HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT NHÓM CƠ CLO
1. Tổng quan về HCBVTV cơ Clo
Hóa chất bảo vệ thực (HCBVTV) đã đem lại nhiều lợi ích cho kinh tế xã hội:
kích thích sinh trưởng, nâng cao năng suất cây trồng, diệt côn trùng có hại, diệt
muỗi chống sốt rét,… Theo thống kê, trong những năm 1986-1990, lượng
HCBVTV được sử dụng ở Việt Nam lên đến 13-15 nghìn tấn, phổ biến nhất là các
HCBVTV cơ Clo. Đồng thời, HCBVTV cũng là các loại chất gây ô nhiễm môi
trường, tác động xấu đến hệ sinh thái, đặc biệt là gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới
sức khỏe con người và động vật như gây rối loạn nội tiết dẫn đến nhiều căn bệnh
nan y, gây ra các bệnh về di truyền, ung thư, đột biến, quái thai,… chúng cũng
đang ảnh hưởng đến chất lượng các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi
trồng thủy hải sản.
Nhóm chất thải HCBVTV cơ Clo khó phân hủy là một trong những chất thải
nguy hiểm nhất do thời gian phân hủy rất chậm, rất ít tan trong nước nên liên kết
trong phần hữu cơ của đất hay tích lũy trong lipit sinh vật và gây nên sự khuếch đại
sinh học theo dây chuyền thứa ăn (chuỗi thức ăn). Trên thế giới cấm sử dụng loại
thuốc này từ những năm 70, ở Việt Nam lệnh cấm từ tháng 6/1994, nhưng đến nay
các hợp chất này vẫn tồn lưu trong môi trường.
Khái niệm: HCBVTV là những hợp chất hữu cơ được sử dụng nhằm mục đích
bảo vệ vật nuôi, cây trồng. Trong phân tử của các hợp chất này đều có chứa
nguyên tử Clo và các vòng benzene hay dị vòng.
Tính chất vật lý của chúng là : thuốc kỹ nghệ đều ở dạng rắn, không tan hoặc ít
tan trong nước, tan nhiều trong dung môi hữu cơ, và thường có mùi hôi khó chịu.
Hiện nay có khoảng 50.000 hóa chất khác nhau, chúng được phân thành thuốc
trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc diệt nấm mốc và một số loại khác như thuốc diệt loài
gậm nhấm, diệt côn trùng gây hại, …
HCBVTV cơ Clo chủ yếu là dẫn xuất Clo của hydrocarbon đa nhân,
xicloparafin, tecpen,… Đặc tính của HCBVTV cơ Clo là phân giải rất chậm sau
khi được phun hay rải vào môi trường. Sản phẩm chuyên hóa của chúng thường ít
độc hơn chất ban đầu (trừ các nhóm cyclodiene như dieldrin). Chúng hòa tan tốt
trong các axit béo, không tan trong nước, một số bị phân hủy ở nhiệt độ cao. Phần
- HexachlorocyClohexane (HCH) – Lidan
3
- Cyclodiene và các thành phần liên quan bao gồm aldrin, isodrin, dieldrin,
endrin, telodrin, heptachlor, isobenzam, chlordane và endosulfan.
- Toxaphene là một hợp chất hóa học gồm nhiều thành phần không xác định
- Chlordecone có cơ chế phân hùy chậm và dễ tích tụ trong cơ thể.
2.2. Cấu trúc và tính chất của một số nhóm HCBVTV cơ Clo tiêu biểu
- Nhóm DDT (bảng 1)
Khi đề cập đến DDT người ta thường quan tâm đến p,p’-DDT, nó là thành phần
chính của thuốc trừ sâu đưa vào môi trường. Các thành phần khác trong DDT kỹ
thuật gồm o,p’-DDT; p,p’-DDD; p,p’ DDE và o,p’-DDE.
