MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
Chương 1. TỔNG QUAN...............................................................................2
1.1 Giới thiệu về hóa chất bảo vệ thực vật.............................................................................3
1.1.1 Định nghĩa.................................................................................................................3
1.1.2. Phân loại [9].............................................................................................................3
1.1.3. Tác hại của hóa chất bảo vệ thực vật [9].................................................................4
1.1.4. Tình hình tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật trong rau quả........................................5
1.1.5. Tình hình ngộ độc hóa chất bảo vệ thực vật............................................................6
1.2. Giới thiệu về hóa chất bảo vệ thực vật nhóm carbamat.................................................7
1.2.1. Giới thiệu chung.......................................................................................................7
1.2.2. Carbofuran [13]........................................................................................................8
1.2.3. Carbaryl [20]............................................................................................................8
1.2.4. Fenobucarb [21]........................................................................................................9
1.2.5. Propoxur [22]..........................................................................................................10
1.2.6. Giới hạn cho phép .................................................................................................10
1.3. Các phương pháp xác định ...........................................................................................11
1.3.1. Phương pháp cực phổ.............................................................................................11
1.3.2. Phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử..............................................................12
1.3.3. Phương pháp phân tích dòng chảy (flow injection analysis – FIA)......................13
1.3.4. Phương pháp điện di mao quản..............................................................................14
1.3.5. Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao................................................................15
1.3.6. Phương pháp sắc ký khí.........................................................................................16
1.3.7. Phương pháp sắc ký lỏng khối phổ........................................................................17
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..............19
2.1. Đối tượng, mục tiêu và nội dung nghiên cứu ..............................................................19
2.1.1. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu........................................................................19
2.1.2. Nội dung nghiên cứu..............................................................................................19
2.1.2.1 Xây dựng phương pháp....................................................................................20
2.1.2.2. Ứng dụng phương pháp..................................................................................20
2.2. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................................20
Chương 4. KẾT LUẬN.................................................................................60
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................61
PHỤ LỤC.......................................................................................................66
MỞ ĐẦU
Theo dự báo của Uỷ ban Dân số và Phát triển của Liên hợp quốc, vào giữa thế
kỉ XXI dân số thế giới sẽ tăng thêm 03 tỉ người. Dân số ngày càng tăng nhanh đã tạo
ra gánh nặng cho nền sản xuất nông nghiệp lương thực, vì cùng với một diện tích
canh tác nhất định và đang có xu hướng bị thu hẹp lại phải cung cấp đủ số lượng
lương thực cho số đầu người luôn gia tăng. Để tăng năng suất lao động, người ta đã
sử dụng nhiều biện pháp đan xen như: thâm canh tăng vụ, cải tiến giống...; một trong
những biện pháp không thể thiếu là sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. [9]
Thuốc bảo vệ thực vật được coi là một vũ khí có hiệu quả của con người trong
việc phòng chống dịch hại, bảo vệ cây trồng. Bên cạnh ưu điểm là bảo vệ năng suất
cây trồng, thuốc bảo vệ thực vật còn gây ra nhiều tác tác hại khác như làm ô nhiễm
môi trường, gây độc cho người và gia súc, tăng chi phi sản xuất, và nhất là để lại tồn
dư trong nông sản gây ảnh hưởng đến chất lượng nông sản và sức khỏe người tiêu
dùng. Tác động tiêu cực của thuốc bảo vệ thực vật càng trở nên nghiêm trọng khi con
người sử dụng không đúng cách và quá lạm dụng vào thuốc.
Hóa chất bảo vệ thực vật có nhiều nhóm hóa chất khác nhau, trong đó có bốn
nhóm chính là: lân hữu cơ, clo hữu cơ, carbamat và pyrethroid. Nhóm clo hữu cơ đã
bị cấm sử dụng, nhóm pyrethroid vẫn đang được sử dụng nhưng độc tính thấp, ít có
khả năng gây nhiễm độc cho người sử dụng. Còn lại 2 nhóm: lân hữu cơ và carbamat
đang được dùng rộng rãi trong nông nghiệp , có độc tính cao và là nguyên nhân chính
của phần lớn các vụ ngộ độc do ăn rau quả nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở nước ta
hiện nay.
