình phân tích và tổng hợp, so
sánh, trừu tợng hoá và khái quát hoá trên con đờng tìm ra cái mới.Trong thực
tiễn dạy học, vấn đế hình thành năng lực phân tích cho học sinh đã và đang đợc
các giáo viên coi trọng. Tuỳ đặc điểm từng bộ môn và nhiệm vụ học tập cụ thể,
Quan điểm triết học xem sáng tạo là quá trình hoạt động của con ngời tạo
ra những giá trị vật chất, tinh thần, mới về chất. Các loại hình sáng tạo đợc xác
định bởi đặc trng nghề nghiệp nh khoa học, kỹ thuật , văn học nghệ thuật ... Có
thể nói sáng tạo có mặt trong mọi lĩnh vực của thế giới vật chất và tinh thần.Tâm
lý học định nghĩa : Sáng tạo, đó là năng lực tạo ra những giải pháp mới hoặc
duy nhất cho một vấn đề thực tiễn và hữu ích [19,16] .
Khi nói đến hoạt động sáng tạo , ngời ta thờng xuất phát từ định nghĩa đợc
công nhận là một dạng hoạt động của con ngời mà kết quả là sản phẩm mới có ý
nghĩa, có giá trị xã hội.
Từ các nghiên cứu thực nghiệm và nhiều nghiên cứu khác, các nhà tâm lý học đã
cho biết: Sáng tạo là một tiềm năng vốn có trong mỗi con ngời, khi gặp dịp thì
bộc lộ, cần tạo cho học sinh có những cơ hội đó; mỗi ngời có thể luyện tập để
phát triển óc sáng taọ trong lĩnh vực hoạt động của mình. Tính sáng tạo thờng
liên quan với tính tự giác, tích cực, chủ động, độc lập, tự tin. Sự sáng tạo là hình
thức cao nhất của tính tích cực, độc lập của con ngời. Ngời có t duy sáng tạo
6
không chịu suy nghĩ theo lề thói chung, không bị ràng buộc bởi những quy tắc
hành động cứng nhắc đã học đợc, ít chịu ảnh hởng của ngời khác.
1.1.1.4. Các phẩm chất quan trọng của t duy sáng tạo.
Quá trình sáng tạo của con ngời thờng đợc bắt đầu từ một ý tởng mới , bắt
nguồn từ t duy sáng tạo của mỗi con ngời . Theo các nhà tâm lý học, năng lực
sáng tạo biểu hiện rõ nét nhất ở khả năng t duy sáng tạo là đỉnh cao nhất của
các quá trình hoạt động trí tuệ của con ngời. T duy sáng tạo là hạt nhân của sự
sáng tạo cá nhân, đồng thời nó cũng là mục tiêu cơ bản của giáo dục. Theo sự
tổng hợp của nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả về t duy sáng tạo thì:
T duy sáng tạo đợc xác định bởi chất lợng hoạt động trí tuệ ở mức độ cao với các
phẩm chất quan trọng của t duy.Các phẩm chất đó là :
sản phẩm, tính bất ngờ chủ quan của phỏng đoán, tính ngẫu nhiên chủ quan của
phát kiến.
1.1.2.2. Năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập.
Năng lực sáng tạo khoa học nói chung của mỗi cá nhân thể hiện ở chỗ cá
nhân đó có thể mang lại những giá trị mới, những sản phẩm mới quý giá đối với
nhân loại.
Đối với học sinh , năng lực sáng tạo trong học tập chính là năng lực biết
giải quyết vấn đề học tập để tìm ra cái mới ở một mức độ nào đó thể hiện đợc
khuynh hớng, năng lực, kinh nghiệm của cá nhân học sinh . Cụ thể , đó là năng
lực tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, năng lực phát hiện ra điều cha biết, cha
có, đồng thời tạo ra cái cha biết, cha có và không bị phụ thuộc , gò bó vào cái đã
có.