DDT bị khử clo trong điều kiện yếm khí tạo thành DDD, đây cũng là một chất
diệt côn trùng. DDT bị khử clo và hyđro trong điều kiện hiếu khí lại chuyển thành
DDE. Về tính độc thì DDT > DDE > DDD nhưng độ bền thì DDE > DDD > DDT,
vì vậy DDE thường có nồng độ cao hơn DDT và DDD trong môi trường. Cả ba
loại hợp chất này có nhiều đồng phân nhưng quan trọng hơn cả là các đồng phân
p,p’
- Nhóm HCH (bảng 2)
Nhóm HCH bao gồm 8 đồng phân, nhưng chỉ có α-HCH, β-HCH, ᵞ-HCH, δ-
HCH là quan trọng về mặt thương mại được quan tâm đến nhiều hơn. Thuốc
BCTV Lindan được sản xuất có chứa trên 98% là ᵞ-HCH, còn lại là α-HCH. HCH
kỹ thuật được sử dụng trong nông nghiẹp là hỗn hợp của nhiều đồng phân gồm 60-
70% α-HCH, 5-12% β-HCH, 10-15% ᵞ-HCH, 3-4% là δ-HCH. Trong tự nhiên, β-
HCH là bền nhất (6 liên kết e) > δ-HCH (5 liên kết e, 1liên kết a) > α-HCH (4 liên
kết e, 2 liên kết a) > ᵞ-HCH (3 liên kết e, 3 liên kết a).
- Nhóm Aldrin, dieldrin và endrin (bảng 3)
Aldrin, dieldrin và endrin cũng là các hợp chất cơ clo khó phân hủy dùng làm
thuốc trừ sâu. Dưới tác dụng của ánh sáng và vi khuẩn, aldrin rất dễ dàng biền đổi
thành dieldrin, vì vậy mà trong môi trường tổn tại chủ yếu là dieldrin có tính độc
cao hơn aldrin.
sinh học. Liều lượng độc được biểu diễn qua g hay mg trên một đơn vị trọng lượng
cơ thể hoặc trên 1 đơn vị bề mặt cơ thể. Trong không khí có thể biểu diễn qua ppm,
mg, g trên m
3
không khí, trong nước là ppm hay ppb.
b. LD
50
(Median Lethal Dose): là liều lượng gây chết 50% động vật thí nghiệm,
đơn vị là mg/kg đối với động vật sống trên cạn.
c. LC
50
(Median Lethal Concentration): Nồng độ gây chết 50% động vật thí
nghiệm, đơn vị là mg/l dung dịch hóa chất, thường dùng để đánh giá độc tính của
chất độc dạng lỏng hòa tan trong nước hay nồng độ hơi hoặc bụi trong môi trường
không khí ô nhiễm có thể gây chết 50% động vật thí nghiệm.
d. Trị số ngưỡng giới hạn TLV (Threshold Limit Value): Là nồng độ của một hóa
chất (tính theo ppm) không tạo ra ảnh hưởng xấu cho sinh vật trong một khoảng
thời gian nào đó. TLV thường áp dụng để khảo sát đối tượng là nông dân, tức là
TLV là nồng độ hóa chất mà nông dân phải chịu đựng trong 8h và trong 5 ngày
liên tiếp.
Tổ chức Y tế thế giới WHO đã dựa vào giá trị LD
50
và LC
50
để phân loại độc tính
của các chất. Giá trị này càng nhỏ thì độc tính càng cao. (Bảng 5).
Nếu ở cuối thí nghiệm không gây chết động vật thí nghiệm mà các nồng độ thí
nghiệm dẫn đến các tác động khác nhau đối với 50% động vật thí nghiệm thì gọi là
7
liều lượng ảnh hưởng 50% ED
Một số loại có thể gây sốt, mặc dù lý do sốt là không rõ ràng. Mà có thể do
ngộ độc trực tiếp các trung tâm kiểm soát nhiệt độ trong não hoặc mất khả năng
của cơ thể nhanh chóng bị mất nhiệt gây ra co giật hoặc do các nguyên nhân khác.
Các triệu chứng khác như nôn mửa, buồn nôn, lú lẫn,…
b. Nhiễm độc mãn tính
* Ảnh hưởng tới sinh sản
Các hợp chất hữu cơ clo có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản ở liều
lượng cao. Theo nghiên cứu trong 3 tuần cho chuột ăn uống bằng chlordane khả
năng sinh sản bị giảm 50% với liệu 22mg/kg/ngày.
