“Xác định hóa chất bảo vệ thực vật carbamat trong một số loại rau quả bằng phương pháp sắc ký lỏng khối phổ (LC-MS) - Pdf 26


MỤC

LỤCMỞ

ĐẦU

1

Chƣơng

1.

TỔNG

QUAN

3

1.1 Giới thiệu về hóa chất bảo vệ thực vật 3
1.1.1 Định nghĩa 3
1.1.2. Phân loại [9] 3
1.1.3. Tác hại của hóa chất bảo vệ thực vật [9] 4
1.1.4. Tình hình tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật trong rau quả 5
1.1.5. Tình hình ngộ độc hóa chất bảo vệ thực vật 6
1.2. Giới thiệu về hóa chất bảo vệ thực vật nhóm carbamat 7
1.2.1. Giới thiệu chung 7
1.2.2. Carbofuran [13] 8

20

2.1. Đối tượng, mục tiêu và nội dung nghiên cứu 20
2.1.1. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 20
2.1.2. Nội dung nghiên cứu 20
2.1.2.1 Xây dựng phương pháp 20
2.1.2.2. Ứng dụng phương pháp 21
2.2. Phương pháp nghiên cứu 21
2.2.1. Phương pháp tách chiết mẫu 21
2.2.2. Phương pháp sắc ký lỏng khối phổ 21
2.2.2.1. Nguyên tắc chung về phương pháp HPLC 21
2.2.2.2. Pha tĩnh trong HPLC 22
2.2.2.3. Pha động trong HPLC 23
2.2.2.4. Detector trong HPLC 24
2.2.2.5 Detector khối phổ (Mass Spectrometry) 24
2.3. Phương tiện nghiên cứu 29
2.3.1. Thiết bị, dụng cụ 29
2.3.1.1. Thiết bị 29
2.3.1.2. Dụng cụ 29
2.3.3. Dung môi, hóa chất 30
Chƣơng

3.

KẾT

QUẢ




LUẬN

60

TÀI

LIỆU

THAM

KHẢO

61

PHỤ

LỤC

66

MỞ

ĐẦUTheo dự báo của U ỷ ban Dân số và Phát triển của Liên hợp quốc, vào giữa
thế kỉ XXI dân số thế giới sẽ tăng thêm 03 tỉ người. Dân số ngày càng tăng nhanh


cung

cấp

đủ

số
lượng

lương

thực

cho

số

đầu

người

luôn

gia

tăng.

Để



thâm

canh

tăng

vụ,

cải

tiến
giống ; một trong những biện pháp không thể thiếu là sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật. [9]

Thuốc

bảo

vệ

thực

vật

được

coi



bảo

vệ

cây

trồng.

Bên

cạnh

ưu

điểm



bảo

vệ
năng suất cây trồng, thuốc bảo vệ thực vật còn gây ra nhiều tác tác hại khác như làm
ô nhiễm môi trường, gây độc cho người và gia súc, tăng chi phi sản xuất, và nhất là
để lại tồn dư trong nông sản gây ảnh hưởng đến chất lượng nông sản và sức khỏe
người tiêu dùng. Tác động tiêu cực của thuốc bảo vệ thực vật càng trở nên nghiêm
trọng khi con người sử dụng không đúng cách và quá lạm dụng vào thuốc.

Hóa chất bảo vệ thực vật có nhiều nhóm hóa chất khác nhau, trong đó có bốn
nhóm chính là: lân hữu cơ, clo hữu cơ, carbamat và pyrethroid. Nhóm clo hữu cơ đã
bị cấm sử dụng, nhóm pyrethroid vẫn đang được sử dụng nhưng độc tính thấp, ít có




carbamat đang được dùng rộng rãi trong nông nghiệp , có độc tính cao và là nguyên
nhân chính của phần lớn các vụ ngộ độc do ăn rau quả nhiễm hóa chất bảo vệ thực
vật ở nước ta hiện nay.