Năng lực sáng tạo không phải chỉ là bẩm sinh mà đợc hình thành và phát
triển trong quá trình hoạt động của chủ thể. Vì vậy, muốn phát huy năng lực
sáng tạo trong học tập , giáo viên phải rèn luyện cho học sinh thói quen nhìn
nhận mỗi sự kiện dới những góc độ khác nhau , biết đặt ra nhiều giả thuyết khi
phải lý giải một hiện tợng, biết đề xuất những giải pháp khác nhau khi phải xử
lý một tình huống . Cần giáo dục cho học sinh không vội vã, bằng lòng với giải
pháp đầu tiên đợc đề xuất , không suy nghĩ cứng nhắc theo quy tắc lý thuyết đã
học trớc đó , không máy móc vận dụng những mô hình hành động đã gặp trong
sách vở để ứng xử trớc những tình huống mới.
1.1.2.3 . Những biểu hiện năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập .
Năng lực sáng tạo của học sinh chỉ đợc phát triển qua hành động thực tế
nh: Trong việc chiếm lĩnh tri thức mới , vận dụng kiến thức để giải thích hiện t ợng, làm thí nghiệm và giải các bài tập trong các tình huống khác nhau . . .
Từ các đặc trng của hoạt động sáng tạo của học sinh trong học tập, theo sự tổng
hợp từ [19] có thể nêu lên những biểu hiện năng lực sáng tạo của học sinh sau
đây:
- Năng lực tự chuyển tải tri thức và kỹ năng từ lĩnh vực quen biết sang tình
huống mới, vận dụng kiến thức đã học vào điều kiện, hoàn cảnh mới.
- Năng lực nhận thấy vấn đề mới trong điều kiện quen biết, nhìn thấy chức
giải thích các hiện tợng, các quá trình vật lý trong các trờng hợp khác nhau. Vì
vậy, việc giúp cho học sinh nắm đợc kiến thức cơ bản vứng chắc là ngời giáo
viên đã giúp họ có thể có khả năng sáng tạo trong học tập .
- Dạy cho học sinh thói quen nghi ngờ khoa học trong giải bài tập: Một
bài tập đợc đa ra giải quyết cần tạo cho học sinh thói quen đặt câu hỏi: Cách
làm này đã tối u cha? , Có còn cách giải quyết nào nữa không? hoặc Ngoài
phơng án thí nghiệm này còn có phơng án nào có thể làm đợc nữa không ?
- Rèn luyện ý thức t duy độc lập cho học sinh: Cần phải rèn luyện cho học
sinh ý thức tự giác suy nghĩ, tự mình phải nỗ lực tìm ra cách giải quyết vấn đề
9
không quá khó đối với ngời học sinh . Việc tự xác định đợc phơng hớng hoạt
động của mình trong tình huống mới, tự phát hiện và nêu lên các cách giải quyết
khác nhau là điều kiện tốt cho việc phát triển năng lực t duy sáng tạo của học
sinh .
Nh vậy, trong dạy học giáo viên cần luôn chú ý tới những phát hiện mới
của học sinh để giúp họ phát triển ý tởng độc đáo của mình. Có nh vậy mới phát
huy đựơc khả năng sáng tạo cho học sinh.
Cơ sở giúp cho việc định hớng t duy học sinh trong dạy học mà ngời giáo
viên cần hiểu rõ là lý thuyết Vùng phát triển gần nhất của Vgốtxki[19]. Cụ
thể: chỗ tốt nhất của sự phát triển của trẻ em là vùng phát triển gần. Vùng đó là
khoảng cách giữa trình độ hiện tại của học sinh và vùng phát triển cao hơn cần vơn tới. Nói một cách hình ảnh là chỗ trống giữa nơi mà con ngời phải giải quyết
vấn đề đang đứng và nơi mà họ phải đạt đến và có thể thực hiện đợc với sự cố
gắng nỗ lực của bản thân dới sự giúp đỡ của ngời lớn hay của những ngời ngang
hàng nhng có khả năng hơn một chút. Không có con đờng logic để vợt qua chỗ
trống đó, nhng hoàn toàn có khả năng thu hẹp dần chỗ trống đó đến mức thích
hợp, để mỗi học sinh có thể thực hiện một bớc nhảy vợt qua đợc. Giáo viên có
thể tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tập dợt những bớc nhảy đó, bằng cách
phân chia một bớc nhảy vọt lớn trong khoa học thành những bớc nhỏ nằm trong
Bài tập luyện tập: Là những bài tập đợc dùng để rèn luyện cho học sinh
áp dụng đợc những kiến thức xác định để giải từng loại bài tập theo những khuôn
mẫu nhất định Loại bài tập này không đòi hỏi t duy sáng tạo của học sinh, mà
chủ yếu là cho học sinh luyện tập để nắm vững cách giải đối với một loại bài tập
nhất định đã đợc chỉ dẫn.
