Nâng cao hiệu nghiệp vụ cho vay sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Á Châu Việt Nam - Chi nhánh Huế - Pdf 26

Khóa luận tốt nghiệp đại học - Chuyên ngành Kế Toán Kiểm Toán
PHẦN I:
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã dẫn đến những xáo
động đầy kịch tính về thị trường, tỷ giá, đầu tư và thương mại. Biến đổi khí hậu ngày
càng làm cho thời tiết trở nên bất lợi hơn cho nông nghiệp, thiên tai xuất hiện với tần số
cao hơn, sức tàn phá mạnh hơn, mùa màng thất bát. Dịch bệnh (như cúm A/H1N1) cũng
ảnh hưởng bất lợi đến tăng trưởng kinh tế trên quy mô toàn cầu. Các biến động đó đã
tác động đến kinh tế Việt Nam, làm bộc lộ rõ hơn những yếu kém về chất lượng và sự
mất cân đối của nền kinh tế đang tiếp tục hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu.
Trước tình hình đó, hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng năm 2009 cũng gặp
không ít khó khăn trở ngại. Năm 2009, ngân hàng ngoại chính thức mở rộng ảnh hưởng
trên địa bàn Việt Nam (HSBC, Standard Chartered, ANZ, Shinhan và Hong Leong) với
lợi thế về đội ngũ nhân viên, tiềm lực tài chính và công nghệ hiện đại. Các nhân tố này
vừa là thách thức nhưng cũng là nhân tố kích cầu để ngân hàng Việt Nam liên tục đổi
mới và hội nhập. Từ đó, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng ngày càng được nâng
cao, đem lại lợi ích cho bản thân ngân hàng và cho toàn xã hội.
Tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài
sản và tạo nguồn thu chính đối với mỗi ngân hàng. Xã hội càng phát triển, nhu cầu về
vốn càng trở nên đa dạng, đòi hỏi được đáp ứng đầy đủ và kịp thời, không chỉ riêng đối
với các doanh nghiệp mà còn cấp thiết đối với cả khách hàng cá nhân. Bên cạnh nhu cầu
vốn cho tiêu dùng thì nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ cũng
không hề nhỏ.
Một sự kiện nổi bật trong giới ngân hàng không thể không được nhắc đến trong
năm 2009 là lần đầu tiên tại Việt Nam, chỉ có Ngân hàng Á Châu nhận được danh hiệu
ngân hàng tốt nhất Việt Nam của sáu tạp chí tài chính ngân hàng uy tín trên thế giới:
Asiamoney, FinanceAsia, Euromoney, Global Finance, The Asset và The Banker. Tuy
chỉ mới hơn 16 năm thành lập nhưng ACB đã có những thành tựu nhất định trong hoạt
động tín dụng, đặc biệt là hoạt động cho vay sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ luôn
chiếm tỷ trọng lớn trong dư nợ cho vay của ngân hàng.

đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng Á Châu - Chi nhánh Huế.
- Về thời gian: từ năm 2007 đến năm 2009.
SVTH: Dương Nguyễn Xuân Hà - Lớp K40 Kế Toán Kiểm Toán
2
Khóa luận tốt nghiệp đại học - Chuyên ngành Kế Toán Kiểm Toán
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu trên, tôi sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
5.1. Phương pháp thu thập số liệu
Đối với dữ liệu thứ cấp: thu thập dữ liệu thứ cấp bên trong và bên ngoài đơn vị. Dữ
liệu thứ cấp bên trong bao gồm các báo cáo tài chính, tài liệu khác của ngân hàng. Dữ
liệu thứ cấp bên ngoài bao gồm giáo trình, sách, tạp chí, internet, các khóa luận liên
quan…
Đối với dữ liệu sơ cấp: sử dụng các phương pháp sau
- Phương pháp quan sát: Được tiến hành trong thời gian thực tập
ở chi nhánh. Quan sát thái độ của khách hàng khi đến vay tại ngân hàng TMCP Á Châu
- Chi nhánh Huế và cách thức làm việc của cán bộ tín dụng tại chi nhánh.
- Phương pháp phỏng vấn: hỏi ý kiến trực tiếp của một số khách hàng
đến giao dịch tại phòng Khách hàng cá nhân của ACB Huế và ý kiến một số cán bộ tín
dụng tại chi nhánh.
5.2. Phương pháp xử lí số liệu
Là việc tổng hợp và chọn lọc những thông tin, dữ liệu thu thập được nhằm phục
vụ cho công việc nghiên cứu. Cụ thể trong quá trình xử lý số liệu tôi đã sử dụng các
phương pháp sau:
-Phương pháp thống kê: Là phương pháp tổng hợp lại những thông tin, dữ liệu
thu thập được nhằm phục vụ cho công việc nghiên cứu. Sau khi có số liệu sử dụng
phương pháp này để lập các bảng phân tích.
-Phương pháp phân tích kinh doanh: Là phương pháp dựa trên những số liệu có
sẵn để phân tích những ưu điểm, nhược điểm trong hoạt động kinh doanh nhằm tìm ra
những nguyên nhân và giải pháp khắc phục.

