Xác định hóa chất bảo vệ thực vật carbamat trong một số loại rau quả bằng phương pháp sắc ký lỏng khối phổ (LC-MS) - Pdf 19

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
Chương 1. TỔNG QUAN...............................................................................2
1.1 Giới thiệu về hóa chất bảo vệ thực vật.............................................................................3
1.1.1 Định nghĩa.................................................................................................................3
1.1.2. Phân loại [9].............................................................................................................3
1.1.3. Tác hại của hóa chất bảo vệ thực vật [9].................................................................4
1.1.4. Tình hình tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật trong rau quả........................................5
1.1.5. Tình hình ngộ độc hóa chất bảo vệ thực vật............................................................6
1.2. Giới thiệu về hóa chất bảo vệ thực vật nhóm carbamat.................................................7
1.2.1. Giới thiệu chung.......................................................................................................7
1.2.2. Carbofuran [13]........................................................................................................8
1.2.3. Carbaryl [20].............................................................................................................8
1.2.4. Fenobucarb [21]........................................................................................................9
1.2.5. Propoxur [22]..........................................................................................................10
1.2.6. Giới hạn cho phép .................................................................................................10
1.3. Các phương pháp xác định ...........................................................................................11
1.3.1. Phương pháp cực phổ.............................................................................................11
1.3.2. Phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử..............................................................12
1.3.3. Phương pháp phân tích dòng chảy (flow injection analysis – FIA)......................13
1.3.4. Phương pháp điện di mao quản..............................................................................14
1.3.5. Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao................................................................15
1.3.6. Phương pháp sắc ký khí.........................................................................................16
1.3.7. Phương pháp sắc ký lỏng khối phổ........................................................................17
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..............19
2.1. Đối tượng, mục tiêu và nội dung nghiên cứu ..............................................................19
2.1.1. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu.........................................................................19
2.1.2. Nội dung nghiên cứu..............................................................................................19
2.1.2.1 Xây dựng phương pháp....................................................................................20
2.1.2.2. Ứng dụng phương pháp..................................................................................20

3.3.4. Độ lặp lại và độ thu hồi của phương pháp.............................................................51
3.4. Phân tích mẫu thực tế....................................................................................................53
Chương 4. KẾT LUẬN.................................................................................59
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................60
PHỤ LỤC.......................................................................................................65
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỞ ĐẦU
Theo dự báo của Uỷ ban Dân số và Phát triển của Liên hợp quốc, vào giữa thế
kỉ XXI dân số thế giới sẽ tăng thêm 03 tỉ người. Dân số ngày càng tăng nhanh đã tạo
ra gánh nặng cho nền sản xuất nông nghiệp lương thực, vì cùng với một diện tích
canh tác nhất định và đang có xu hướng bị thu hẹp lại phải cung cấp đủ số lượng
lương thực cho số đầu người luôn gia tăng. Để tăng năng suất lao động, người ta đã
sử dụng nhiều biện pháp đan xen như: thâm canh tăng vụ, cải tiến giống...; một trong
những biện pháp không thể thiếu là sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. [9]
Thuốc bảo vệ thực vật được coi là một vũ khí có hiệu quả của con người trong
việc phòng chống dịch hại, bảo vệ cây trồng. Bên cạnh ưu điểm là bảo vệ năng suất
cây trồng, thuốc bảo vệ thực vật còn gây ra nhiều tác tác hại khác như làm ô nhiễm
môi trường, gây độc cho người và gia súc, tăng chi phi sản xuất, và nhất là để lại tồn
dư trong nông sản gây ảnh hưởng đến chất lượng nông sản và sức khỏe người tiêu
dùng. Tác động tiêu cực của thuốc bảo vệ thực vật càng trở nên nghiêm trọng khi con
người sử dụng không đúng cách và quá lạm dụng vào thuốc.
Hóa chất bảo vệ thực vật có nhiều nhóm hóa chất khác nhau, trong đó có bốn
nhóm chính là: lân hữu cơ, clo hữu cơ, carbamat và pyrethroid. Nhóm clo hữu cơ đã
bị cấm sử dụng, nhóm pyrethroid vẫn đang được sử dụng nhưng độc tính thấp, ít có
khả năng gây nhiễm độc cho người sử dụng. Còn lại 2 nhóm: lân hữu cơ và carbamat
đang được dùng rộng rãi trong nông nghiệp , có độc tính cao và là nguyên nhân chính
của phần lớn các vụ ngộ độc do ăn rau quả nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở nước ta
hiện nay.
Với những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Xác định hóa chất bảo vệ
thực vật carbamat trong một số loại rau quả bằng phương pháp sắc ký lỏng khối phổ