Theo một nghiên cứu khác, chuột thí nghiệm có tác dụng phụ khi Dicofol ở các
liều 6.25 và 12.5 mg/kg/ngày
9
Ở liều lượng lên đến 100mg/kg/ngày của các hợp chất clo hữu cơ khác thì lại
không ảnh hưởng xấu đến sinh sản của chuột. Như vậy, chưa chắn chắc rằng các
hợp chất cơ clo sẽ gây ra ảnh hưởng sinh sản ở con người khi tiếp xúc.
* Gây quái thai
Hầu hết các nghiên cứu trên động vật với các hợp chất clo hữu cơ đã chỉ ra
rằng không có tác dụng gây quái thai. Tuy nhiên, hai trong số các hợp chất clo hữu
cơ là hexachlorobenzene (HCB) và dieldrin, đã được chứng minh là gây ra khuyết
tật ở liều cao. Trong một nghiên cứu với chuột với HCB, một số con đã bị khuyết
tật thêm xương suờn và bị hở hàm ếch. Nghiên cứu chế độ ăn uống của dieldrin
chuột có triệu chứng phát triển xương chậm và gia tăng xương sườn. Dựa trên các
kết quả nghiên cứu, cũng chưa chắc nhóm hợp chất này có tác dụng gây quái thai ở
người.
c. Gây đột biến gen
Trong các nghiên cứu của hầu hết các hợp chất hữu cơ clo thường không có
gây đột biến gen. Ngoại lệ là endosulfan là gây đột biến tế bào vi khuẩn và nấm
men.
d. Gây ung thư
Trong ảnh hưởng mãn tính, tiếp xúc ở liều lượng cao thí nghiệm với chuột
trung trong túi chứa trứng. Ở mức độ dư lượng DDT là 2.4mg/kg, thí nghiệm với
cá bơn thì trứng chứa phôi bất thường.
Tác động đến sinh vật khác
Các hợp chất hữu cơ clo chứa độc tính cao không độc với ong. Các hợp chất
như Chlordane và Lindane có độc tính cao trong khi Dicofol và HCB không gây
độc cho ong.
3.4 Chuyển hóa, lan truyền Hóa chất BVTV Cơ Clo trong môi trường
a. Phân hủy trong đất và nước ngầm
Các hợp chất hữu cơ clo không di động trong đất bởi chúng bị ràng buộc
chặt chẽ với hạt đất và không hòa tan trong nước. do đó, các hợp chất này bị các
hạt đất liên kết chống lại sự thẩm thấu vào nước ngầm. Đặc biệt là các hợp chất cơ
clo có khả năng tồn lưu trong môi trường một thời gian dài nhờ các hoạt tính sinh
học và tích lũy trong các hệ thống sống “living systems”
Đáng chú ý nhất trong nhóm này là sự tồn lưu lâu dài của DDT, Dieldrin.
Thời gian trung bình cho các hợp chất này biến mất một nửa trong đất là từ 2-10
năm. Đối với một số hợp chất có thời gian bán phân hủy là 10 năm, trên 12% các
hợp chất còn lại là phân hủy trong 30 năm. Việc suy thóai các hợp chất cùng với
khả năng hòa tan của chúng trong các chất béo dẫn tới tích lũy sinh học trong sinh
vật sống.
b. Phân hủy trong nước
Hầu hết các hợp chất cơ clo không tan trong nước hoặc hòa tan từ từ trong
nước. Methoxychlor đã được phát hiện tại sông Niagara ở New York ở nồng độ rất
11
thấp 0.001 mg/L. Vì vậy, nhiều khả năng là các hợp chất cơ clo sẽ đươc tìm thấy
trong trầm tích.
c. Phá vỡ các thảm thực vật
Các hợp chất hữu cơ clo có thể tích tụ trong trái cây và rau quả. Ví dụ, dư
lượng Chlorobenzilate đã được tìm thấy trong vỏ trái cây. Khi Chlorobenzilate
được phun lên các cây trồng nó gây ra màu nâu của cạnh và trên gân lá.
d. Phân tán trên toàn thế giới
chức Y tế thế giới đã dùng DDT để diệt muỗi và thu được thành công lớn trong
việc ngăn chặn bệnh sốt rét lây lan. Với những thành tích đó DDT đã trở thành vua
của các loại thuốc trừ sâu và năm 1948, ông Muller - người phát minh ra DDT đã
vinh dự nhận giải thưởng Nobel về hoá học.
