Xây dựng hệ thống bài tập câu ghép theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 5 - Pdf 40

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

TRẦN THỊ THÚY HẰNG

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
CÂU GHÉP THEO QUAN ĐIỂM
GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. HOÀNG THỊ THANH HUYỀN

HÀ NỘI, 2016


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận, tôi đã
nhận đƣợc sự động viên, giúp đỡ tận tình của các cấp lãnh đạo, nhiều thầy
giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và gia đình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Hoàng Thị Thanh Huyền đã
tận tình chu đáo hƣớng dẫn tôi trong suốt quá trình tìm hiểu và hoàn thành
khóa luận này.
Xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo ở khoa Giáo dục Tiểu học
và các thầy giáo, cô giáo ở phòng Nghiên cứu khoa học trƣờng Đại học Sƣ
phạm Hà Nội 2 đã tạo thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên
cứu đề tài.
Mặc dù đã có nhiều cố gằng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh
nhất. Song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp
cận với thực tế cũng nhƣ hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể


Chủ - vị

GV

Giáo viên

HS

Học sinh

SGK

Sách giáo khoa


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................... 3
5. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 4
NỘI DUNG....................................................................................................... 5
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT ................................................................... 5
1.1 Giao tiếp và đặc điểm của giao tiếp bằng ngôn ngữ ................................... 5
1.1.1 Khái niệm giao tiếp .................................................................................. 5
1.1.2 Chức năng giao tiếp của ngôn ngữ........................................................... 5
1.1.3 Các nhân tố giao tiếp ................................................................................ 6
1.2 Dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở Tiểu học .......................... 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 45
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nƣớc ta đang thực hiện chiến lƣợc đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều
kiện kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Trong việc đổi mới, con ngƣời là khâu đột phá, có tính quyết định. Dĩ nhiên
trong đó khẳng định vai trò của giáo dục là rất quan trọng cho sự phát triển
của tƣơng lai nhân loại. Đặc biệt là giáo dục Tiểu học - bậc học nền tảng - nơi
ƣơm mầm và nuôi dƣỡng những tài năng, chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc. Ở
cấp Tiểu học, các em có hiểu biết, có nền kiến thức vững chắc thì sau này các
em mới có đà phát triển.
Ở cấp Tiểu học cùng với các môn học khác, môn Tiếng Việt là môn
học quan trọng, chiếm nhiều thời lƣợng và có tính tích hợp cao. Môn Tiếng
Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh thể
hiện ở bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. Môn Tiếng Việt còn là cơ sở để các
em học các môn học khác. Ngoài ra môn Tiếng Việt còn là công cụ hữu hiệu
trong hoạt động và giao tiếp của học sinh, giúp học sinh tự tin và chủ động
hòa nhập các hoạt động học tập trong trƣờng học, giúp học sinh hình thành và
rèn luyện các kĩ năng cơ bản ở Tiểu học. Và cũng thông qua đó giáo dục các
em những tƣ tƣởng, tình cảm trong sáng, lành mạnh góp phần hình thành
những phẩm chất quan trọng của con ngƣời để thực hiện những nhiệm vụ đặt
ra của hệ thống giáo dục quốc dân.
Hiện nay, chƣơng trình Tiếng Việt cấp Tiểu học đang nhấn mạnh vào
định hƣớng: dạy học Tiếng Việt thông qua hoạt động giao tiếp. Trong dạy học
Tiếng Việt, giao tiếp là mục đích của việc dạy học, là nguyên tắc chỉ đạo việc
dạy học, đồng thời là phƣơng pháp phƣơng tiện để tổ chức các hoạt động học

Hệ thống bài tập câu ghép theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 5.
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ thực hiện trong nội dung sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 và
2


thực nghiệm kết quả dạy học về câu ghép Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
cho học sinh lớp 5 tại một số trƣờng Tiểu học trên địa bàn huyện Vĩnh Tƣờng,
tỉnh Vĩnh Phúc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý thuyết của việc xây dựng hệ thống bài tập câu
ghép theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 5; Từ đó, đề xuất phƣơng
hƣớng và nội dung xây dựng hệ thống bài tập câu ghép theo quan điểm giao
tiếp cho học sinh lớp 5.
Góp phần giải quyết những khó khăn của giáo viên và học sinh trong
quá trình dạy và học về câu ghép, đồng thời nâng cao chất lƣợng dạy học vấn
đề về câu ghép theo quan điểm giao tiếp.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý thuyết về câu ghép giao tiếp, dạy học
Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp để làm cơ sở lí luận cho đề tài.
- Đề xuất cách thức xây dựng hệ thống bài tập câu ghép theo quan điểm
giao tiếp cho học sinh lớp 5.
- Tiến hành thực nghiệm để thu thập kết quả.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp quan sát nhằm xác lập cơ sở thực tiễn cho đề tài.
Phƣơng pháp thống kê - phân loại nhằm xử lý các số liệu thu thập
đƣợc, từ đó có cơ sở rút ra những kết luận phù hợp.
Phƣơng pháp phân tích nhằm xác lập cơ sở lý luận cho đề tài.
Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm nhằm chứng minh tính khả thi của