trùng bằng cách ngăn cản sự tạo thành men Cholinestaza làm cho thần kinh hoạt
động kém, làm yếu cơ, gây choáng váng và chết. Nhóm này bao gồm một số hợp chất
như parathion, malathion, diclovos, clopyrifos…
- Nhóm Carbamat là các dẫn xuất hữu cơ của acid cacbamic, gồm những hoá
chất ít bền vững hơn trong môi trường tự nhiên, song cũng có độc tính cao đối với
người và động vật. Khi sử dụng, chúng tác động trực tiếp vào men Cholinestraza của
hệ thần kinh và có cơ chế gây độc giống như nhóm lân hữu cơ. Đại diện cho nhóm
này như: carbofuran, carbaryl, carbosulfan, isoprocarb, methomyl…
- Nhóm Pyrethroid là những thuốc trừ sâu có nguồn gốc tự nhiên, là hỗn hợp
của các este khác nhau với cấu trúc phức tạp được tách ra từ hoa của những giống
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cúc nào đó. Đại diện của nhóm này gồm cypermethrin, permethrin, fenvalarate,
deltamethrin,…
Ngoài ra, còn có một số nhóm khác như: các chất trừ sâu vô cơ (nhóm asen),
nhóm thuốc trừ sâu sinh học có nguồn gốc từ vi khuẩn, nấm, virus (thuốc trừ nấm, trừ
vi khuẩn…), nhóm các hợp chất vô cơ (hợp chất của đồng, thủy ngân, …).
1.1.3. Tác hại của hóa chất bảo vệ thực vật [9]
Hầu hết hóa chất bảo vệ thực vật đều độc với con người và động vật máu
nóng ở các mức độ khác nhau. Theo đặc tính hóa chất bảo vệ thực vật được chia làm
hai loại: chất độc cấp tính và chất độc mãn tính.
• Chất độc cấp tính: Mức độ gây độc phụ thuộc vào lượng thuốc xâm
nhập vào cơ thể. Ở dưới liều gây chết, chúng không đủ khả năng gây tử
vong, dần dần bị phân giải và bài tiết ra ngoài. Loại này bao gồm các hợp
chất Pyrethroid, những hợp chất Phốt pho hữu cơ, Carbamat, thuốc có nguồn
gốc sinh vật.
• Chất độc mãn tính: Có khả năng tích luỹ lâu dài trong cơ thể vì chúng
rất bền, khó bị phân giải và bài tiết ra ngoài. Thuốc loại này gồm nhiều hợp
chất chứa Clo hữu cơ, chứa Thạch tín (Asen), Chì, Thuỷ ngân; đây là những
loại rất nguy hiểm cho sức khoẻ.