DDT có tính độc cao, có màu trắng và mùi hôi, thường được dùng để phun trừ
sâu bệnh cho cây trồng. LD
50
=113mg/kg. Là loại hợp chất có khả năng tích lũy
trong các mô mỡ, sữa và đến một mức độ nào đó sẽ gây ra bệnh hiểm nghèo.
Một điều đáng lưu ý là DDT có khả năng phóng đại sinh học theo chuỗi thức
ăn. DDT khi ở trong nước có nồng độ không đáng kể, nhưng khi xâm nhập vào cơ
thể chim, nồng độ của DDT sẽ tăng lên hàng triệu lần khiến chim nếu không bị
chết cũng mất khả năng sinh sản. Kết quả khảo sát phân tích cho thấy rằng, DDT
trong nước có nồng độ 10
-5
ppm, loài tảo sống trong môi trường nước đó và cá ăn
tảo này thì nồng độ DDT trong cá lên tới 2ppm. Chim ăn cá sẽ tích lũy 1 lượng
DDT trong cơ thể tới 7ppm.
Lượng DDT sản xuất nhiều nhất ở Mỹ, trung bình hàng năm ở Mỹ sản xuất
6.10
10
g, trong khi đó tổng lượng DDT trên toàn thế giới sản xuất là 6.10
11
g. Đến
năm 1974 thế giới đã ngừng sản xuất DDT vì những hệ lụy của nó, tuy nhiên hậu
quả của DDT đối với môi trường thì tồn tại rất lâu do tồn dư của chúng.
Ở Việt Nam, đến năm 1995 vẫn còn một số nơi sử dụng DDT trong bảo vệ thực
vật.
4.2. Hiện trạng ô nhiễm do tồn dư hóa chất BVTV, điển hình là DDT ở Việt
Nam
Ethyl parathion, Falisan…
Đánh giá về hiện trạng ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật tại
Nghệ An, đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường cho biết, Nghệ An là địa phương
có số lượng điểm ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu lớn nhất
cả nước, phân bố trên 20 huyện, thành, thị. Trong đó, huyện ít nhất là 1 điểm,
huyện nhiều nhất là 126 điểm. Số điểm xa khu dân cư là 105 điểm; 53 kho trước
đây chứa thuốc bảo vệ thực vật hiện đã tu sửa làm nhà ở, lớp mầm non, trụ sở HTX
và UBND xã…
Kết quả phân tích mẫu đất, mẫu nước ở các địa bàn có các kho chứa thuốc bảo
vệ thực vật cho thấy, hàm lượng các chất bảo vệ thực vật vượt rất nhiều lần so với
quy chuẩn Việt Nam. Rất nhiều kho thuốc đã được tháo dỡ còn bốc mùi khó chịu,
14
nhưng đang được sử dụng làm đất ở, đất sản xuất, hoặc nằm trong khu dân cư. Các
kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu hầu hết được xây dựng từ năm 1980 trở
về trước, khi xây dựng chưa quan tâm đến việc xử lý kết cấu, nền móng để ngăn
ngừa khả năng gây ô nhiễm. Hầu hết các kho không được quan tâm tu sửa, gia cố
hàng năm nên đều đã xuống cấp nghiêm trọng. Hệ thống thoát nước không có nên
khi mưa lớn rửa trôi hóa chất tồn đọng gây ô nhiễm nước ngầm, nước mặt và ô
nhiễm đất diện rộng, gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe và đời sống người dân.
Theo bảng số liệu điều tra về hiện trạng tồn dư thuốc BVTV trên cả nước, một số
nơi hàm lượng DDT trong đất rất cao, gấp hàng nghìn lần tiêu chuẩn cho phép.
Điển hình như tại điểm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật tại công ty cổ phần
vật tư nông nghiệp Hà Giang: Kho được xây dựng từ năm 1970 - 1990; kho nằm
ngay sát khu dân cư đô thị. Hàm lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong các mẫu đất
so với QCVN: Lindan vượt từ 37,4 đến 3458,09 lần; DDT vượt từ 1,3 đến 9057,8
lần so với QCVN.