Với những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Xác định hóa chất bảo vệ
thực vật carbamat trong một số loại rau quả bằng phương pháp sắc ký lỏng khối phổ
(LC-MS)”.
Mục tiêu thực hiện đề tài luận văn là:
1
người và động vật. Khi sử dụng, chúng tác động trực tiếp vào men Cholinestraza của
hệ thần kinh và có cơ chế gây độc giống như nhóm lân hữu cơ. Đại diện cho nhóm
này như: carbofuran, carbaryl, carbosulfan, isoprocarb, methomyl…
- Nhóm Pyrethroid là những thuốc trừ sâu có nguồn gốc tự nhiên, là hỗn hợp
của các este khác nhau với cấu trúc phức tạp được tách ra từ hoa của những giống
3
cúc nào đó. Đại diện của nhóm này gồm cypermethrin, permethrin, fenvalarate,
deltamethrin,…
Ngoài ra, còn có một số nhóm khác như: các chất trừ sâu vô cơ (nhóm asen),
nhóm thuốc trừ sâu sinh học có nguồn gốc từ vi khuẩn, nấm, virus (thuốc trừ nấm, trừ
vi khuẩn…), nhóm các hợp chất vô cơ (hợp chất của đồng, thủy ngân, …).
1.1.3. Tác hại của hóa chất bảo vệ thực vật [9]
Hầu hết hóa chất bảo vệ thực vật đều độc với con người và động vật máu
nóng ở các mức độ khác nhau. Theo đặc tính hóa chất bảo vệ thực vật được chia làm
hai loại: chất độc cấp tính và chất độc mãn tính.
•Chất độc cấp tính: Mức độ gây độc phụ thuộc vào lượng thuốc xâm nhập
vào cơ thể. Ở dưới liều gây chết, chúng không đủ khả năng gây tử vong, dần
dần bị phân giải và bài tiết ra ngoài. Loại này bao gồm các hợp chất
Pyrethroid, những hợp chất Phốt pho hữu cơ, Carbamat, thuốc có nguồn gốc
sinh vật.
•Chất độc mãn tính: Có khả năng tích luỹ lâu dài trong cơ thể vì chúng rất
bền, khó bị phân giải và bài tiết ra ngoài. Thuốc loại này gồm nhiều hợp chất
chứa Clo hữu cơ, chứa Thạch tín (Asen), Chì, Thuỷ ngân; đây là những loại
rất nguy hiểm cho sức khoẻ.
Hóa chất bảo vệ thực vật có thể thâm nhập vào cơ thể con người và động vật
qua nhiều con đường khác nhau; thông thường qua 03 đường chính: hô hấp, tiêu hoá
và tiếp xúc trực tiếp. Khi tiếp xúc với hóa chất bảo vệ thực vật, con người có thể bị
nhiễm độc cấp tính hoặc mãn tính, tùy thuộc vào phạm vi ảnh hưởng của thuốc.
