!"
#$%$&' $(
)*+,
Giảng viên khoa SP Tiểu học - Mầm non
Trường Đại học Quảng Bình
/01234.56
Lứa tuổi mầm non có vị trí rất quan trọng trong suốt quá trình phát triển
cuộc đời của mỗi con người. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học dưới góc độ
sinh lý, tâm lý xã hội, tâm vận động đã khẳng định sự phát triển của trẻ từ 0 – 6
tuổi là giai đoạn phát triển có tính quyết định để tạo nên thể lực, nhân cách, năng
lực phát triển trí tuệ trong tương lai. Đến nay có hơn 160 nước và các tổ chức
quốc tế đã cam kết coi giáo dục mầm non là một mục tiêu quan trọng của giáo
dục cho mọi người. Thụy Điển coi giai đoạn mầm non là “Thời kỳ vàng của
cuộc đời”. Luật hệ thống giáo dục quốc gia Indonesia đã công nhận giáo dục
mầm non là giai đoạn đặt tiền đề cho hệ thống giáo dục cơ bản. Luật giáo dục
của Thái Lan nhấn mạnh gia đình và Chính phủ phải cùng chia sẻ trách nhiệm
đối với giáo dục mầm non nhằm thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em.
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng giáo dục mầm non xác định
nhiệm vụ giáo dục mầm non là thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
trẻ từ 0 – 6 tuổi nhằm giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ,
hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách.
Như chúng ta đã biết, đặc điểm học của trẻ mầm non là “Học mà chơi, chơi
mà học”, chơi là cuộc sống của trẻ, tổ chức trò chơi chính là tổ chức cuộc sống
của trẻ em lứa tuổi mầm non, chơi trở thành hoạt động chủ đạo, ảnh hưởng mạnh
đến sự phát triển mọi mặt trong đời sống tâm lý nhân cách của trẻ. Chính vì lẽ đó
các nhà giáo dục sử dụng trò chơi như là phương tiện để giáo dục toàn diện cho
trẻ em. Thực hiện xu hướng đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp đào
tạo giáo viên mầm non hệ Cao đẳng và Đại học của Bộ Giáo dục & Đào tạo, tổ
chức hoạt động vui chơi ở trường mầm non trở thành một học phần cơ bản góp
phần hình thành kỹ năng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên. Xác định tầm quan
tập; làm sao việc được nghe giảng trên lớp phải thực sự trở thành nhu cầu bức
thiết của sinh viên chứ không phải vì sợ điểm danh hay sợ không đủ điều kiện dự
thi mới có mặt trên lớp. Muốn làm được như vậy trước hết nội dung giảng dạy
phải phù hợp với tính đặc thù của đối tượng giảng dạy, phù hợp với mục tiêu
môn học. Giảng viên phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, vừa sâu, vừa
2
rộng về lĩnh vực đó, có phương pháp giảng dạy tốt và nhất thiết phải am hiểu sâu
sắc thực tiễn thì mới có thể gắn lý thuyết với thực tiễn, như vậy bài giảng mới
thuyết phục được người học, gây niềm say mê hứng thú cho người học.
7070+GH+IA;HJK+:F2LAFD.+ 3MH+:F2LA+IA2DF
Trong học tập, không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ đều được hình
thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp
giữa giáo viên – sinh viên, sinh viên – sinh viên, tạo nên mối quan hệ hợp tác
giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh kiến thức. Thông qua thảo luận,
tranh luận trong tập thể ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ,
qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới.
Trong giảng dạy, giảng viên cần tăng cường hoạt động đối thoại, hỏi đáp
giữa giảng viên và sinh viên nhằm khơi dậy tư duy nghiên cứu, tìm tòi và khả
năng tích cực chủ động của sinh viên.
* Biện pháp Suy nghĩ – Từng cặp – Chia sẻ
Biện pháp này được thực hiện bằng cách cho các sinh viên cùng đọc tài liệu
hoặc suy nghĩ về một chủ đề, sau đó các sinh viên ngồi cạnh nhau có thể trao đổi
với nhau về ý kiến và kinh nghiệm của mỗi người trong một khoảng thời gian
nhất định (khoảng vài phút), sau đó chia sẻ với cả lớp. Biện pháp này có ưu điểm
là rất dễ dàng thực hiện, ai cũng có thể tham gia được vào việc chia sẻ ý kiến của
mình, tạo được sự tự tin cho người học dám nói ra những suy nghĩ của mình,
giúp sinh viên tập trung vào chủ đề đang học, biết mình đang học gì và hiểu vấn
đề đến đâu.
* Biện pháp hoạt động nhóm
Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 5 đến 7 người, tùy mục đích,
tình huống giả định. Đóng vai, sinh viên được rèn luyện thực hành những kỹ
năng thao tác tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ trước khi thực hành trong thực
tiễn; gây hứng thú và chú ý cho sinh viên; tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo
của sinh viên, khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của sinh viên theo chuẩn mực
hành vi đạo đức và chính trị - xã hội.
70^0H@.A+DA;HQ.;TZ?;H8A_H.+3H*.+:F2LA`>K29QH.;+H@a
Là quá trình học của sinh viên được trải qua những việc làm mô phỏng thực
tế, có tính thực hành và vận dụng cao như vận dụng những lý luận vào thực tiễn
để xây dựng kế hoạch và tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mầm non, từ đó sinh
viên đúc kết thành những kinh nghiệm cho bản thân, làm sáng tỏ hơn các lý
thuyết đã học.
Khi sinh viên được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người
học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo
4
cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm bắt kiến thức mới, vừa nắm được phương
pháp “làm ra” kiến thức, kỹ năng đó không rập khuôn theo khuôn mẫu sẵn có,
được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo. Đây là học phần mang tính nghiệp
vụ sư phạm do vậy, để hình thành kỹ năng nghiệp vụ cho người học, cần dành
thời gian thỏa đáng cho việc thực hành, thực tập. Trước khi thực hành, thực tập
trên trẻ tại các trường mầm non, người học cần được thực hành với nhau tại
trường sư phạm để có kỹ năng ban đầu về tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ em.
Học tập hiệu quả chỉ xảy ra khi các hoạt động giảng dạy mang đến những
cơ hội cụ thể cho sinh viên thực hành, phản ánh những trải nghiệm của họ và họ
được ứng dụng khái niệm lý thuyết.
2.6. Một môn học có thể áp dụng linh hoạt và đa dạng
các hình thức học tập
Mỗi phương pháp giảng dạy đều nhấn mạnh lên một khía cạnh nào đó của
quá trình học tập, cho dù các phương pháp thể hiện hiệu quả như thế nào thì nó
vẫn tồn tại một vài khía cạnh mà người học và người dạy chưa khai thác hết.
Chính vì thế mà không có một phương pháp giảng dạy nào được cho là lý tưởng,