Điểm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật Gềnh Giềng: Kho được xây dựng từ
năm 1962. Hàm lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong các mẫu đất so với QCVN:
ngoài kho 1 Lindan vượt 26,8 lần; 4,4 DDT vượt 126,5 lần; trong kho 1: Lindan
vượt 1025,9 lần; và 4,4 DDT vượt 1526,8 lần. Ngoài kho 2: Lindan vượt 16,8 lần;
8 Methocychlo 30
Tại Hà Nội, trong bài báo "Đánh giá sơ bộ sự ô nhiễm và xu hướng biến
đổi của DDT trong đất tại Hà Nội" do Thạc sĩ Vũ Đức Toàn thuộc Khoa Môi
trường - Trường Đại học Thủy Lợi có kết quả điều tra phân tích về mức độ tồn lưu
DDT trong đất tại Hà Nội. Kết quả phân tích cho thấy, DDT và các chất chuyển
hoá từ DDT tồn lưu tại Hà Nội ở phạm vi rộng và được phát hiện ở 47 mẫu trên
tổng số 60 mẫu. Tại khu vực nông nghiệp của Hà Nội, DDT tổng được tìm thấy ở
hàm lượng cao. Hàm lượng DDT tổng nằm trong khoảng từ ND đến 171,83 ng/g.
Giá trị trung bình của DDT tổng của các mẫu nông nghiệp (89,86 ± độ lệch chuẩn
của tập mẫu 47,17 ng/g) thấp hơn không nhiều so với giá trị tối đa cho phép của
DDT trong đất theo tiêu chuẩn TCVN 5941 – 1995 (nồng độ DDT < 100 ng/g).
Tuy nhiên, vẫn có một số mẫu có DDT tổng vượt quá ngưỡng trên. Kết quả cho
thấy trong 8 mẫu thuộc khu vực có hoạt động nông nghiệp của huyện Sóc Sơn, Từ
Liêm và Thanh Trì, hàm lượng DDT tổng lần lượt là 161,84; 163,75; 102,25;
106,26; 162,76; 168,27, 164,38 và 171,83 ng/g. DDT từng được sử dụng làm thuốc
16
trừ sâu và diệt muỗi tại Việt Nam với khối lượng lớn trước khi bị cấm vào năm
1994. Do vậy, nguyên nhân chính của tồn dư DDT trong đất là kết quả của việc sử
dụng chất này từ những thập kỷ trước.
Tại các khu vực khác như khu công nghiệp, trung tâm của Hà Nội và các
khu trung tâm của năm huyện ngoại thành, DDT tổng cũng được tìm thấy và nằm
trong khoảng từ ND đến 67,82 ng/g (giá trị trung bình 21,22 ± độ lệch chuẩn của
tập mẫu 22,67 ng/g). Nguyên nhân tồn lưu có thể do việc dùng DDT đã từng được
dùng làm thuốc diệt muỗi trong khu vực dân cư. Hiện tại, thông tin về mật độ DDT
đã sử dụng tại khu vực nghiên cứu chưa công bố trong báo cáo nào. Trong thời
gian từ 1957 đến 1994, đã có 24.024 tấn thương phẩm DDT đã được dùng ở Việt
Nam với mục đích diệt muỗi. Rõ ràng, đây là một nguồn ô nhiễm với khối lượng
lớn và có khả năng đã được sử dụng tại các khu vực trung tâm của Việt Nam như
Hà Nội.
Danh mục các điểm ô nhiễm tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật của tất cả các
phòng chống ô nhiễm và suy thoái môi trường do sản xuất, kinh doanh và sử dụng
thuốc BVTV phải được coi là mục tiêu quan trọng, hàng đầu. Để đảm bảo sử dụng
thuốc BVTV có hiệu quả, cần thực hiện các biện pháp sau:
- Nhà nước cần có chế độ ưu đãi, hỗ trợ cho các chương trình sản xuất và
ứng dụng các sản phẩm hữu cơ, vi sinh vào công tác phòng trừ sinh vật gây hại tài
nguyên thực vật. Chọn lọc các loại thuốc, dạng thuốc BVTV an toàn, phân giải
nhanh trong môi trường. Nghiên cứu tìm ra giống kháng sâu bệnh.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo
vệ thực vật.