Thông tin là bày tỏ cho nhau về hiện thực khách quan. Đây là chức năng
phổ biến nhất của hoạt động giao tiếp. Nhờ nó mà chúng ta biết đƣợc cuộc sống
muôn màu, muôn vẻ trên thế gian: tình hình chiến sự ở Irắc, các trận tranh giải
bóng đá ngoài hạng Anh, lễ hội đền Hùng, thời tiết các vùng trên cả nƣớc, …
b. Chức năng bộc lộ (chức năng biểu hiện)
Trong giao tiếp, con ngƣời không chỉ thông tin cho nhau về hiện thực
khách quan mà còn biểu lộ trạng thái tình cảm, cảm xúc, ƣớc nguyện chủ
quan của mình.
- Trạng thái tình cảm có thể đƣợc bộc lộ trực tiếp.
Ví dụ: Chao ôi! Đôi giày mới đẹp làm sao! (Tiếng Việt 4)
- Tình cảm, ƣớc nguyện có thể đƣợc bộc lộ gián tiếp qua thông tin về
một sự kiện bên ngoài ý thức chủ quan của con ngƣời.
Ví dụ: Hai chị em đi qua một quầy bán quần áo trong chợ. Ngƣời em chỉ
vào một chiếc áo và nói: “Chiếc áo này mà mặc thì đẹp lắm chị nhỉ?”

5


Chị đƣa tiền cho em: “Em thích thì lấy đi. Chị cho tiền đây.”
Nhƣ vậy, câu nói của ngƣời em không nhằm tới sự xác tín của chị về
chiếc áo mà bộc lộ một ƣớc muốn chủ quan. Và ngƣời chị đã hiểu điều đó.
c. Chức năng tạo lập và duy trì quan hệ
Tạo lập và duy trì quan hệ là tạo lập và duy trì các mối quan hệ xã hội
giữa ngƣời với ngƣời; rất cần thiết cho sự gắn kết cộng đồng.
Chẳng hạn những câu hỏi của ngƣời Việt kiểu nhƣ “Chị đi chợ về đấy
à?”, “Bác ăn cơm chƣa?”, “Bác đi đâu đấy?” không nhằm đến sự trả lời về nội
dung hỏi. Chúng đƣợc dùng với chức năng để tạo lập, duy trì quan hệ xã hội.
Với những câu hỏi nhƣ vừa nêu, thƣờng có lời đáp: “Vâng, chào bác.”,
“Vâng, mời anh vào chơi.”, “Vâng, chào cô.”
d. Chức năng giải trí

Hoàn cảnh giao tiếp là nơi chốn, thời gian mà cuộc giao tiếp diễn ra.
Ngƣời ta thƣờng chia hoàn cảnh giao tiếp thành hai loại: hoàn cảnh giao tiếp
rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp.
- Hoàn cảnh giao tiếp rộng là những yếu tố về chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội, truyền thống, thói quen, … của một quốc gia, dân tộc, cộng đồng.
- Hoàn cảnh giao tiếp hẹp là những yếu tố thuộc thời gian, nơi chốn cụ
thể, trực tiếp mà cuộc giao tiếp diễn ra:
+ Thời điểm, thời gian, địa điểm giao tiếp.
+ Nhiệt độ, âm thanh, ánh sáng, màu sắc, mùi vị, ...
+ Trang phục, trang điểm; những yếu tố tâm lí, sinh lí của nhân vật giao tiếp.
Hoàn cảnh giao tiếp ảnh hƣởng không nhỏ đến cuộc giao tiếp.
Ví dụ: Khi tiến hành kí kết một hợp đồng mua bán ngoại thƣơng (mua
bán giữa hai đối tác khác quốc tịch) ngƣời ta không thể không quan tâm đến
những cơ sở pháp luật của hai quốc gia liên quan đến vụ mua bán.
Dạy học trong một phòng kính kín, không quạt, nắng gắt buổi chiều
“luộc” cả thầy lẫn trò “mồ hôi thánh thoát nhƣ mƣa ruộng cày” thì chắc chắn