Bài tập sáng tạo: Đây là loại bài tập đợc dùng để phát triển t duy sáng tạo
của học sinh.Việc giải các bài tập này đòi hỏi học sinh phải có t duy sáng tạo. Sự
khác nhau giữa bài tập sáng tạo và bài tập luyện tập là ở chỗ điều kiện cho trong
bài tập sáng tạo che dấu angôrit giải, còn điều kiện cho trong bài tập luyện tập đã
mang tính chất nhắc bảo angôrit giải chúng.
Nh vậy, bài tập sáng tạo là bài tập vật lý đợc soạn thảo nhằm mục đích rèn
luyện, bồi dỡng năng lực t duy sáng tạo cho học sinh. Với đặc trng cơ bản là
không có angôrit giải sẵn, bài tập sáng tạo đòi hỏi ở ngời giải phải có sự t duy và
tởng tợng ( bản chất của hoạt động sáng tạo)[21]. Khi làm việc với bài tập sáng
tạo, học sinh phải biết vận dụng kiến thức một cách linh hoạt, sáng tạo để giải
quyết bài tập trong những tình huống mới, hoàn cảnh mới; học sinh phải phát
hiện ra đợc điều cha biết, cha có, đồng thời tạo ra cái cha biết, cha có đó. Đặc
biệt, bài tập sáng tạo yêu cầu khả năng đề xuất, đánh giá theo ý kiến riêng của
bản thân học sinh.
Có thể hiểu bài tập vật lý sáng tạo qua mô hình sau đây:
11
Bài tập vật lý
Phân loại theo yêu cầu luyện
tập kỹ năng và phát triển t duy
học sinh
Bài tập luyện tập
Là một dạng của bài tập vật lý , vì vậy trớc hết bài tập sáng tạo cũng có
đầy đủ vai trò của bài tập vật lý. Cụ thể:
12
- Bài tập sáng tạo là một hình thức củng cố, ôn tập, hệ thống hoá kiến thức
một cách sinh động và hiệu quả. Khi giải bài tập, học sinh phải nhớ lại những
kiến thức đã học, phải đào sâu một số khía cạnh nào đó của kiến thức hoặc phải
tổ hợp, huy động nhiều kiến thức để giải quyết đợc bài tập. Tất cả các thao tác t
duy đó đã góp phần củng cố , khắc sâu và mở rộng kiến thức cho học sinh.
- Bài tập sáng tạo đợc sử dụng làm phơng tiện nghiên cứu tài liệu mới, khi
trang bị kiến thức cho học sinh nhằm đảm bảo cho học sinh lĩnh hội đợc kiến
thức một cách sâu sắc và vững chắc. Việc nghiên cứu một kiến thức mới thờng
đợc bắt đầu bằng việc nêu vấn đề. Mỗi một vấn đề xuất hiện do nghiên cứu tài
liệu mới cũng là một bài tập đối với học sinh. Để làm một vấn đề mới trở nên
hấp dẫn và xây dựng vấn đề nghiên cứu còn có thể dùng cách giải các bài tập.
Việc xây dựng các vấn đề dạy học bằng bài tập không những sẽ kích thích đợc
hứng thú cao của học sinh đối với những kiến thức mới sắp đợc học, mà còn tạo
ra khả năng củng cố kiến thức đã có và xây dựng đợc mối liên quan giữa các
kiến thức cũ và mới.