Nhiễm độc cấp tính: Là nhiễm độc tức thời khi một lượng đủ lớn hoá chất bảo
vệ thực vật thâm nhập vào cơ thể. Những triệu chứng nhiễm độc tăng tỉ lệ với việc
rau có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ở mức độ khác nhau. Ở các tỉnh phía Nam,
5
trên 35 mẫu rau và 5 mẫu quả lấy ở TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Tiền Giang, kết
quả trên 50% mẫu có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ở mức độ khác nhau. [11]
Tại TP Hồ Chí Minh, trong sáu tháng đầu năm 2009, qua kiểm nghiệm hơn
2.200 mẫu rau, quả tại ba chợ đầu mối (Bình Điền, Hóc Môn, Thủ Đức), phát hiện 50
mẫu dương tính (tỷ lệ 2,4%), cao hơn so với cùng kỳ năm 2008 là 1,3%. Còn tại Bình
Dương, phân tích gần 310 mẫu rau lấy ở các chợ, vùng sản xuất, bếp ăn tập thể trong
tám tháng đầu năm 2009 có gần 80 mẫu có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. [11]
Trên thế giới, tại Ấn Độ, Cuộc điều tra được Bộ Nông nghiệp Ấn Độ tiến
hành trong một năm từ tháng 11 năm 2007 đến tháng 10 năm 2008 trên toàn đất nước
Ấn Độ. Kết quả là 18% rau và 12% hoa quả nội địa và nhập khẩu của Ấn Độ đều có
dư lượng thuốc trừ sâu, kể cả những loại thuốc trừ sâu bị cấm, trong đó 4% lượng rau
và 2% lượng hoa quả có dư lượng thuốc trừ sâu cao hơn mức cho phép. Khoảng 18%
(664 mẫu) trong tổng số 3.648 mẫu rau như mướp tây, cà chua, bắp cải và súp lơ đều
có dư lượng thuốc trừ sâu. Các loại rau như bắp cải, súp lơ và cà chua có dư lượng
thuốc trừ sâu lớn nhất. Các loại thuốc trừ sâu tìm thấy trong các loại quả chủ yếu là
chlorpyriphos, monocrotophos, profenophos và cypermethrin.[1]
1.1.5. Tình hình ngộ độc hóa chất bảo vệ thực vật
Theo thống kê của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO, trên thế giới, hàng năm có
trên 40.000 người chết vì ngộ độc rau trên tổng số 2 triệu người ngộ độc. Tại Việt
Nam, con số người bị ngộ độc cũng không nhỏ. Từ năm 1993 - 1998, hàng chục ngàn
người bị nhiễm độc do ăn phải rau quả còn dư lượng thuốc trừ sâu. Nặng nhất ở
Đồng bằng sông Cửu Long, năm 1995 có 13.000 người nhiễm độc, trong đó có 354
người chết. [8]
Năm 1990, một thống kê quý của Tổ chức y tế thế giới (WHO) cho thấy có
khoảng 25 triệu lao động trong ngành nông nghiệp bị nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực
vật mỗi năm. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có những con số ước tính trên phạm vi
toàn cầu, nhưng hiện có đến 1,3 tỷ lao động trong ngành nông nghiệp và có thể hàng
triệu ca nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật vẫn đang xảy ra hàng năm. [2]
Các chất chủ yếu thuộc nhóm bao gồm: carbaryl, methiocarb, pirimicarb,
oxamyl, carbendazim, propoxur, aminocarb, aldicarb…
1.2.2. Carbofuran [13]
Carbofuran là một trong những thuốc trừ sâu nhóm carbamat độc nhất, có tên
là 2,3-dihydro-2,2-dimethyl-7-benzofuranyl methylcarbamate, tên thương mại là
Furadan, Curater.
Carbofuran là một trong những thuốc trừ sâu có độc tính cao đối với con
người. Nó có thể xâm nhập vào cơ thể qua hô hấp, qua miệng và qua da. Triệu chứng
khi bị ngộ độc carbofuran: buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy, giảm tầm nhìn… Ở liều
cao có thể gây tử vong. Chỉ cần uống 1ml carbofuran cũng có thể dẫn tới tử vong.
Theo WHO, mức hấp thụ hàng ngày cho phép (ADI) của carbofuran là
0,01mg/kg trọng lượng cơ thể. Liều gây chết trung bình đối với chuột qua miệng là
LD
50
= 5mg/kg.
1.2.3. Carbaryl [20]
Carbaryl có tên là 1-naphthyl methylcarbamate, tên thương mại là Sevin, là
một loại thuốc trừ sâu nhóm carbamat. Carbayl là tinh thể màu trắng, tan kém trong
nước nhưng tan nhiều trong dung môi phân cực như đimethyl sulfoxide và đimethyl
formaldehyde.
Công thức phân tử: C
12
H
15
NO
3
.
M = 221,25g/mol.
t
nc
kg, liều gây chết trung bình qua hô hấp LC
50
= 0,005 – 0,023mg/kg.