trạng vượt nhiễm thuốc trừ sâu đối với các loại rau củ quả, trái cây nhập khẩu từ
Trung Quốc. Kết quả kiểm tra của Chi cục bảo vệ thực vật TP.HCM cho thấy, có 5
trong tổng số 26 mẫu hàng Trung Quốc được kiểm tra có kết quả lượng thuốc trừ sâu
tồn dư cao, chiếm tỷ lệ đến 19,23%. [3]
Đầu năm 2009, Cục Bảo vệ thực vật đã lấy 25 mẫu rau và năm mẫu quả tại
các tỉnh phía Bắc (TP Hà Nội và tỉnh Vĩnh Phúc) để kiểm định. Kết quả có 11 mẫu
rau có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ở mức độ khác nhau. Ở các tỉnh phía Nam,
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trên 35 mẫu rau và 5 mẫu quả lấy ở TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Tiền Giang, kết
quả trên 50% mẫu có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ở mức độ khác nhau. [11]
Tại TP Hồ Chí Minh, trong sáu tháng đầu năm 2009, qua kiểm nghiệm hơn
2.200 mẫu rau, quả tại ba chợ đầu mối (Bình Điền, Hóc Môn, Thủ Đức), phát hiện 50
mẫu dương tính (tỷ lệ 2,4%), cao hơn so với cùng kỳ năm 2008 là 1,3%. Còn tại Bình
Dương, phân tích gần 310 mẫu rau lấy ở các chợ, vùng sản xuất, bếp ăn tập thể trong
tám tháng đầu năm 2009 có gần 80 mẫu có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. [11]
Trên thế giới, tại Ấn Độ, Cuộc điều tra được Bộ Nông nghiệp Ấn Độ tiến
hành trong một năm từ tháng 11 năm 2007 đến tháng 10 năm 2008 trên toàn đất nước
Ấn Độ. Kết quả là 18% rau và 12% hoa quả nội địa và nhập khẩu của Ấn Độ đều có
dư lượng thuốc trừ sâu, kể cả những loại thuốc trừ sâu bị cấm, trong đó 4% lượng rau
và 2% lượng hoa quả có dư lượng thuốc trừ sâu cao hơn mức cho phép. Khoảng 18%
(664 mẫu) trong tổng số 3.648 mẫu rau như mướp tây, cà chua, bắp cải và súp lơ đều
có dư lượng thuốc trừ sâu. Các loại rau như bắp cải, súp lơ và cà chua có dư lượng
thuốc trừ sâu lớn nhất. Các loại thuốc trừ sâu tìm thấy trong các loại quả chủ yếu là
chlorpyriphos, monocrotophos, profenophos và cypermethrin.[1]
1.1.5. Tình hình ngộ độc hóa chất bảo vệ thực vật
Theo thống kê của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO, trên thế giới, hàng năm có
trên 40.000 người chết vì ngộ độc rau trên tổng số 2 triệu người ngộ độc. Tại Việt
Nam, con số người bị ngộ độc cũng không nhỏ. Từ năm 1993 - 1998, hàng chục ngàn
người bị nhiễm độc do ăn phải rau quả còn dư lượng thuốc trừ sâu. Nặng nhất ở

carbamat càng bền, càng ức chế men cholinesteraza mạnh. Cả lân hữu cơ và carbamat
đều kìm hãm vị trí men tác động, dẫn đến hệ thần kinh không kiểm soát được, làm
mất khả năng phối hợp giữa các cơ quan, giải phóng quá mức hormon, sinh vật mất
nước và chết.
Các thuốc carbamat an toàn với cây, ít độc đối với cá hơn các thuốc lân hữu
cơ; không tồn lưu quá lâu trên nông sản và môi trường sống. Độ độc của thuốc đối
với động vật máu nóng rất khác nhau, tùy thuộc vào loại thuốc.
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Các chất chủ yếu thuộc nhóm bao gồm: carbaryl, methiocarb, pirimicarb,
oxamyl, carbendazim, propoxur, aminocarb, aldicarb…
1.2.2. Carbofuran [13]
Carbofuran là một trong những thuốc trừ sâu nhóm carbamat độc nhất, có tên
là 2,3-dihydro-2,2-dimethyl-7-benzofuranyl methylcarbamate, tên thương mại là
Furadan, Curater.
Carbofuran là một trong những thuốc trừ sâu có độc tính cao đối với con
người. Nó có thể xâm nhập vào cơ thể qua hô hấp, qua miệng và qua da. Triệu chứng
khi bị ngộ độc carbofuran: buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy, giảm tầm nhìn… Ở liều
cao có thể gây tử vong. Chỉ cần uống 1ml carbofuran cũng có thể dẫn tới tử vong.
Theo WHO, mức hấp thụ hàng ngày cho phép (ADI) của carbofuran là
0,01mg/kg trọng lượng cơ thể. Liều gây chết trung bình đối với chuột qua miệng là
LD
50
= 5mg/kg.
1.2.3. Carbaryl [20]
Carbaryl có tên là 1-naphthyl methylcarbamate, tên thương mại là Sevin, là
một loại thuốc trừ sâu nhóm carbamat. Carbayl là tinh thể màu trắng, tan kém trong
nước nhưng tan nhiều trong dung môi phân cực như đimethyl sulfoxide và đimethyl
formaldehyde.
Công thức phân tử: C