- Bài tập sáng tạo là một phơng tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việc
phát triển t duy vật lý của học sinh, bồi dỡng cho học sinh phơng pháp nghiên
cứu khoa học. Bởi vì giải bài tập là một hình thức làm việc tự lực căn bản của
học sinh. Trong thực tiễn dạy học, t duy vật lý đợc hiểu là kỹ năng quan sát
hiện tợng vật lý, phân tích một hiện tợng phức tạp thành những bộ phận thành
phần, xác lập mối liên hệ định lợng và định tính của các hiện tợng, đại lợng vật
lý, đoán trớc các hệ quả từ các lý thuyết và áp dụng kiến thức của mình. Trớc
khi giải bài tập học sinh phải phân tích điều kiện của đề bài, tự xây dựng các lập
luận, thực hiện việc tính toán, khi cần thiết có thể tiến hành thí nghiệm, thực hiện
phép đo... Trong những điều kiện đó, t duy lôgic, t duy sáng tạo của học sinh đợc
giúp phát hiện năng lực sáng tạo của học sinh để đánh giá, đồng thời phát huy đợc năng lực sáng tạo cho họ.
Nh vậy, với nét đặc thù của mình, bài tập sáng tạo có một vai trò to lớn
trong việc rèn luyện, bồi dỡng, phát hiện năng lực sáng tạo của học sinh trong
dạy học.
14
Chơng 2
xây dựng hệ thống bài tập sáng tạo phần cơ học
lớp 10 và các hình thức sử dụng chúng trong
dạy học vật lý .
2.1. Phân tích nội dung cơ học lớp 10 thuộc chơng trình vật
lý trung học phổ thông hiện hành .
2.1.1. Cấu trúc chơng trình Vật lý THPT hiện hành .
Bậc THPT vừa có mục tiêu chuẩn bị cho một bộ phận học sinh học Đại học
và Trung học chuyên nghiệp , vừa có mục tiêu hoàn chỉnh học vấn cho số đông
học sinh, chuẩn bị cho họ tham gia lao động sản xuất. Chơng trình môn Vật lý
bậc THPT hiện hành nhằm đáp ứng các mục tiêu ấy .
Nội dung chủ yếu của chơng trình Vật lý THPT là vật lý học cổ điển, vì đó
là cái nền của toàn bộ vật lý học, là bộ phận hữu cơ của học vấn phổ thông. Vật
lý học cổ điển cũng là cơ sở khoa học của đại bộ phận các ngành sản xuất phổ
biến của nớc ta hiện nay. Nắm vững nó, ngời học sinh ra trờng có cơ sở để học
nghề, để lao động có hiệu quả ở các ngành nghề kỹ thuật phổ thông, có thể sử
dụng các dụng cụ trong đó có những ứng dụng phổ biến của các nguyên tắc vật
lý .
Nội dung chơng trình vật lý THPT hiện hành đợc chia thành các phần lớn: Cơ;
Nhiệt ; Điện ; Quang ; Vật lý hạt nhân, riêng các kiến thức về dao động và sóng
21
4
3
20
7
11
7
15
Thực
hành
8
8
Kiểm tra
5
1
1
5
2
3
1
Ôn tập
1
2
1
1
2.1.3. Những kiến thức cơ bản phần cơ học lớp 10.
Những kiến thức cơ bản mà học sinh cần phải nắm vững trong phần cơ học
bao gồm các nội dung chính sau :
1. Các dạng chuyển động: chuyển động thẳng đều, chuyển động thẳng biến đổi
đều, chuyển động tròn đều.
2. Các định luật Newton: định luật I Newton, định luật II Newton, định luật III
Newton.
16
3. Các lực cơ học: lực hấp dẫn, lực đàn hồi, lực ma sát.
4. ứng dụng các định luật Newton và các lực cơ học .
5. Cân bằng của vật rắn .
6. Các định luật bảo toàn: định luật bảo toàn động lợng, định luật bảo toàn cơ
năng, định luật bảo toàn năng lợng.