1.2.4. Fenobucarb [21]
Fenobucarb có tên là 2-(1-Methylpropyl)phenol methylcarbamate, là một loại
thuốc trừ sâu nhóm carbamat.
Công thức phân tử: C
12
H
17
NO
2
M = 207,3g/mol
t
s
= 32°C
d = 1,035g/cm
3
Fenobucarb tan kém trong nước, tan tốt trong các dung môi Acetone, Benzene,
Toluene, xylene. Fenobucarb được sử dụng làm thuốc trừ sâu trên lúa và bông, rất
9
độc hại đối với con người, nó ảnh hưởng đến hệ thần kinh, bộ phận sinh sản, gây ung
thư và ngộ độc cấp tính. Liều gây chết trung bình qua miệng đối với chuột là 410mg/
kg.
1.2.5. Propoxur [22]
Propoxur có tên theo IUPAC là 2-isopropoxyphenyl methylcarbamate, là một
dẫn xuất của carbamat và được sử dụng làm thuốc trừ sâu.
Công thức phân tử: C
11
H
Carbayl
(mg/kg)
Propoxur
(mg/kg)
Fenobucarb
(mg/kg)
Nhật Bản Xoài 0,3 3,0 1,0 0,3
Việt Nam
(Quyết định
46/2007/QĐ-
BYT)
Táo, nho, lê 5,0 3,0
Cà chua, cà rôt 0,1 0,05
EU Trái cây 0,1 1 0,05
1.3. Các phương pháp xác định
1.3.1. Phương pháp cực phổ
Trong phương pháp này, người ta phân cực điện cực giọt thủy ngân bằng một
điện áp một chiều biến thiên tuyến tính với thời gian để nghiên cứu các quá trình khử
cực của chất phân tích trên điện cực đó. Vì vậy, thiết bị cực phổ gồm hai phần chính
là máy cực phổ và hệ điện cực bao gồm điện cực giọt thuỷ ngân và điện cực so sánh.
Đường cực phổ biểu diễn sự phụ thuộc của chiều cao cường độ dòng với nồng độ
chất phân tích. Để xác định các lượng nhỏ chất thường dùng cực phổ cổ điển (10
-3
–
n.10
-5
). Để xác định các lượng chất cực nhỏ thường dùng các phương pháp cực phổ
hiện đại như cực phổ sóng vuông, cực phổ xung vi phân. [5]
A. Guiberteau , T. Galeano Diáz, F. Salinas và J.M. Ortiz [12] đã xác định
carbaryl và carbofuran bằng phương pháp cực phổ xung vi phân. Phương pháp được
tử đã được các tác giả Y.Koteswara Rao, K. Lokanath Swaroop, P.Chiranjeevi, B.
Rangamannar [35] đề cập. Carbosulfan được thủy phân trong môi trường kiềm tạo
thành hợp chất phenolic và tạo cặp với 2, 4-dimethoxy aniline trong môi trường có
chứa chất oxi hóa K
2
Cr
2
O
7
để tạo thành một hợp chất mang màu cyanogen. Chất
cyanogen này được chiết vào chloroform tại pH=3,5 và đo phổ tại bước sóng 430nm.
Khoảng nồng độ tuân theo định luật Lambert - Beer của carbosulfan là 0,1 – 1,0ppm.
Độ thu hồi của phương pháp trên các mẫu nước uống, gạo và lúa mì đều trên 93%.
12
Tác giả O. Bhargavi và cộng sự [31] đã phát triển một kĩ thuật quang phổ hấp
thụ phân tử đơn giản và nhạy xác định carbofuran trong các mẫu nước và mẫu hạt.
Carbofuran được thủy phân trong môi trường kiềm và tương tác với muối diazo 4, 4-
azo-bis-3, 3’, 5, 5’-tetrabromo aniline tạo thành chất mầu đỏ và xác định tại bước
sóng 470nm. Khoảng tuân theo định luật Lambert - Beer của carbofuran là 0,1 –
16,0µg/ml .
Các phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử chỉ phân tích được một loại
carbamat nào đó hoặc phân tích đồng thời một số carbamat. Hơn nữa, phương pháp
có độ nhạy kém. Do đó, hiện nay phương pháp này rất ít được ứng dụng để phân tích
carbamat.