được xếp vào loại chất gây ung thư đối với con người. Carbaryl là một chất rắn, có
màu trắng hoặc xám tùy thuộc vào độ tinh khiết của nó, tinh thể không mùi. Carbaryl
là một thuốc trừ sâu có độc tính trung bình. Khi tiếp xúc với carbaryl có thể gây ra
ngộ độc cấp và mãn tính với các triệu chứng như: buồn nôn, chuột rút dạ dày, tiêu
chảy. Các triệu chứng khác ở liều lượng cao bao gồm đổ mồ hôi, làm mờ của tầm
nhìn, và co giật, ảnh hưởng đến phổi, thận và gan.
Mức hấp thụ hàng ngày tối đa cho phép ADI của carbaryl là 0,1mg/kg trọng
lượng cơ thể. Đối với chuột, liều gây chết trung bình qua miệng LD
50
= 250 –
850mg/kg, liều gây chết trung bình qua hô hấp LC
50
= 0,005 – 0,023mg/kg.
1.2.4. Fenobucarb [21]
Fenobucarb có tên là 2-(1-Methylpropyl)phenol methylcarbamate, là một loại
thuốc trừ sâu nhóm carbamat.
Công thức phân tử: C
12
H
17
NO
2
M = 207,3g/mol
t
s
= 32°C
d = 1,035g/cm
3
Fenobucarb tan kém trong nước, tan tốt trong các dung môi Acetone, Benzene,
Toluene, xylene. Fenobucarb được sử dụng làm thuốc trừ sâu trên lúa và bông, rất

tính bằng mg thuốc có trong 1kg nông sản, đất hay nước.
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mức dư lượng tối đa cho phép (MRL) là giới hạn dư lượng của một loại
thuốc, được phép tồn tại về mặt pháp lí hoặc xem như có thể chấp nhận được ở trong
hay trên nông sản, thức ăn gia súc mà không gây hại cho người sử dụng và vật nuôi
khi ăn các nông sản đó.
Bảng 1. Mức dư lượng tối đa cho phép sử dụng thuốc trừ sâu carbamat ở một
số quốc gia. [6]
Quốc gia Đối tượng
Carbofuran
(mg/kg)
Carbayl
(mg/kg)
Propoxur
(mg/kg)
Fenobucarb
(mg/kg)
Nhật Bản Xoài 0,3 3,0 1,0 0,3
Việt Nam
(Quyết định
46/2007/QĐ-
BYT)
Táo, nho, lê 5,0 3,0
Cà chua, cà rôt 0,1 0,05
EU Trái cây 0,1 1 0,05
1.3. Các phương pháp xác định
1.3.1. Phương pháp cực phổ
Trong phương pháp này, người ta phân cực điện cực giọt thủy ngân bằng một
điện áp một chiều biến thiên tuyến tính với thời gian để nghiên cứu các quá trình khử

định đồng thời 3 loại thuốc trừ sâu nhóm carbamat bằng phương pháp quang phổ hấp
thụ phân tử. Phương pháp dựa trên sự tạo mầu của carbamat với thuốc thử p-
aminoacetanlide. Khoảng nồng độ tuân theo định luật Lambert - Beer của carbaryl,
propoxur và carbosulfan tương ứng là 0,04 – 0,36µg/ml, 0,032 – 0,32µg/ml và 0,08 –
0,64µg/ml. Phương pháp đã được áp dụng để phân tích thuốc trừ sâu nhóm carbamat
trên các mẫu rau, đất, thức ăn, nước … với hiệu suất thu hồi khoảng 95%.
Tác giả L. Alvarez-Rodriguez [26] đã xác định thuốc trừ sâu carbamat như
carbaryl, bendiocarb, carbofuran, methiocarb, promecarb và propoxur bằng phương
pháp quang phổ hấp thụ phân tử tại bước sóng 510nm. Các thuốc trừ sâu được thủy
phân trong môi trường kiềm nhẹ tạo thành 1-naphtol hoặc phenolate, sau đó nó sẽ tạo
mầu với diazo trimethylanilin có chứa mixen natri dodecyl sunfat. Giới hạn phát hiện
của phương pháp trong khoảng 0,2 – 2mg/ml.
Phương pháp xác định carbosulfan bằng phương pháp quang phổ hấp thụ phân
tử đã được các tác giả Y.Koteswara Rao, K. Lokanath Swaroop, P.Chiranjeevi, B.
Rangamannar [35] đề cập. Carbosulfan được thủy phân trong môi trường kiềm tạo
thành hợp chất phenolic và tạo cặp với 2, 4-dimethoxy aniline trong môi trường có
chứa chất oxi hóa K
2
Cr
2
O
7
để tạo thành một hợp chất mang màu cyanogen. Chất
cyanogen này được chiết vào chloroform tại pH=3,5 và đo phổ tại bước sóng 430nm.
Khoảng nồng độ tuân theo định luật Lambert - Beer của carbosulfan là 0,1 – 1,0ppm.
Độ thu hồi của phương pháp trên các mẫu nước uống, gạo và lúa mì đều trên 93%.
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tác giả O. Bhargavi và cộng sự [31] đã phát triển một kĩ thuật quang phổ hấp
thụ phân tử đơn giản và nhạy xác định carbofuran trong các mẫu nước và mẫu hạt.