7


hiệu quả sẽ không cao cho dù thầy tổ chức giờ học với phƣơng pháp tích cực,
sinh động.
c. Hiện thực đƣợc nói tới
Hiện thực đƣợc nói tới là những điều đƣợc đề cập trong cuộc giao tiếp,
tạo nên đề tài, nội dung giao tiếp.
Hiện thực đƣợc nói tới chi phối việc sử dụng ngôn ngữ và cách truyền tin.
d. Ngôn ngữ giao tiếp
Ngôn ngữ giao tiếp là ngôn ngữ đƣợc các nhân vật giao tiếp dùng để sản
sinh và tiếp nhận ngôn bản.
Chẳng hạn, Nam biết tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Nga; Hoa biết tiếng

học sinh nhằm giúp các em nắm vững kiến thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt
văn hóa.
Cơ sở của phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp:
Xuất phát từ chức năng của ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng
nhất của xã hội loài ngƣời. Con ngƣời có thể sử dụng nhiều phƣơng tiện giao
tiếp khác nhau, nhƣng không có phƣơng tiện nào đem lại hiệu quả cao nhƣ
ngôn ngữ. Ngôn ngữ không phải là phƣơng tiện giao tiếp duy nhất, nhƣng là
phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của con ngƣời.
Xuất phát từ mục đích của việc dạy học Tiếng Việt trong nhà trƣờng.
Dạy Tiếng Việt trong nhà trƣờng có hai mục đích cơ bản:
Truyền thụ những kiến thức khoa học về Tiếng Việt, cụ thể là những
khái niệm, công thức, quy tắc, cùng những hiểu biết khác nữa về một bộ môn
khoa học, đó là Việt ngữ học.
Rèn những năng lực ngôn ngữ tƣơng ứng với những lý thuyết tiếp thu
đƣợc trong bộ môn Việt ngữ học vào thực tế hoạt động giao tiếp.
Đây là phƣơng pháp dạy học dựa vào những lời nói sinh động, coi trọng
việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho HS. Phƣơng pháp dạy học theo quan
điểm giao tiếp thể hiện ở các dạng bài tập tạo câu, viết đoạn, sử dụng câu
trong từng tình huống giao tiếp cụ thể.
9


Ví dụ: Bài tập 2 sách Tiếng Việt 5, tập 2, trang 14
Viết đoạn văn từ 3 đến 5 câu tả ngoại hình một người bạn của em, trong
đoạn văn có ít nhất một câu ghép. Cho biết các vế câu trong câu ghép được
nối với nhau bằng cách nào.
Dạy Tiếng Việt theo hƣớng giao tiếp tức là dạy phát triển lời nói cho
từng cá nhân HS. Để thực hiện phƣơng pháp dạy học theo quan điểm giao tiếp
cần có môi trƣờng giao tiếp, các phƣơng tiện ngôn ngữ và các thao tác giao
tiếp. Phƣơng pháp này không phải chỉ là phƣơng pháp hƣớng dẫn HS vận

c/ Bạn Hoa hát một bài hát, cả lớp lắng nghe. (câu ghép)
d/ Hễ bạn Hoa hát một bài hát thì cả lớp lắng nghe. (câu ghép)
Một số tác giả quan niệm câu đơn là câu cấu tạo bằng một cụm C-V, câu
ghép là câu đƣợc cấu tạo bằng hai hay nhiều cụm C-V có quan hệ đẳng lập
với nhau (không bao chứa nhau). Theo quan niệm này thì chỉ có các câu c và
d đã dẫn mới là câu ghép; câu b vẫn thuộc phạm trù câu đơn vì cụm C-V “bạn
Hoa hát một bài hát” chỉ là một thành tố phụ (bổ ngữ) trong cụm động từ
làm vị ngữ.
Một số tác giả phân biệt ba loại câu: câu a là câu đơn, câu b là câu phức,
còn câu c và câu d là câu ghép.
Đi vào chi tiết, các tác giả còn trình bày nhiều ý kiến khác nhau. Ví dụ:
Nên dựa vào cụm C-V hay dựa vào nòng cốt câu để phân biệt câu đơn, câu
ghép? Nên hiểu nòng cốt câu nhƣ thế nào cho đúng? Những câu nhƣ “Trời
ơi!”, “Đội ta thắng rồi!”, hay “Hoa, lá, cành” là câu đơn hay câu ghép? ...
Định nghĩa câu ghép trong SGK Tiếng Việt 5 thể hiện quan niệm thứ 2 một quan niệm đƣợc xây dựng trên cơ sở lý thuyết về cụm từ đƣợc trình bày
trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, năm 1983 của Viện Ngôn ngữ học và nhiều
giáo trình đại học, nhiều sách nghiên cứu. Để phù hợp với trình độ nhận thức của
học sinh Tiểu học, sách định nghĩa: “Câu ghép là câu do nhiều vế câu ghép lại.