1.3.3. Phương pháp phân tích dòng chảy (flow injection analysis – FIA)
Phân tích dòng chảy là một kĩ thuật phân tích động, trong đó mẫu phân tích ở
dạng lỏng được bơm vào dòng chất mang chuyển động liên tục. Sau đó trong vòng
phản ứng chất phân tích sẽ phản ứng với thuốc thử có trong dòng chất mang, hay
được bơm trực tiếp vào đầu vòng phản ứng, để tạo ra một sản phẩm có thể phát hiện
được theo một tính chất hóa lí nào đó nhờ một loại detector phù hợp. Các tính chất
H
2
O và NaOH. Phương pháp có giới hạn phát hiện 26,5ng/ml với tần suất bơm mẫu
110 lần/giờ. Độ thu hồi carbaryl trên các nền mẫu khác nhau khá cao từ 95 – 102%.
Một phương pháp phân tích dòng chảy sử dụng detector huỳnh quang để xác
định carbofuran đã được đề cập. Phương pháp dựa trên phản ứng của carbofuran với
KMnO
4
và luminol trong môi trường kiềm nhẹ sẽ tạ thành hợp chất màu. Carbofuran
bị oxi hóa tạo thành anion 3-aminophthalate – dạng kích thích bền và được xác định
bằng detector huỳnh quang. Khoảng tuyến tính của carbofuran từ 0,06 – 0,5µg/ml,
giới hạn phát hiện 0,02µg/ml. Phương pháp đã ứng dụng thành công xác định dư
lượng carbofuran trong mẫu rau diếp.[24]
Phương pháp phân tích dòng chảy có ưu điểm là nhanh, thiết bị phân tích dễ
kiếm và rẻ tiền. Tuy nhiên, phương pháp không thể xác định đồng thời các chất
carbamat. Do vậy, phương pháp cũng ít được ứng dụng để phân tích carbamat.
1.3.4. Phương pháp điện di mao quản
Ling Wang và cộng sự [34] đã tách và xác định dư lượng thuốc trừ sâu
carbamat bằng phương pháp điện di mao quản đẳng áp. Cột mao quản có đường kính
75µm được nhồi hạt ODS 3µm. Pha động bao gồm 30% acetonitril và 70% dung dịch
đệm CH
3
COONH
4
5mM (pH=6,5) chứa 1mM SDS và 0,01% trietylamine (TEA).
Tại các điều kiện tối ưu, 10 carbamat đã được tách nhanh trong vòng 20 phút. Các
mẫu rau được làm sạch qua SPE. Phương pháp có giới hạn phát hiện từ 0,05 – 1,6mg/
14
kg và hiệu suất thu hồi từ 51,3 – 109,2% với độ lệch chuẩn RSD < 11,4%. Phương
pháp đã được áp dụng để xác định 10 loại carbamat trong một số loại rau.
1.3.5. Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao
15
Tác giả Elvira Grou và cộng sự [16] đã xác định thuốc bảo vệ thực vật
carbamat trong đất và nước bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao sử dụng
detector UV ở bước sóng 254nm. Các mẫu nước được chiết lỏng lỏng với
diclometan, các mẫu đất được làm sạch bằng cột florisil. Dịch chiết được đem cô
quay đến cạn, hòa cặn bằng 1ml metanol và đem đo. Giới hạn phát hiện của phương
pháp đối với mẫu nước từ 0,005 – 0,01µg/g, đối với mẫu đất từ 0,05 – 0,1µg/g.