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đây là một phương pháp đơn giản, nhanh và dễ dàng kết hợp với phương pháp sắc
ký lỏng để xác định đồng thời một số carbamat.
Một phương pháp xác định carbaryl bằng kĩ thuật phân tích dòng chảy sử
dụng detector UV – Vis đã được các tác giả Karim D. Khalaf, A. Morales-Rubio và
M. de la Guardia [25] nghiên cứu. Mẫu được chiết với xylen và bơm vào hệ thống
phân tích dòng chảy. Tại đây, carbaryl sẽ phản ứng với naphtholate và dung dịch p-
aminophenol 50pg/ml trong sự có mặt của dung dịch KIO
4
0,004M để tạo thành hợp
chất mang màu iodophenol. Chất này được xác định bằng detector UV – Vis tại
bước sóng 596nm. Hệ thống phân tích dòng chảy gồm 4 kênh: p-aminophenol, IO
4
-
,
H
2
O và NaOH. Phương pháp có giới hạn phát hiện 26,5ng/ml với tần suất bơm mẫu
110 lần/giờ. Độ thu hồi carbaryl trên các nền mẫu khác nhau khá cao từ 95 – 102%.
Một phương pháp phân tích dòng chảy sử dụng detector huỳnh quang để xác
định carbofuran đã được đề cập. Phương pháp dựa trên phản ứng của carbofuran với
KMnO
4
và luminol trong môi trường kiềm nhẹ sẽ tạ thành hợp chất màu. Carbofuran
bị oxi hóa tạo thành anion 3-aminophthalate – dạng kích thích bền và được xác định
bằng detector huỳnh quang. Khoảng tuyến tính của carbofuran từ 0,06 – 0,5µg/ml,
giới hạn phát hiện 0,02µg/ml. Phương pháp đã ứng dụng thành công xác định dư
lượng carbofuran trong mẫu rau diếp.[24]
Phương pháp phân tích dòng chảy có ưu điểm là nhanh, thiết bị phân tích dễ
kiếm và rẻ tiền. Tuy nhiên, phương pháp không thể xác định đồng thời các chất

mao quản khô và hiệu suất thu hồi cao trên 85%. Hai phương pháp đã được ứng dụng
để xác định fenoxycarb trong các mẫu lúa mì.[28]
Phương pháp sắc ký mao quản điện động học mixen đã xác định đồng thời
aldicarb, carbofuran và một số dạng chuyển hóa của nó trong nước bề mặt. Các mẫu
được được làm sạch qua cột chiết pha rắn có chứa 500mg than hoạt tính. Các chất
được tách bằng hệ thống sắc ký mao quản điện động học mixen sử dụng cột mao
quản có đường kính 75µm, chiều dài hiệu dụng của cột 50cm. Các chất được tách
trong môi trường đệm natri borat/acid clohidric (20mM, pH=8) và sử dụng natri
dodecyl sunfat 140mM làm chất hoạt động bề mặt để tạo ra các mixen. Các điều kiện
chạy máy: điện thế tách 23kV, thời gian bơm mẫu 12s, nhiệt độ cột tách 25°C và
detector UV tại bước sóng 210nm. Phương pháp có giới hạn phát hiện từ 2 – 7,4µg/l,
độ thu hồi cao từ 77 – 97% với độ lệch chuẩn tương đối 2 – 7%.[15]
Kĩ thuật điện di mao quản là một kĩ thuật mới được phát triển khoảng hơn 10
năm trở lại đây. Đây là một kĩ thuật có thời gian phân tích nhanh, tốn ít dung môi và
hóa chất. Việc xác định các hóa chất bảo vệ thực vật bằng thiết bị này vẫn đang được
nghiên cứu và chưa có nhiều loại thuốc trừ sâu được xác định bằng phương pháp này.
1.3.5. Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tác giả Elvira Grou và cộng sự [16] đã xác định thuốc bảo vệ thực vật
carbamat trong đất và nước bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao sử dụng
detector UV ở bước sóng 254nm. Các mẫu nước được chiết lỏng lỏng với
diclometan, các mẫu đất được làm sạch bằng cột florisil. Dịch chiết được đem cô
quay đến cạn, hòa cặn bằng 1ml metanol và đem đo. Giới hạn phát hiện của phương
pháp đối với mẫu nước từ 0,005 – 0,01µg/g, đối với mẫu đất từ 0,05 – 0,1µg/g.
Tác giả Feng Tang và cộng sự [17] đã xác định dư lượng thuốc trừ sâu nhóm
carbamat trong sau bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao HPTLC tại 2
bước sóng λ = 243nm và λ = 207nm. Phương pháp có hiệu suất thu hồi từ 70,13 –
103,7% tại nồng độ 1 – 5mg/kg
Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao sử dụng detetor huỳnh quang xác định