- Về kỹ thuật:
+ Đẩy mạnh việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong trồng trọt. Mở các lớp
tập huấn áp dụng chương trình: ba giảm, ba tăng, 4 đúng trong phun thuốc, IPM
(Integted Pest Managemaent). Tăng cường công tác giáo dục tuyên truyền, phổ
biến những tác hại do ô nhiễm thuốc BVTV gây ra trong sản xuất cho bà con nông
dân để góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường.
+ Khuyến cáo nông dân sử dụng các thuốc sinh học không gây ô nhiễm môi
trường, ít ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng.
18
+ Nâng cao hiểu biết của người nông dân trong việc sử dụng thuốc BVTV
an toàn và có hiệu quả từ đó giảm lượng thuốc BVTV sử dụng. Chú trọng việc thu
gom và xử lý bao bì thuốc BVTV sau sử dụng.
+ Xây dựng và phát triển các vùng chuyên canh sản xuất các sản phẩm nông
nghiệp sạch không dùng phân bón hoá học và thuốc BVTV nhằm nâng cao chất
lượng nông sản phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu.
+ Nên sử dụng thuốc khi thực sự cần thiết: Cần thường xuyên kiểm tra tình
hình dịch hại trên đồng ruộng để quyết định có cần dùng thuốc hay không. Không
nên phun thuốc định kỳ nhiều lần mà không dựa vào tình hình dịch hại. Điều này
gây nên sự lãng phí và cũng là một trong những nguyên nhân gây hiện tượng
kháng thuốc của dịch hại.
+ Gieo trồng các giống cây kháng sâu bệnh, bảo đảm yêu cầu phân bón và
thường làm gãy mạch vòng hoặc gẫy các mối liên kết giữa Clo và Cacbon hoặc
nguyên tố khác trong cấu trúc phân tử của chất hữu cơ và sau đó thay thế nhóm Cl
bằng nhóm Phenyl hoặc nhóm Hydroxyl và giảm độ độc của hoạt chất. Ưu điểm
của biện pháp này là hiệu suất xử lý cao, chi phí cho xử lý thấp, rác thải an toàn
ngoài môi trường. Tuy nhiên, nhược điểm của biện pháp là không thể áp dụng để
xử lý chất ô nhiễm chảy tràn và chất thải rửa có nồng độ đậm đặc. Nếu áp dụng để
xử lý ô nhiễm đất thì lớp đất trực tiếp được tia UV chiếu không dày hơn 5mm. Do
đó, khi cần xử lý nhanh lớp đất bị ô nhiễm tới các tầng sâu hơn 5 mm thì biện pháp
này ít được sử dụng và đặc biệt trong công nghệ xử lý hiện trường.
• Phá huỷ bằng vi sóng Plasma
Biện pháp này được tiến hành trong thiết bị cấu tạo đặc biệt. Chất hữu cơ
được dẫn qua ống phản ứng ở đây là Detector Plasma sinh ra sóng phát xạ electron
cực ngắn (vi sóng). Sóng phát xạ electron tác dụng vào các phân tử hữu cơ tạo ra
nhóm gốc tự do và sau đó dẫn tới các phản ứng tạo SO2, CO2, HPO32-, Cl2, Br2,
… ( sản phẩm tạo ra phụ thuộc vào bản chất HCBVTV).
Ví dụ: Malathion bị phá huỷ như sau:
Plasma + C10H19OPS2 15O2 + 10CO2 + 9H2O + HPO3
20
Kết quả thực nghiệm theo biện pháp trên một số loại HCBVTV đã phá huỷ
đến 99% (với tốc độ từ 1,8 đến 3 kg/h).
Ưu điểm của biện pháp này là hiệu suất xử lý cao, thiết bị gọn nhẹ. Khí thải
khi xử lý an toàn cho môi trường. Tuy nhiên, nhược điểm của biện pháp này là chỉ
sử dụng hiệu quả trong pha lỏng và pha khí, chi phí cho xử lý cao, phải đầu tư lớn.