Tác giả Feng Tang và cộng sự [17] đã xác định dư lượng thuốc trừ sâu nhóm
carbamat trong sau bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao HPTLC tại 2
bước sóng λ = 243nm và λ = 207nm. Phương pháp có hiệu suất thu hồi từ 70,13 –
103,7% tại nồng độ 1 – 5mg/kg
Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao sử dụng detetor huỳnh quang xác định
đồng thời các chất carbamat như aldicarb, propoxur, carbofuran, carbaryl và
methiocarb trong mật. Mẫu được chiết bằng methanol và cho qua cột florisil để làm
sạch. Sử dụng dung môi diclometan:hexan = 1:1 rửa giải các chất carbamat ra khỏi
cột. Dịch rửa giải đem cô quay ở 40°C đến cạn và hòa cặn bằng 1ml acetonitril. Các
chất carbamat được tách và xác định đồng thời bằng hệ thống sắc ký lỏng với
detector huỳnh quang ghép nối với tiền cột. Phương pháp có giới hạn phát hiện thấp
từ 4 – 5ng/g và độ thu hồi tương đối cao từ 72,02 – 92,02% ứng với nồng độ từ 50 –
200ng/g.[18]
Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao là một phương pháp thông dụng để
xác định các hợp chất hữu cơ. Phương pháp này đã được ứng dụng để xác định đồng
thời các chất carbamat. Tuy nhiên, phương pháp có độ nhạy kém khi sử dụng
detector UV, còn khi sử dụng detector huỳnh quang, phương pháp có độ nhạy tốt hơn
nhưng chỉ có thể nhận biết chất phân tích thông qua thời gian lưu. Đối với những nền
mẫu phức tạp, các chất phân tích rất dễ bị ảnh hưởng bởi nền mẫu, nếu chỉ dựa vào
thời gian lưu sẽ rất khó để có thể khẳng định chất cần phân tích.
1.3.6. Phương pháp sắc ký khí
16
khối phổ. Điều kiện chiết mẫu tối ưu ở nhiệt độ 20°C, thời gian hấp phụ mẫu là 90
phút và thể tích mẫu 1ml. Các sợi silica được phủ 3 loại chất hấp phụ: cacbowax
50µm, polydimetylsiloxan/divinylbenzen (PDMS/DVB) 60µm và polyacrylat 85µm.
Giới hạn định lượng của phương pháp từ 0,005 – 0,05µg/ml, tùy thuộc từng chất.
Phương pháp đã được ứng dụng để xác định thuốc trừ sâu trong các mẫu quả.
Xác định đồng thời hóa chất bảo vệ thực vật nhóm carbamat và lân hữu cơ
trong rau quả bằng phương pháp sắc ký lỏng khối phổ. Mẫu được chiết bằng
acetonitril, sau đó được tách bằng cách chiết pha rắn khuếch tán (dispersive – SPE)
với chất hấp phụ là primary secondary amine (amin bậc một hai). Hiệu suất thu hồi
cao, từ 70 – 110% với RSD < 8%. Giới hạn phát hiện thấp 0,5 – 10ng/ml, túy thuộc
từng chất. Phương pháp đã được ứng dụng để xác định thuốc trừ sâu trong rau quả.
Trong 25 mẫu rau quả được lấy từ các chợ, gần 70% mẫu chứa một hoặc vài loại
thuốc trừ sâu, trên 30% mẫu còn lại chứa nhiều loại thuốc trừ sâu. Tuy nhiên, tất cả
các nồng độ thuốc trừ sâu tìm thấy đếu thấp hơn giới hạn cho phép.[29]
Xác định dư lượng carbamat trong rau quả bằng phương pháp khuếch tán trên
nền pha rắn và sắc ký lỏng khối phổ. Mẫu được chiết trên nền các pha rắn khác nhau:
C
8
, C
18
, NH
2
, CN và phenyl. Hiệu suất chiết tốt nhất trên nền pha rắn C
8
đạt từ 64 –
106% với RSD 5 – 15%. Giới hạn phát hiện của phương pháp từ 0,001 – 0,01mg/kg,
thấp hơn giới hạn cho phép của châu Âu từ 10 – 100 lần. Phương pháp được ứng
dụng để xác định carbamat trong các mẫu rau quả tại các chợ ở Valencian.[30]
Phương pháp sắc ký lỏng khối phổ là một kĩ thuật mới được phát triển trong
những năm gần đây. Về cơ bản, nó là phương pháp sắc ký lỏng sử dụng bộ phận phát
Thẩm định phương pháp:
Giới hạn phát hiện LOD, giới hạn định lượng LOQ
Khoảng tuyến tính
Độ chụm (độ lặp lại)
Độ đúng (độ chệch, độ thu hồi)
2.1.2.2. Ứng dụng phương pháp
Áp dụng phương pháp mới xây dựng để xác định tồn dư thuốc bảo vệ thực vật
họ carbamat trong một số loại rau và quả trên địa bàn Hà Nội.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp tách chiết mẫu
Đối tượng mẫu phân tích trong luận văn này là các loại rau củ, có nền mẫu
phức tạp. Do đó cần có phương pháp tách chiết mẫu thích hợp để giảm ảnh hưởng
của nền mẫu, tránh làm bẩn detector, tăng khả năng phát hiện.