SVTH: Dương Nguyễn Xuân Hà - Lớp K40 Kế Toán Kiểm Toán
4
Khóa luận tốt nghiệp đại học - Chuyên ngành Kế Toán Kiểm Toán
 Ngân hàng kinh doanh chủ yếu bằng nguồn vốn đi huy động được, dùng tiền
nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế để tài trợ vốn cho các tổ chức, cá
nhân có nhu cầu.
 Tiền tệ chính là nguyên liệu đầu vào nhưng cũng là sản phẩm đầu ra trong
hoạt động của ngân hàng. Khách hàng vừa là người cung cấp nguyên liệu đầu vào và
cũng là người tiêu dùng sản phẩm.
 Sự thống nhất của các ngân hàng là vô cùng quan trọng. Một ngân hàng muốn
tồn tại và phát triển thì phải gắn kết chặt chẽ với các ngân hàng khác và cả hệ thống.
1.1.3. Chức năng của ngân hàng thương mại
1.1.3.1. Chức năng trung gian tín dụng
Đây là chức năng cơ bản và đặc trưng nhất của ngân hàng thương mại và có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển. Thực hiện
chức năng này, một mặt NHTM huy động và tập trung vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi
trong các tổ chức kinh tế, cơ quan đoàn thể, tiền tiết kiệm của dân cư để hình thành
nguồn vốn cho vay; mặt khác trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng sử dụng
cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.
1.1.3.2. Chức năng trung gian thanh toán
Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, NHTM sẽ cung cấp cho khách hàng
nhiều công cụ thanh toán cho nền kinh tế như thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, thẻ rút tiền,
ngân phiếu, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, nhờ đó tiết kiệm chi phí lưu thông, đảm bảo an
toàn cho các chủ thể tham gia thanh toán và nâng cao khả năng tín dụng.
1.1.3.3. Chức năng cung cấp các dịch vụ tài chính - ngân hàng
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng và ngân quỹ, ngân hàng có điều
kiện thuận lợi về kho quỹ, thông tin quan hệ rộng rãi với các doanh nghiệp, nên có thể
thực hiện thêm một số dịch vụ khác kèm theo như: tư vấn tài chính, đầu tư, giữ hộ giấy
tờ, chứng khoán, làm đại lý phát hành cổ phiếu, trái phiếu cho các doanh nghiệp… để
được hưởng hoa hồng, lúc đó ngân hàng sẽ vừa tiết kiệm được chi phí, vừa đạt hiệu quả

chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Trong
các hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất.
SVTH: Dương Nguyễn Xuân Hà - Lớp K40 Kế Toán Kiểm Toán
6
Khóa luận tốt nghiệp đại học - Chuyên ngành Kế Toán Kiểm Toán
a. Cho vay
Ngân hàng thương mại được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình
thức sau:
 Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ và đời sống.
 Cho vay trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ và đời sống.
b. Bảo lãnh
Ngân hàng thương mại được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực
hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín
và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Mức bảo lãnh đối với
một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một ngân hàng thương mại không được vượt
quá tỷ lệ so với vốn tự có của NHTM.
c. Chiết khấu
Ngân hàng thương mại được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn
hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương phiếu và các giấy
tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác.
d. Cho thuê tài chính
Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập
công ty cho thuê tài chính riêng. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty cho
thuê tài chính thực hiện theo Nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công
ty cho thuê tài chính.
Ngoài ra, NHTM còn có hoạt động bao thanh toán, tài trợ xuất nhập khẩu, thanh
toán quốc tế, môi giới đầu tư chứng khoán…
1.1.4.3. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ

e. Cung ứng dịch vụ bảo hiểm
NHTM được cung ứng dịch vụ bảo hiểm, được thành lập công ty trực thuộc hoặc
liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
g. Tư vấn tài chính
NHTM được cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ cho khách hàng dưới
hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty tư vấn trực thuộc ngân hàng.
SVTH: Dương Nguyễn Xuân Hà - Lớp K40 Kế Toán Kiểm Toán
8
Khóa luận tốt nghiệp đại học - Chuyên ngành Kế Toán Kiểm Toán
h. Bảo quản vật quý giá
NHTM được thực hiện các dịch vụ bảo quản vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ
két, cầm đồ và các dịch vụ khác có liên quan theo quy định của pháp luật.
1.2. Những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ cho vay sản xuất kinh doanh và làm dịch
vụ tại ngân hàng thương mại
1.2.1. Nghiệp vụ cho vay tại ngân hàng thương mại
1.2.1.1. Khái niệm cho vay
Theo Điều 3, quyết định 1627/2001/QĐ của thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt
Nam định nghĩa: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao
cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định
theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”
1.2.1.2. Nguyên tắc cho vay
Ngân hàng thương mại là các tổ chức kinh doanh tiền tệ thực hiện hoạt động “đi
vay để cho vay”. Hơn thế nữa, các ngân hàng phải trả lãi cho các khoản vốn mà mình
huy động. Bởi vậy, khi thực hiện hoạt động cấp tín dụng các ngân hàng luôn phải đảm
bảo các nguyên tắc nhất định, đây cũng chính là đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của
ngân hàng. Các nguyên tắc đó là:
Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Khi khách
hàng và ngân hàng đi đến cam kết vay vốn - cho vay vốn tức hai bên đã có một sự đồng
ý, sự nhất quán về mục đích sử dụng vốn được thể hiện trong hợp đồng. Về phía ngân
hàng, quyết định cho vay được phê duyệt dựa trên sự thẩm định về chất lượng của dự

 Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay
như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác.
 Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố
hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn
để quyết định cho vay.
c. Theo phương thức cho vay
 Cho vay theo món: Mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng thương mại
thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
 Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng thương mại và khách hàng xác
định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
SVTH: Dương Nguyễn Xuân Hà - Lớp K40 Kế Toán Kiểm Toán
10
Khóa luận tốt nghiệp đại học - Chuyên ngành Kế Toán Kiểm Toán
d. Theo phương thức hoàn trả nợ vay
 Cho vay trả góp: tùy theo hợp đồng cho vay mà khách hàng đã ký kết, số tiền
lãi vay phải trả và nợ gốc sẽ được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho
vay.
 Cho vay phi trả góp: khách hàng trả nợ gốc một lần khi đáo hạn.
e. Theo mục đích sử dụng vốn vay
 Cho vay đầu tư vàng
 Cho vay trả góp mua nhà
 Cho vay cầm cố giấy tờ có giá
 Cho vay thấu chi tài khoản cá nhân
 Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh
 Cho vay hỗ trợ tiêu dùng cho nhân viên công ty...
1.2.1.4. Các sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng cá nhân tại ngân hàng
thương mại
 Cho vay sinh hoạt tiêu dùng
 Cho vay xây dựng, sửa chữa nhà
 Cho vay hỗ trợ tiêu dùng