11


Mỗi vế của câu ghép thường có cấu tạo giống câu đơn (có đủ chủ ngữ, vị ngữ)
và thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý của những vế câu khác” [19, tr.8].
1.3.2 Phân biệt câu ghép với câu đơn và câu phức
Trƣớc kia, cấu tạo ngữ pháp cơ bản của câu đƣợc hiểu là cụm C-V, còn
gọi là mệnh đề. Cách hiểu này không bao quát đƣợc kiểu câu không chứa cụm
C-V và thƣờng đƣợc gọi là “câu đơn đặc biệt”, hoặc buộc phải coi nó cũng là
câu có đủ chủ ngữ và vị ngữ, nhƣng một thành phần nào đó vắng mặt. Mặt
khác, cách hiểu này cũng góp phần gây rắc rối cho việc phân biệt câu đơn,


12


cụm C-V phụ làm vị ngữ, nó cũng bị bao hàm trong một cụm C-V lớn hơn.
Lƣợc đồ minh họa:
D

[C/V]
(phụ)

Chủ ngữ

Vị ngữ

(4) Tuy đồng chí không muốn làm mất trật tự nhưng tôi có quyền nhường
chỗ và đổi chỗ cho đồng chí. (Tiếng Việt 5, tập 2)
Câu này cũng đƣợc làm thành từ hai cụm C-V. Mỗi cụm C-V trong nó
làm thành một vế trong mối quan hệ với cụm C-V. Ở đây không cụm C-V nào
bao chứ cụm C-V nào, cả hai cùng tiếp xúc với nhau làm thành một cấu tạo
ngôn ngữ lớn là “câu” chứa chúng. Lƣợc đồ minh họa:
[C/V]

[C/V]

Nhìn trở lại 4 ví dụ vừa nêu có thể phân biệt 3 trƣờng hợp sau đây:
a. Ở ví dụ 1 chỉ có một cụm C-V duy nhất. Nếu lấy cụm C-V làm tiêu
chuẩn, và câu đƣợc làm thành từ chỉ một cụm C-V gọi là câu đơn (hai thành
phần) thì ví dụ 1 là câu đơn (hai thành phần).
b. Các ví dụ 2, 3, 4 đều chứa trong mỗi câu hai cụm C-V. Nếu chỉ tính

Câu đơn hai thành phần là câu đƣợc làm thành từ một cụm C-V duy
nhất có tƣ cách là nòng cốt câu.
Câu phức thành phần là câu đƣợc làm thành từ hai cụm C-V trở lên,
trong đó chỉ có một cụm C-V làm nòng cốt câu. (Các cụm C-V còn lại là
những bộ phận bị bao chứa bên trong nòng cốt câu).
Câu ghép là câu đƣợc làm thành từ hai cụm C-V trở lên, mỗi cụm C-V
đó tƣơng đƣơng một nòng cốt câu đơn và chúng tiếp xúc với nhau làm thành
các vế trong câu ghép. Những cụm C-V là vế của câu ghép, không bị bao
chứa bên trong cụm C-V khác.

14


1.3.3 Các kiểu câu ghép trong Tiếng Việt
Câu ghép là câu có nòng cốt ghép, do hai hay nhiều kết cấu C-V hoặc
tƣơng đƣơng không bao hàm lẫn nhau, liên kết với nhau theo một kiểu quan
hệ ngữ nghĩa và ngữ pháp nhất định.
Về mặt nội dung, câu ghép biểu thị một phán đoán phức, một suy lí.
Ví dụ: Nếu các em đều xin ở lại, anh sẽ về báo cáo với Ban chỉ huy.
(Tiếng Việt 3, tập 2)
Về mặt hình thức cú pháp, câu ghép có nòng cốt đƣợc tạo bởi ít nhất
hai vế câu, mỗi vế cấu tạo nhƣ một nòng cốt đơn hoặc một nòng cốt ghép.
Ví dụ: Nhà vua rất mừng vì con gái đã khỏi bệnh, nhƣng ngài lập tức lo
lắng vì đêm đó mặt trăng sẽ sáng vằng vặc trên trời. (Tiếng Việt 4, tập 1)
Việc phân loại câu ghép tiếng Việt cũng có nhiều quan niệm khác nhau do
mục đích và tiêu chí phân loại của các nhà nghiên cứu. Câu ghép thƣờng đƣợc
phân loại theo cách:
a. Dựa vào tính đầy đủ hai bộ phận chính (C-V) của nòng cốt.
b. Dựa vào sự có mặt của kết từ giữa các vế câu.
c. Dựa vào mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các vế câu.