pháp sắc ký khí khối phổ. Chương trình chạy khối phổ được chia làm 7 cửa sổ thời
gian lưu và mỗi cửa sổ có từ 10 – 15 mảnh ion con. Giới hạn phát hiện của phương
pháp thấp từ 0,01 – 0,1µg/ml. [27]
Xác định đa dư lượng thuốc trừ sâu trong nước táo bằng phương pháp sắc ký
khí khối phổ. Mẫu nước táo được chiết bằng phương pháp khuếch tán trên nền pha
rắn diatomaceous (tảo cát) và rửa giải bằng dung môi hexan:diclometan = 1:1 tốc độ
5ml/phút. Phương pháp có độ thu hồi 70 – 110% và hệ số biến thiên từ 1,62 – 18,3%
với khoảng nồng độ 0,01 – 0,2mg/kg. [33]
Phương pháp sắc ký khí đã được ứng dụng rộng rãi để xác định các hóa chất
bảo vệ thực vật như các chất clo hữu cơ, lân hữu cơ, pyrethroid và carbamat. Tuy
nhiên phương pháp chỉ phân tích được những chất dễ bay hơi, còn các chất khó bay
hơi thì phải tạo dẫn xuất nên tốn thời gian và hóa chất. Hơn nữa, để phân tích được
đồng thời các chất thì cần thời gian phân tích dài. Do vậy, phương pháp ít được ứng
dụng để phân tích carbamat.
1.3.7. Phương pháp sắc ký lỏng khối phổ
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Gianni Sagratini và cộng sự [19] đã xác định dư lượng thuốc trừ sâu carbamat
và phenylure trong một số loại quả bằng phương pháp vi chiết pha rắn và sắc ký lỏng
khối phổ. Điều kiện chiết mẫu tối ưu ở nhiệt độ 20°C, thời gian hấp phụ mẫu là 90
phút và thể tích mẫu 1ml. Các sợi silica được phủ 3 loại chất hấp phụ: cacbowax
50µm, polydimetylsiloxan/divinylbenzen (PDMS/DVB) 60µm và polyacrylat 85µm.
Giới hạn định lượng của phương pháp từ 0,005 – 0,05µg/ml, tùy thuộc từng chất.
Phương pháp đã được ứng dụng để xác định thuốc trừ sâu trong các mẫu quả.
Xác định đồng thời hóa chất bảo vệ thực vật nhóm carbamat và lân hữu cơ
trong rau quả bằng phương pháp sắc ký lỏng khối phổ. Mẫu được chiết bằng
acetonitril, sau đó được tách bằng cách chiết pha rắn khuếch tán (dispersive – SPE)
với chất hấp phụ là primary secondary amine (amin bậc một hai). Hiệu suất thu hồi
cao, từ 70 – 110% với RSD < 8%. Giới hạn phát hiện thấp 0,5 – 10ng/ml, túy thuộc
từng chất. Phương pháp đã được ứng dụng để xác định thuốc trừ sâu trong rau quả.