1.2.1.6. Rủi ro trong nghiệp vụ cho vay
Theo Wikipedia: “Rủi ro tín dụng là ngôn từ thường được sử dụng trong hoạt
động cho vay của ngân hàng hoặc trên thị trường tài chính. Đó là khả năng không chi
trả được nợ của người đi vay đối với người cho vay khi đến hạn phải thanh toán. Luôn
là người cho vay phải chịu rủi ro khi chấp nhận một hợp đồng cho vay tín dụng. Bất kỳ
một hợp đồng cho vay nào cũng có rủi ro tín dụng.”
Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Kiều
1
(giảng viên đại học kinh tế thành phố Hồ Chí
Minh): Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh do khách hàng nợ không còn khả năng chi
trả. Trong hoạt động ngân hàng, rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng mất khả năng trả
nợ một khoản vay nào đó.
1.2.2. Nghiệp vụ cho vay sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ đối với khách hàng
cá nhân tại ngân hàng thương mại
1
Ts. Nguyễn Minh Kiều, Giáo trình Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB Thống Kê, 2006
SVTH: Dương Nguyễn Xuân Hà - Lớp K40 Kế Toán Kiểm Toán
12
Khóa luận tốt nghiệp đại học - Chuyên ngành Kế Toán Kiểm Toán
1.2.2.1. Đặc điểm của khách hàng cá nhân
Khách hàng cá nhân bao gồm: cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và doanh nghiệp
tư nhân. Hiện nay, khách hàng cá nhân là đối tượng khách hàng được tập trung khai thác
theo các chính sách bán lẻ của NHTM.
Trong thời kỳ bao cấp, cá nhân không được và ít có nhu cầu thực hiện các giao
dịch với ngân hàng. Hành vi này ảnh hưởng lâu dài khiến cho khi chuyển sang thời kỳ
đổi mới kinh tế NHTM phải mất thời gian khá dài để thay đổi hành vi và thu hút khách
hàng cá nhân thực hiện giao dịch qua ngân hàng. Nhìn chung khách hàng cá nhân có
những đặc điểm tâm lý giao dịch như sau
2
:

 Căn cứ vào thời gian: bao gồm cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
 Căn cứ vào mục đích vay: dựa vào mục đích vay của khách hàng thì cho vay
sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ được phân loại theo các mục đích chính sau:
 Cho vay bổ sung vốn lưu động thiếu hụt trong quá trình sản xuất kinh
doanh và làm dịch vụ, thanh toán tiền vật tư, nguyên liệu, hàng hóa và các chi phí cần
thiết…
 Cho vay đầu tư tài sản cố định: máy móc, trang thiết bị có giá trị lớn
d. Vai trò của nghiệp vụ cho vay sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ
 Đối với sự phát triển của nền kinh tế
Cho vay sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ là đòn bẩy quan trọng kích thích sự
phát triển của nền kinh tế. Hoạt động tín dụng sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ đóng
góp vào sự phát triển của nền kinh tế như sau:
 Sự phát triển của nền sản xuất tạo nguồn thu cho ngân sách, từ đó
Chính phủ sẽ thực hiện tốt hơn vai trò của mình trong việc ổn định trật tự xã hội, an sinh
giáo dục, cũng như đầu tư vào các dự án trọng điểm của đất nước.
 Tín dụng kích thích các ngành kinh tế mũi nhọn phát triển, mở rộng
thương mại, dịch vụ.
 Tín dụng sản xuất kinh doanh góp phần tận dụng, khai thác mọi tiềm
năng về đất đai, lao động, tài nguyên thiên nhiên của đất nước. Góp phần xây dựng kết
cấu hạ tầng, cơ sở vật chất cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
SVTH: Dương Nguyễn Xuân Hà - Lớp K40 Kế Toán Kiểm Toán
14
Khóa luận tốt nghiệp đại học - Chuyên ngành Kế Toán Kiểm Toán
 Tín dụng sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ tạo điều kiện phát triển
ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, góp phần giải quyết việc làm cho người lao
động.
 Tín dụng sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ góp phần ngăn chặn đà
suy giảm kinh tế, nhằm thúc đẩy sản xuất, kích cầu đầu tư.
 Đối với các ngân hàng thương mại
Cho vay sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ là một trong những nhóm sản phẩm