• Biện pháp ozon hoá/UV
Ozon hoá kết hợp với chiếu tia cực tím là biện pháp phân huỷ các chất thải
hữu cơ trong dung dịch hoặc trong dung môi. Kỹ thuật này thường được áp dụng
để xử lý ô nhiễm thuốc trừ sâu ở Mỹ. Phản ứng hoá học để phân huỷ hợp chất là:
Thuốc trừ sâu, diệt cỏ + O3 CO2 + H2O + các nguyên tố khác
Ưu điểm của biện pháp này là sử dụng thiết bị gọn nhẹ, chi phí vận hành
thấp, chất thải ra môi trường sau khi xử lý là loại ít độc, thời gian phân huỷ rất
dụng nhóm vi sinh vật có sẵn môi trường đất, các sinh vật có khả năng phá huỷ sự
phức tạp trongb cấu trúc hoá học và hoạt tính sinh học của HCBVTV. Nhiều
nghiên cứu cho thấy rằng trong môi trường đất quần thể vi sinh vật trong môi
trường đất luôn luôn có khả năng thích nghi đối với sự thay đổi điều kiện sống. Ở
trong đất, HCBVTV bị phân huỷ thành các hợp chất vô cơ nhờ các phản ứng ôxy
hoá, thuỷ phân, khử oxy xảy ra ở mọi tầng đất và tác động quang hoá xảy ra ở tầng
đất mặt. Tập đoàn vi sinh vật đất rất phong phú và phức tạp. Chúng có thể phân
huỷ HCBVTV và dùng thuốc như là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng, cung cấp
cacbon, nitơ và năng lượng để chúng xây dựng cơ thể. Qúa trình phân huỷ của vi
sinh vật có thể gồm một hay nhiều giai đoạn, để lại các sản phẩm trung gian và
cuối cùng dẫn tới sự khoáng hóa hoàn toàn sẩn phẩm thành CO2, H2O và một số
chất khác. Một số loài thuốc thường chỉ bị một số loài vi sinh vật phân huỷ. Nhưng
có một số loài vi sinh vật có thể phân huỷ được nhiều HCBVTV trong cùng một
nhóm hoặc ở các nhóm thuốc khá xa nhau.
Các nghiên cứu cho thấy trong đất tồn tại rất nhiều nhóm vi sinh vật có khả
năng phân huỷ các hợp chất phôt pho hữu cơ, ví dụ như nhóm Bacillus mycoides,
B.subtilis, Proteus vulgaris,…, đó là những vi sinh vật thuộc nhóm hoại sinh trong
đất. Rất nhiều vi sinh vật có khả năng phân huỷ 2,4-D, trong đó có Achrombacter,
Alcaligenes, Corynebacterrium, Flavobaterium, Pseudomonas,… Yadav J. S và
22
cộng sự đã phát hiện nấm Phanerochaete Chrysosporium có khả năng phân huỷ
2,4- D và rất nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng có cấu trúc khác như Clorinated
phenol, PCBs, Dioxin, Monoaromatic và Polyaromatic hydrocacbon, Nitromatic.
Năm 1974, Type and Finn đã báo khả năng thích nghi và sử dụng thuốc bảo vệ
thực vật như nguồn dinh dưỡng cacbon của một số chủng Pseudomonas sp. khi
chúng phát triển trên môi trường có chứa 2,4 -Dichlorophenoxy acetic axit và 2,4-
dichphenol. Năm 1976, Franci và cộng sự đã nghiên cứu về khả năng chuyển hoá
DDT Analogues của chủng Pseudomonas sp. Năm1977, Doughton và Hsieh khi
nghiên cứu sự phân huỷ parathion như một nguồn dinh dưỡng thì quá trình phân
huỷ diễn ra nhanh hơn.
5. Quyết định 1946/QĐ-TTg về tồn lưu HCBVTV của Thủ tướng Chính phủ ban
hành ngày 21 tháng 10 năm 2010.
6. Báo cáo “Đánh giá sự tồn dư và tích lũy của các hợp chất ô nhiễm cơ clo khó
phân hủy tại các vùng cửa sông và đầm phá Thừa Thiên Huế, miền Trung Việt
Nam”, TT Hỗ trợ Nghiên cứu Châu Á – ĐHQG Hà Nội.
24