Với những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Xác định hóa chất bảo
vệ thực vật carbamat trong một số loại rau quả bằng phương pháp sắc ký lỏng khối
phổ (LC-MS)”.

1
Mục tiêu thực hiện đề tài luận văn là:

1.

Xây dựng phương pháp xác định dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật
carbamat trong rau quả, bao gồm:




thực

vật
carbamate để khảo sát một số mẫu rau quả trên địa bàn Hà Nội.

1.1

Giới

thiệu

về

hóa

chất

bảo

vệ

thực

vật1.1.1

Định

nghĩaHóa chất bảo vệ thực vật là những hợp chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng


gồm

nhiều

loại,

chủ

yếu

gồm

4

nhóm
chính:

-

Nhóm

Clo

hữu



(organnochlorine)


bằng

cách

ngăn

cản

sự

tạo

thành

men

Cholinestaza

làm

cho

thần

kinh
hoạt động kém, làm yếu cơ, gây choáng váng và chết. Nhóm này bao gồm một số
hợp chất như parathion, malathion, diclovos, clopyrifos…

- Nhóm Carbamat là các dẫn xuất hữu cơ của acid cacbamic, gồm những hoá
chất ít bền vững hơn trong môi trường tự nhiên, song cũng có độc tính cao đối với

3
- Nhóm Pyrethroid là những thuốc trừ sâu có nguồn gốc tự nhiên, là hỗn hợp
của các este khác nhau với cấu trúc phức tạp được tách ra từ hoa của những giống
cúc

nào

đó.

Đại

diện

của

nhóm

này

gồm

cypermethrin,

permethrin,


Hầu

hết

hóa

chất

bảo

vệ

thực

vật

đều

độc

với

con

người



động


không

đủ

khả

năng

gây

tử
vong, dần dần bị phân giải và bài tiết ra ngoài. Loại này bao gồm các hợp
chất

Pyrethroid,

những

hợp

chất

Phốt

pho

hữu

cơ,


Thuỷ

ngân;

đây


những loại rất nguy hiểm cho sức khoẻ.

Hóa chất bảo vệ thực vật có thể thâm nhập vào cơ thể con người và động vật
qua

nhiều

con

đường

khác

nhau;

thông

thường

qua

03


thuộc

vào

phạm

vi

ảnh

hưởng

của
thuốc.

Nhiễm độc cấp tính: Là nhiễm độc tức thời khi một lượng đủ lớn hoá chất
bảo vệ thực vật thâm nhập vào cơ thể. Những triệu chứng nhiễm độc tăng tỉ lệ với 4
việc

tiếp


hiện
bệnh lý của nhiễm độc cấp tính: mệt mỏi, ngứa da, đau đầu, lợm giọng, buồn nôn,
hoa mắt chóng mặt, khô họng, mất ngủ, tăng tiết nước bọt, yếu cơ, chảy nước mắt,
sảy thai, nếu nặng có thể gây tử vong.

Nhiễm độc mãn tính: Là nhiễm độc gây ra do tích luỹ dần dần trong cơ thể.
Thông thường, không có triệu chứng nào xuất hiện ngay trong mỗi lần nhiễm. Sau
một thời

gian dài,

một

lượng chất độc lớn

tích tụ

trong



thể

sẽ

gây

ra các


rau

quảTheo báo cáo của Cục Bảo vệ thực vật, có 23% số hộ nông dân vi ph ạm quy
định về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, dẫn đến tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật trên
nông sản. Một s ố loại thuốc trừ sâu độc hại đã bị cấm sử dụng nhưng hiện vẫn có
nhiều người tìm cách đưa về nông thôn. Số mẫu rau, quả tươi có dư lượng hóa chất
bảo vệ thực vật chiếm từ 30-60%, trong đó số mẫu rau, quả có dư lượng hóa chất
bảo vệ thực vật vượt quá giới hạn cho phép chiếm từ 4-16%, một số hóa chất bảo vệ
thực vật bị cấm sử dụng như Methamidophos vẫn còn dư lượng trong rau. [7]

Trong năm 2006, Chi cục bảo vệ thực vật TP Hồ Chí Minh đã kiểm tra 790
mẫu của 52 đơn vị kinh doanh rau an toàn trên địa bàn thành ph ố,

phát hiện 26 mẫu
có dư lượng thuốc trừ sâu, chiếm tỷ lệ 3,29%.