hàng sau khi giải ngân dẫn đến trường hợp không sử dụng vốn như đã thỏa thuận gây
tổn thất vốn và mất khả năng chi trả.
 Rủi ro đến từ phía khách hàng
 Năng lực làm việc yếu kém ảnh hưởng đến nguồn thu nhập, khả năng
trả nợ của khách hàng.
 Sự bất ổn hay sự xuống dốc của nền kinh tế tạo nên sự không chắc chắn
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng. Điều này ảnh hưởng đến tình hình
tài chính và việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng.
 Khách hàng có đủ năng lực tài chính nhưng vẫn chây ì và không muốn
thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
 Khách hàng không trung thực trong việc cung cấp thông tin cá nhân cho
cán bộ tín dụng.
1.3. Hiệu quả nghiệp vụ cho vay sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ đối với
khách hàng cá nhân
1.3.1. Quan niệm về hiệu quả nghiệp vụ cho vay đối với khách hàng cá nhân
1.3.1.1. Hiệu quả trong kinh tế học
Trong kinh tế học, khi nhắc đến hiệu quả, người ta thường dùng khái niệm hiệu
quả Pareto, mang tên nhà kinh tế xã hội học người Italia Vilfredo Pareto (1848 - 1923).
SVTH: Dương Nguyễn Xuân Hà - Lớp K40 Kế Toán Kiểm Toán
16
Khóa luận tốt nghiệp đại học - Chuyên ngành Kế Toán Kiểm Toán
Với một nhóm các cá nhân và nhiều cách phân bổ nguồn lực khác nhau cho mỗi cá nhân
trong nhóm đó, việc chuyển từ một phân bổ này sang phân bổ khác mà làm ít nhất một
cá nhân có điều kiện tốt hơn nhưng không làm cho bất cứ một cá nhân nào có điều kiện
xấu đi được gọi là một sự cải thiện Pareto hay là sự tối đa hóa Pareto. Khi đạt được một
sự phân bổ mà không còn cách nào khác để đạt thêm sự cải thiện Pareto, cách phân bổ
đó được gọi là hiệu quả Pareto hay tối ưu Pareto. Từ đó, khái niệm hiệu quả Pareto
thường được dùng như một tiêu chuẩn để đánh giá mức độ đáng có của các cách phân
bổ nguồn lực khác nhau. Một sự phân bổ nguồn lực chưa đạt hiệu quả Pareto có nghĩa là
vẫn còn sự “lãng phí”, theo nghĩa là còn có thể cải thiện lợi ích của một người nào đó

1.3.1.2. Hiệu quả nghiệp vụ cho vay đối với khách hàng cá nhân
Hiệu quả nghiệp vụ cho vay đối với khách hàng cá nhân của NHTM là sự so
sánh giữa kết quả thu được với toàn bộ chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó trong hoạt
động cho vay đối với KHCN. Ở đây, hiệu quả hoạt động cho vay được hiểu ở hai góc
độ khác nhau:
 Từ góc độ của ngân hàng thì hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả thu được từ
nghiệp vụ cho vay cá nhân và chi phí mà ngân hàng phải bỏ ra để đạt được kết quả đó.
 Trên quan điểm của khách hàng thì hiệu quả cho vay được thể hiện qua việc
so sánh những kết quả do việc vay vốn từ NHTM mang lại như doanh thu, lợi nhuận, từ
hoạt động kinh doanh… và chi phí mà khách hàng phải trả cho những khoản vay đó.
1.3.2. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả nghiệp vụ cho vay sản xuất kinh doanh và
làm dịch vụ đối với khách hàng cá nhân
1.3.2.1. Nhóm chỉ tiêu định tính
 Uy tín của ngân hàng
Cạnh tranh là quy luật tự nhiên, là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Cạnh
tranh chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường. Để tồn tại và phát triển các ngân hàng
phải chấp nhận cạnh tranh như sự lựa chọn tất yếu. Trong cùng một môi trường như
nhau, các ngân hàng phải tận dụng được những ưu thế của mình để vượt lên trên đối thủ
cạnh tranh, khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế. Nếu một ngân hàng có uy tín
tốt thì sẽ thu hút được nhiều khách hàng và khi đó số khách hàng có chất lượng, làm ăn
uy tín sẽ tăng. Điều này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay của ngân
hàng nói chung và cho vay SXKD&LDV đối với KHCN nói riêng.
 Trình độ cán bộ của ngân hàng
SVTH: Dương Nguyễn Xuân Hà - Lớp K40 Kế Toán Kiểm Toán
18
Khóa luận tốt nghiệp đại học - Chuyên ngành Kế Toán Kiểm Toán
Con người là nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại trong
mọi hoạt động của doanh nghiệp và hoạt động tín dụng của NHTM cũng không nằm
ngoài sự tác động đó. Đối với hoạt động ngân hàng, chất lượng nhân viên tín dụng thể
hiện ở trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khả năng giao tiếp, khả năng xử lý công việc,