(cho) nên/ mà C-V.

(Tại) vì C-V

(cho ) nên/ mà C-V.

Nhờ C-V

(cho) nên/ mà C-V.

Do C-V

(cho) nên/ mà C-V.

Bởi C-V

(cho) nên/ mà C-V.

Bởi chƣng C-V

(cho) nên/ mà C-V.

Tại C-V

(cho) nên/ mà C-V.

Khi vế câu chỉ nguyên nhân đứng trƣớc thì thƣờng không dùng kết từ
đầu vế. Nếu có kết từ thì dùng “sở dĩ”.
(Sở dĩ) C-V


Miễn (là) C-V

thì C-V.

Giá (nhƣ/ mà) C-V

thì C-V.

Giả sử C-V

thì C-V

Ngộ C-V

thì C-V.

Khi đảo vế chỉ kết quả lên trƣớc thì kết từ gắn với nó không đƣợc dùng nữa.
C-V

nếu C-V.

C-V

miễn (là) C-V.

Trong kết từ chỉ điều kiện, kết từ “hễ” biểu thị sự liên hệ tất yếu giữa
điều kiện và kết quả; “nếu, giá, giá phỏng, giả sử, ngộ, phòng thử, nhƣợng
bằng” biểu thị điều kiện có tính giả thiết. “Giá (mà)” mang sắc thái tiếc nuối
của ngƣời nói vì kết quả hiện thực không mong muốn đã xảy ra. “Ngộ, nhỡ”

C-V

tuy C-V.

C-V

mặc dầu C-V.

Để biểu đạt quan hệ nghịch nhân - quả, có thể dùng một số phụ từ:
chƣa… đã…, mới… đã…
+ Quan hệ mục đích - sự kiện
Để C-V

(thì) C-V.

C-V

(là) để C-V.

+ Quan hệ tăng cấp
Không/ chẳng những C-V

mà C- còn V.

C- càng V

C- càng V.

+ Quan hệ hô ứng
C-V bao nhiêu,


dấu chấm phẩy hay dấu hai chấm.
Căn cứ vào mối quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu, có thể phân biệt một số
kiểu câu ghép không dùng từ ngữ làm phƣơng tiện liên kết các vế câu nhƣ sau:
+ Câu ghép chỉ quan hệ đối ứng.
+ Câu ghép chỉ quan hệ liệt kê.
+ Câu ghép chỉ quan hệ thuyết minh, giải thích.
- Câu ghép có dùng từ ngữ liên kết các vế câu
Ở những câu ghép kiểu này, các vế câu đƣợc nối với nhau bằng quan hệ
từ, cặp quan hệ từ, cặp phụ từ hoặc cặp đại từ hô ứng.
+ Câu ghép dùng quan hệ từ làm phƣơng tiện liên kết các vế câu
Các câu ghép loại này dùng quan hệ từ hoặc cặp quan hệ từ để diễn đạt
quan hệ giữa các vế câu. Bao gồm các kiểu nhỏ sau:
 Câu ghép chỉ quan hệ nguyên nhân - kết quả
Những câu ghép kiểu này dùng phƣơng tiện liên kết vế câu là các quan
hệ từ vì, do, bởi (vì), tại (vì), (cho) nên hoặc các cặp quan hệ từ vì , (cho) nên,
do (cho) nên, tại (cho) nên…
 Câu ghép chỉ quan hệ điều kiện/ giả thiết - hệ quả
Kiểu câu ghép này dùng phƣơng tiện liên kết vế câu là các quan hệ từ
nếu (mà), giá (mà), hễ (mà) hoặc các cặp quan hệ từ nếu (mà)… thì (hoặc là),
giá (mà)… thì (hoặc là), hễ (mà)… thì (hoặc là).
 Câu ghép chỉ quan hệ nhƣợng bộ - tƣơng phản (hoặc tăng tiến)
Kiểu câu ghép này dùng phƣơng tiện liên kết vế câu là các quan hệ từ
tuy, (mặc) dầu, dẫu, nhưng hoặc các cặp quan hệ từ tuy… nhưng (mà), (mặc)
dầu… nhưng (mà), dẫu… nhưng (mà), (mặc) dù… nhưng (mà).
 Câu ghép chỉ quan hệ mục đích - sự kiện
Kiểu câu ghép này dùng phƣơng tiện liên kết vế câu là quan hệ từ để
(cho), hoặc cặp quan hệ từ để (cho)…

19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status