Sau đây là sơ đồ kiến thức theo SGK hiện hành[3] :
Chuyển động
thẳng đều
Chuyển động
biến đổi đều
Chuyển động
tròn đều
Các lực cơ học
Lực hấp
dẫn
toàn
đl bảo toàn cơ năng
đl bảo toàn năng lợng
2.1.4. Thực trạng việc sử dụng bài tập phần cơ học lớp 10 của giáo viên
trong giảng dạy vật lý.
Qua thực tế giảng dạy, qua thăm dò tìm hiểu và dự giờ của giáo viên,
chúng tôi rút ra đợc một số nhận xét sau :
17
- Quan niệm về vai trò, vị trí của tiết dạy bài tập vật lý của một số giáo
viên cha hợp lý, nếu không muốn nói là giáo viên xem nhẹ vị trí của bài tập vật
lý trong dạy học vật lý.
- Giáo viên cha quán triệt hết yêu cầu của việc dạy bài tập, cha đợc xác
định rõ: tiết bài tập thực hiện ôn luyện đợc kiến thức gì? củng cố và phát triển đợc kỹ năng gì? kiểm tra đợc những kiến thức cơ bản gì đối với học sinh? Vì vậy
trong giảng dạy, đa số giáo viên phổ thông đang sử dụng phơng pháp truyền
thống ( thầy chủ động, trò chủ đạo ) không sử dụng phơng pháp dạy học hiện
đại (trò chủ động, thầy chủ đạo) .
- Hầu hết các giáo viên đều áp đặt học sinh suy nghĩ và giải bài tập theo
cách của mình mà không hớng dẫn họ độc lập suy nghĩ tìm kiếm lời giải. Khi
chữa bài tập còn để ý nhiều đến các biến đổi, tính toán cụ thể, coi nhẹ việc phân
tích đờng lối giải định hớng t duy của học sinh .
- Trong từng tiết dạy bài tập giáo viên làm nhiệm vụ truyền thụ kiến thức ở
từng bài tập (có khi còn cha khai thác hết kiến thức cơ bản thể hiện trong bài
tập ) mà cha làm (hoặc cha có ý thức làm) nhiệm vụ trang bị cho học sinh phơng
pháp giải bài tập theo dạng đặc trng, cha xây dựng đợc hệ thống bài tập cho từng
đề tài, từng chơng, từng phần của chơng trình .
- Giáo viên chữa bài tập theo những tài liệu sẵn có, ngại tìm kiếm thêm bài
có kỹ năng, kỹ xảo vận dụng linh hoạt, sáng tạo các kiến thức đó.
- Yêu cầu thứ hai: Mỗi bài tập đợc chọn phải là một mắt xích trong hệ thống
kiến thức vật lý, đóng góp đợc phần nào vào việc hoàn chỉnh các kiến thức của
học sinh, giúp họ hiểu đợc mối liên hệ giữa các đại lợng, cụ thể hoá các khái
niệm và vạch ra những nét mới nào đó cha đợc làm sáng tỏ.
-Yêu cầu thứ ba: Hệ thống bài tập phải đảm bảo đợc tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong học tập.
-Yêu cầu thứ t : Hệ thống các bài tập đợc lựa chọn phải giúp cho học sinh nắm
đợc phơng pháp giải từng loại , dạng cụ thể .
- Yêu cầu thứ năm: Nội dung bài tập phải phù hợp với các đối tợng học sinh,
thời gian học tập của học sinh ở lớp và ở nhà.
Nh vậy, hệ thống bài tập sáng tạo của đề tài này sẽ đợc xây dựng vừa để
thoả mãn các yêu cầu trên, vừa nhằm đáp ứng đợc mục tiêu bồi dỡng, phát triển
năng lực t duy sáng tạo của học sinh thông qua việc sử dụng hợp lý hệ thống bài
tập trong dạy học.
2.2.1.2.phân loại bài tập sáng tạo.
19
Dựa vào các công trình nghiên cứu về năng lực sáng tạo của học sinh trong
học tập, căn cứ theo các phẩm chất của t duy sáng tạo, chúng tôi đề xuất xây
dựng và cấu trúc bài tập sáng tạo theo hớng sau, tơng ứng với mỗi loại phân
thành hai dạng. Tất nhiên, mỗi bài tập đều có tác dụng về nhiều mặt và có nhiều
chức năng khác nhau, nên sự phân chia này chỉ mang tính tơng đối.