định. Hiệu quả nghiệp vụ cho vay phụ thuộc vào mức độ phát hiện kịp thời nguyên nhân
các sai sót phát sinh trong quá trình thực hiện một khoản vay của công tác kiểm soát nội
bộ. Để hệ thống kiểm soát nội bộ đạt hiệu quả cao, ngân hàng cần có cơ cấu tổ chức hợp
lý, cán bộ kiểm soát phải giỏi về nghiệp vụ, trung thực và có chính sách thưởng phạt vật
chất nghiêm minh.
1.3.2.2. Nhóm chỉ tiêu định lượng
a. Nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình cho vay sản xuất kinh doanh và làm dịch
vụ
 Doanh số cho vay sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ đối với khách hàng cá
nhân
Đây là chỉ tiêu phản ánh số tiền mà ngân hàng đã giải ngân cho khách hàng cá
nhân vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ, dựa trên cơ sở hợp đồng tín
dụng trong một khoảng thời gian nhất định không kể món vay đó đã thanh lý hay chưa.
Doanh số cho vay là chỉ tiêu mang tính thời kỳ, phản ánh khái quát nhất tình hình
cho vay SXKD&LDV của ngân hàng. Doanh số cho vay năm sau càng lớn, có xu hướng
tăng so với năm trước cho thấy hoạt động cho vay SXKD&LDV của ngân hàng đang
được mở rộng.
 Dư nợ cho vay sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ đối với khách hàng cá
nhân
Dư nợ cho vay SXKD&LDV là chỉ tiêu phản ánh số tiền mà ngân hàng hiện
đang cho vay tại một thời điểm cụ thể nào đó. Dư nợ cho vay được tích lũy qua từng
thời kỳ và là khoản ngân hàng cần thu về.
Dư nợ cho
vay cuối kỳ
=
Dư nợ cho
vay đầu kỳ
+
Doanh số cho
vay trong kỳ

 Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đến hạn
thanh toán theo thỏa thuận ghi trên hợp đồng tín dụng. Khi một món nợ không trả được
vào kỳ hạn nợ, toàn bộ nợ gốc còn lại của hợp đồng sẽ bị chuyển thành nợ quá hạn.
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và quyết định 18/2007/QĐ-NHNN về việc ban
hành quy định phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong
hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng thì nợ quá hạn là các khoản nợ thuộc nhóm
2,3,4,5.
SVTH: Dương Nguyễn Xuân Hà - Lớp K40 Kế Toán Kiểm Toán
21
Khóa luận tốt nghiệp đại học - Chuyên ngành Kế Toán Kiểm Toán
 Chỉ tiêu về tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm tổng dư nợ quá hạn và
tổng dư nợ của NHTM ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng hay cuối năm.
Tỷ lệ nợ quá hạn (%)
=
Nợ quá hạn
x 100
Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ nghiệp vụ cho vay của ngân hàng không
hiệu quả và nguyên nhân có thể xuất phát từ việc thẩm định khách hàng vay, vì công tác
này có ảnh hưởng rất lớn, quyết định đến hiệu quả cho vay. Ngân hàng cần có những
biện pháp để đánh giá quy trình thủ tục cho vay, giám sát hoạt động của cán bộ tín dụng,
hạn chế những rủi ro có thể mất vốn do khoản nợ quá hạn gây ra.
Tỷ lệ nợ quá hạn thấp chứng tỏ tình hình kinh doanh của đơn vị tốt, hầu
hết các khoản vay của ngân hàng đều sinh lãi và có khả năng thu hồi được. Tuy nhiên,
duy trì một tỷ lệ nợ quá hạn thấp mà không gia tăng được thu nhập do hoạt động cho
vay mang lại thì cũng không có ý nghĩa. Hiệu quả công tác cho vay chỉ thực sự có ý
nghĩa khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh lời cho ngân hàng.
Nợ quá hạn trong ngân hàng là điều không thể tránh khỏi, quan trọng là ngân
hàng phải biết giảm tỷ lệ đó xuống mức thấp nhất có thể.
 Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu

=
Dư nợ cho vay SXKD&LDV đv KHCN
X 100
Tổng tài sản có
Tỷ lệ trên có thể dùng để đánh giá sơ bộ tình hình sử dụng vốn của chi nhánh cho
hoạt động cho vay sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ đối với khách hàng cá nhân. Nếu
nguồn vốn cao, doanh số cho vay cao nhưng tỷ lệ dư nợ thấp chứng tỏ ngân hàng hoạt
động có hiệu quả, hoạt động thu nợ tốt, người vay vốn hoàn tất việc trả nợ đúng thời
hạn.
d. Vòng quay vốn cho vay sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ đối với
khách hàng cá nhân
Vòng quay vốn cho vay =
Doanh số thu nợ cho vay SXKD&LDV đv KHCN
Dư nợ cho vay SXKD&LDV đv KHCN bình quân
Trong đó:
Dư nợ bình quân trong kỳ = ( Dư nợ đầu kỳ + Dư nợ cuối kỳ )/2
SVTH: Dương Nguyễn Xuân Hà - Lớp K40 Kế Toán Kiểm Toán
23
Khóa luận tốt nghiệp đại học - Chuyên ngành Kế Toán Kiểm Toán
Vòng quay vốn cho vay SXKD&LDV đối với KHCN đo lường tốc độ luân
chuyển vốn cho vay của ngân hàng, cho biết thời gian thu hồi nợ vay SXKD&LDV của
ngân hàng là nhanh hay chậm. Vòng quay vốn cho vay càng cao thì được coi là tốt và
việc đầu tư càng được an toàn. Ngược lại, vòng quay vốn cho vay thấp thì ngân hàng sẽ
gặp khó khăn trong việc cho vay và thu hồi nợ.
e. Nhóm chỉ tiêu sinh lời
 Lợi nhuận từ nghiệp vụ cho vay sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ đối với
khách hàng cá nhân
Mục đích kinh doanh của các NHTM là lợi nhuận. Do vậy không thể nói một
khoản tín dụng có chất lượng cao khi nó không đem lại thu nhập cho ngân hàng. Hơn
nữa thu nhập từ tín dụng là nguồn thu chủ yếu để ngân hàng tồn tại và phát triển. Lợi

Thu nhập từ
hoạt động cho
vay
x
Dư nợ cho vay SXKD&LDV cá nhân
Tổng dư nợ cho vay
Chi phí trả lãi tiền
gửi phân bổ cho
hoạt động cho vay
SXKD&LDV đối với
KHCN
=
Trả lãi tiền
gửi/Chi phí mua
vốn nội bộ
x
Dư nợ cho vay SXKD&LDV cá nhân
Tổng dư nợ cho vay
24
Khóa luận tốt nghiệp đại học - Chuyên ngành Kế Toán Kiểm Toán
Tỷ lệ này cho biết trong một đồng thu nhập của ngân hàng có bao nhiêu
đồng thu nhập là do hoạt động cho vay SXKD&LDV đối với KHCN mang lại. Chỉ tiêu
này càng cao chứng tỏ hoạt động cho vay SXKD&LDV của ngân hàng càng tốt. Từ đó
cho thấy rằng nếu ngân hàng chỉ tập trung vào việc giảm và duy trì một tỷ lệ nợ quá hạn
thấp mà không tăng được thu nhập từ hoạt động cho vay thì một tỷ lệ nợ quá hạn thấp
như thế cũng không có ý nghĩa bởi mục tiêu cuối cùng của các NHTM là lợi nhuận.
 Mức sinh lời của vốn cho vay sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ đối với
khách hàng cá nhân
Mức sinh lời từ cho vay
SXKD&LDV đv KHCN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status