Trong bản luận văn này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp chiết lỏng lỏng để
tách chiết và làm giàu mẫu. Thông thường, phương pháp này sử dụng hai pha lỏng
không trộn lẫn. Tuy nhiên, chúng tôi sử dụng một loại hạt nhồi là kieselguhr như chất
mang trong sắc ký phân bố lỏng – lỏng.
Kieselguhr hay còn gọi là diatomaecous earth (đất diatomit) hay Celite, có
màu trắng ngà, có khoảng pH làm việc rộng từ 1 – 13. Nó được sử dụng để chiết lỏng
20
– lỏng các mẫu thực phẩm mà không cần dùng đến phễu chiết. Mẫu sau khi chiết
bằng dung môi phân cực ở dạng lỏng được đưa qua cột đã nhồi hạt kieselguhr và
được giữ lại ở trên cột. Sau đó chất phân tích được rửa giải bằng dung môi không
phân cực.
Sử dụng cột nhồi hạt kieselguhr có ưu điểm hơn so với chiết lỏng – lỏng thông
thường như thời gian chiết nhanh hơn, không cần phải mất thời gian để tách lớp,
lượng dung môi sử dụng rửa giải ít hơn nhiều, có độ thu hồi và độ lặp lại cao.
2.2.2. Phương pháp sắc ký lỏng khối phổ
2.2.2.1. Nguyên tắc chung về phương pháp HPLC
Sắc ký lỏng là quá trình tách xảy ra trên cột tách với pha tĩnh là chất rắn và
chính của pha động lại là nước nên rất kinh tế. Hệ này được sử dụng để
tách các chất có độ phân cực rất đa dạng: từ rất phân cực, ít phân cực tới
không phân cực .
2.2.2.3. Pha động trong HPLC
Pha động trong HPLC đóng góp một phần rất quan trọng trong việc tách các
chất phân tích trong quá trình sắc ký nhất định. Mỗi loại sắc ký đều có pha động rửa
giải riêng cho nó để có được hiệu quả tách tốt nhưng nhìn chung phải đáp ứng được
các điều kiện sau:
• Pha động phải trơ với pha tĩnh.
• Pha động phải hòa tan tốt mẫu phân tích, phải bền vững và không bị phân
22
hủy trong quá trình chạy sắc ký.
• Pha động phải có độ tinh khiết cao.
• Pha động phải nhanh đạt được các cân bằng trong quá trình sắc ký, như
cân bằng hấp phụ, phân bố, trao đổi ion tuỳ theo bản chất của từng loại
sắc ký.
• Phải phù hợp với loại detector dùng để phát hiện các chất phân tích.
• Pha động phải không quá đắt.
Có thể chia pha động làm hai loại:
Pha động có độ phân cực cao: có thành phần chủ yếu là nước, tuy
nhiên để phân tích các chất hữu cơ, cần thêm các dung môi khác để
giảm độ phân cực như MeOH, ACN. Pha động loại này được dùng
trong sắc ký pha liên kết ngược.
Pha động có độ phân cực thấp: bao gồm các dung môi ít phân cực như
xyclopentan, n-pentan, n-heptan, n-hexan, 2-chloropropan,
cacbondisulfua (CS
2
), chlorobutan, CCl
4
, toluene....Tuy nhiên pha động