2.2.1.2.1. Loại bài tập nhằm bồi dỡng tính mềm dẻo của t duy:
Đặc trng của loại bài tập này là tạo cho học sinh thói quen suy nghĩ không rập
khuôn, không máy móc, giúp cho khả năng sử dụng các thao tác t duy một cách
mềm mại, uyển chuyển. Hai dạng của loại bài tập này là:
- Bài tập có nhiều cách giải: Đây là dạng phổ biến trong hệ thống bài tập sáng
quả bóng một vòng trên thớc. . .).
+ Đề bài tập thiết kế phơng án thí nghiệm : Hãy nêu các cách có thể đo đợc đờng kính của quả bóng ? ( Đáp án : Dùng thớc đo chu vi ; đào lỗ nhét vừa nửa
quả bóng rồi đo đờng kính lỗ ; lăn tròn quả bóng trên thớc... )
2.2.1.2.3. Loại bài tập nhằm bồi dỡng tính độc đáo của t duy:
Loại bài tập này kích thích học sinh khả năng đa ra đợc các giải pháp lạ, cách
giải quyết vấn đề theo hớng riêng, độc đáo, không bị gò bó , lệ thuộc vào những
cái đã có. Bài tập loại này đợc thể hiện dới hai dạng sau:
- Dạng bài tập không theo mẫu: Đúng nh tên gọi của nó, dạng bài tập này đợc soạn thảo không theo một khuôn mẫu nào cả. Mục đích sử dụng để chống suy
nghĩ rập khuôn, máy móc. Việc giải bài tập này không áp dụng ngay các công
thức đã biết. Điều cơ bản là học sinh phải tìm ra đợc các mối liên hệ ngầm, từ
đó hình thành nên những kết hợp mới của đề bài.
- Dạng bài tập nghịch lý, nguỵ biện: Đây là một dạng bài tập đợc xây dựng
dựa trên những quan điểm sai lầm, lệch lạc sẵn có của học sinh. Ưu điểm nổi
trội của dạng bài tập này là kích thích hứng thú học tập cao độ. Qua thực tiễn sử
dụng dạng bài tập này chúng tôi luôn tìm thấy tinh thần chủ động, tự lực t duy
tích cực ở hầu nh toàn bộ học sinh trong mỗi lớp học.
2.2.1.2.4. Loại bài tập nhằm bồi dỡng tính nhạy cảm của t duy:
Khi giải loại bài tập này học sinh rất dễ gặp trục trặc nếu không nhanh nhạy
phát hiện đợc vấn đề lạ trong điều kiện quen thuộc. Hai dạng của bài tập nàylà:
- Dạng bài tập cho thừa/ thiếu/ hoặc sai dữ kiện: Đây là dạng bài tập mà ngời
ra đề đã cố ý cho thừa dữ kiện, thiếu dữ kiện hoặc sai dữ kiện. Việc đòi hỏi học
21
sinh phải nhận biết và chứng minh đợc dữ kiện có vấn đề là mục đích của bài
tập.
- Dạng bài tập bẫy: Trong mỗi bài tập đều đợc ngời ra đề cài sẵn một cái
bẫy
( chứ không phải đánh đố" ) nhằm mục đích rèn cho học sinh năng
Một con lắc đơn gồm : Một sợi dây
mảnh dài l = 1m, vật nặng khối lợng
m = 1kg. Đa con lắc đơn lệch khỏi vị
trí cân bằng góc 0 = 600 rồi thả nhẹ .
- Tính vận tốc của m tại vị trí có sức
căng dây T = 11N .
Một con lắc đơn gồm : Một sợi dây
mảnh dài l = 1m, vật nặng khối lợng
m = 1kg. Đa con lắc đơn lệch khỏi vị
trí cân bằng góc 0 = 600 rồi thả nhẹ .