2.1. Đối tượng, mục tiêu và nội dung nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
Hiện nay, nhiều người nông dân đã lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật làm cho
dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nhiều mẫu rau vượt giới hạn cho phép hàng
chục lần; nhất là các loại rau ăn lá như cải ngọt, mồng tơi, cải bẹ xanh, cải bắp, cải
thảo, rau muống, dưa leo…Dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong các loại rau quả
quá cao đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người, là
nguyên nhân chính gây ra các vụ ngộ độc thực phẩm. Do đó, đối tượng nghiên cứu là
một số loại rau như rau cải, rau thơm, rau rền, bắp cải, và một số loại quả như cam,
lê, táo, quýt… Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu phương pháp xác định đồng thời các
chất carbamat trong rau quả bằng phương pháp sắc ký lỏng khối-phổ khối phổ
LC/MS/MS.
2.1.2. Nội dung nghiên cứu
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Để đạt được mục tiêu đề ra, cần nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề
sau:
2.1.2.1 Xây dựng phương pháp
 Khảo sát phương pháp bao gồm:
 Điều kiện tách chiết mẫu
 Điều kiện chạy máy
 Thẩm định phương pháp:
 Giới hạn phát hiện LOD, giới hạn định lượng LOQ
 Khoảng tuyến tính
 Độ chụm (độ lặp lại)
 Độ đúng (độ chệch, độ thu hồi)
2.1.2.2. Ứng dụng phương pháp
Áp dụng phương pháp mới xây dựng để xác định tồn dư thuốc bảo vệ thực vật
họ carbamat trong một số loại rau và quả trên địa bàn Hà Nội.
2.2. Phương pháp nghiên cứu

Hình 2.1. Sơ đồ cấu tạo hệ thống HPLC
Sắc ký lỏng hiệu năng cao bao gồm nhiều phương pháp có tính đặc thù riêng,
đó là sắc ký lỏng pha liên kết, sắc ký phân bố lỏng – lỏng và sắc ký trao đổi lỏng –
rắn, sắc ký hấp phụ lỏng – rắn…
2.2.2.2. Pha tĩnh trong HPLC
Trong HPLC, pha tĩnh chính là chất nhồi cột làm nhiệm vụ tách hỗn hợp chất
phân tích. Đó là những chất rắn, xốp và kích thước hạt rất nhỏ, từ 3 – 7mm. Tuỳ theo
bản chất của pha tĩnh, trong phương pháp sắc ký lỏng pha liên kết thường chia làm 2
loại: sắc ký pha thường (NP-HPLC) và sắc ký pha ngược (RP-HPLC)
• Sắc ký pha thường: pha tĩnh có bề mặt là các chất phân cực (đó là các
silica trần hoặc các silica được gắn các nhóm ankyl có ít cacbon mang
các nhóm chức phân cực: -NH
2
, -CN...), pha động là các dung môi hữu
cơ không phân cực như: n-hexan, toluene....Hệ này có thể tách đa dạng
các chất không phân cực hay ít phân cực.
• Sắc ký pha ngược: pha tĩnh thường là các silica đã được ankyl hoá,
không phân cực, loại thông dụng nhất là –C
18
H
37
, còn pha động phân cực:
nước, methanol, axetonitril....Trong rất nhiều trường hợp thì thành phần
chính của pha động lại là nước nên rất kinh tế. Hệ này được sử dụng để
tách các chất có độ phân cực rất đa dạng: từ rất phân cực, ít phân cực tới
không phân cực .
2.2.2.3. Pha động trong HPLC
Pha động trong HPLC đóng góp một phần rất quan trọng trong việc tách các
chất phân tích trong quá trình sắc ký nhất định. Mỗi loại sắc ký đều có pha động rửa
giải riêng cho nó để có được hiệu quả tách tốt nhưng nhìn chung phải đáp ứng được

thuộc bản chất lí hoá của chất phân tích mà lựa chọn detector cho phù hợp.
 Detector quang phổ hấp thụ phân tử UV-VIS: áp dụng cho các chất có
khả năng hấp thụ ánh sáng trong vùng tử ngoại (UV) hoặc vùng khả
kiến (VIS).
 Detector huỳnh quang RF: sử dụng để phát hiện các chất có khả năng
phát huỳnh quang. Đối với những chất không có khả năng như vậy, cần
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status