- Tính vận tốc của m tại vị trí có sức
căng dây T = 2N .
Các bớc tiến hành chung của việc giải bài tập :
- Gọi vị trí có sức căng dây của đề bài đã cho là M .
- áp dụng định luật bảo toàn cơ năng cho con lắc ở vị trí A và M : W A = WM
( Chọn gốc thế năng tại vị trí cân bằng )
mg(l l cos 0 ) = mvM2 / 2 + mg ( l l cos )
vM2 = 2gl ( cos - cos 0 )
(1)
- áp dụng định luật II Newton tìm sức căng dây T tại M :
T =mg cos + mvM2 / l T = mg (3 cos - 2 cos 0)
( 2)
- Nh vậy :
+ Với bài tập luyện tập thì học sinh chỉ cần giải hai phơng trình (1) và (2)
và rút ra đợc v 2m/s .
+ Với bài tập sáng tạo , nếu học sinh vẫn tiến hành giải hệ phơng trình nh
trên một cách bình thờng thì sẽ đợc kết quả : v2 = - 2m/s.
Để giải thích đợc kết quả vô lý này đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng
phức tạp. Việc học sinh không giải đợc, hoặc giải sai bài tập cha đủ cơ sở để kết
luận họ không hiểu biết gì về kiến thức và kỹ năng vật lý, mà do nhiều nguyên
nhân . Trong đó chủ yếu có các nguyên nhân nh : không hiểu điều kiện của bài
tập, không biết cần vận dụng kiến thức nào để giải bài tập, không biết cách thực
hiện cụ thể, tính toán sai vì quá yếu về kiến thức toán học hoặc quá yếu về kỹ
năng thực hành. Do đó, để hình thành và rèn luyện kỹ năng giải bài tập nhằm
nâng cao chất lợng nắm kiến thức, một trong những biện pháp khả dĩ là dạy học
sinh những phơng pháp tìm kiếm lời giải bài tập vật lý nói chung , và bài tập
sáng tạo nói riêng. Muốn vậy, cần phải hớng dẫn học sinh để họ có thể nắm đợc
những phơng pháp giải mỗi loại, dạng thậm chí những bài tập cụ thể. Tuỳ theo
mục đích s phạm của việc giải bài tập, có ba kiểu định hớng t duy của học sinh :
- Định hớng Angorits : Đây là kiểu định hớng hành động theo một mẫu cho trớc. Kiểu định hớng này không đòi hỏi học sinh phải tự mình tìm tòi xác định các
hành động cần thực hiện, mà họ chỉ cần chấp hành các thao tác đã đợc giáo viên
chỉ ra hoặc làm theo trong những tình huống đã quen thuộc.
Kiểu định hớng Angorits có u điểm là nó đảm bảo cho học sinh giải đợc bài
tập một cách chắc chắn, giúp việc rèn luyện kỹ năng giải bài tập của học sinh có
hiệu quả. Tuy nhiên, nếu chỉ áp dụng kiểu định hớng Angorits trong việc giải bài
tập thì học sinh chỉ quen tái hiện lại các kiến thức, do đó ít có tác dụng rèn luyện
cho học sinh khả năng tìm tòi sáng tạo, sự phát triển t duy sáng tạo sủa học sinh
bị hạn chế. Theo quan điểm của đề tài, để việc sử dụng kiểu định hớng Angorits
vẫn phát huy đợc tác dụng phát triển t duy sáng tạo của học sinh, cần cho học
sinh giải các bài tập có những khía cạnh mới so với những bài tập cùng loại.
24
- Định hớng ơrixtic: Đây là kiểu định hớng tìm tòi từng phần mang tính chất
gợi ý cho học sinh tự tìm tòi, huy động những kiến thức xây dựng cách thức hành
động thích hợp cho việc giải quyết bài tập. Kiểu định hớng ơrixtic nhằm giúp đỡ
học sinh trong việc hớng suy nghĩ vào phạm vi cần tìm tòi. Học sinh sẽ phải tự
tìm tòi chứ không ghi nhận tái tạo cái có sẵn. Sự định hớng nh vậy tạo điều kiện