Nấm rơm Trà Vinh, cần tây, cải thìa,
xà lách xong, bồ ngót, bông c ải xanh (súp lơ), rau dền, cần là những loại rau ăn lá
có tỷ lệ dư lượng thuốc trừ sâu cao (3,94%). Đặc biệt là tình trạng vượt nhiễm thuốc
trừ sâu đối với các loại rau củ quả, trái cây nhập khẩu từ Trung Quốc. Kết quả kiểm
tra của Chi cục bảo vệ thực vật TP.HCM cho thấy, có 5 trong tổng số 26 mẫu hàng
Trung Quốc được kiểm tra có kết quả lượng thuốc trừ sâu tồn dư cao, chiếm tỷ lệ
đến 19,23%. [3]



điều

tra

được

Bộ

Nông

nghiệp

Ấn

Độ

tiến
hành

trong

một

năm

từ

tháng



Tình

hình

ngộ

độc

hóa

chất

bảo

vệ

thực

vậtTheo thống kê của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO, trên thế giới, hàng năm


trên

40.000

người

Nam,

con

số

người

bị

ngộ

độc

cũng

không

nhỏ.

Từ

năm

1993

-

1998,



nghiệp

bị

nhiễm

độc hóa

chất

bảo

vệ
thực vật mỗi năm. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có những con số ước tính trên
phạm vi toàn cầu, nhưng hiện có đến 1,3 tỷ lao động trong ngành nông nghiệp và có
thể hàng triệu ca nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật vẫn đang xảy ra hàng năm. [2]

Năm 2000, Bộ y tế Braxin ước tính trong một năm nước này có 300.000 ca
nhiễm độc và 5.000 ca tử vong do hóa chất bảo vệ thực vật. Trong một nghiên cứu
ở Inđônêxia, 21% trong số các ca liên quan đến hóa chất bảo vệ thực vật có những
dấu hiệu hay triệu chứng về tâm thần, hô hấp và tiêu hoá. Trong một cuộc khảo sát
của Liên hợp quốc, 88% nông dân Campuchia sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật đã
từng có triệu chứng nhiễm độc. [2]

1.2.

Giới

thiệu


trừ

sâu

carbamat



các

dẫn

xuất

của

acid

cacbamic



tính

độc

trừ
sâu. Các thuốc carbamat thường không có tính độc vạn năng như thuốc lân hữu cơ.
Nhiều


tác
dụng trừ nhện hoặc chỉ có tác dụng trừ một số thuộc nhóm này mà không trừ được
nhóm sâu khác. Một số thuốc trong nhóm còn có cả tác dụng trừ tuyến trùng.

Về cơ chế tác động của thuốc trừ sâu carbamat tương tự như các thuốc trừ
sâu

lân

hữu

cơ.

Các

thuốc

carbamat

kìm

hãm

men

cholinesteraza

bằng



men.

Các

chất

carbamat

càng

bền,

càng

ức

chế

men

cholinesteraza

mạnh.

Cả
lân

hữu


kinh

7
không kiểm soát được, làm mất khả năng phối hợp giữa các cơ quan, giải phóng quá
mức hormon, sinh vật mất nước và chết.

Các thuốc carbamat an toàn với cây, ít độc đối với cá hơn các thuốc lân hữu
cơ; không tồn lưu quá lâu trên nông sản và môi trường sống. Độ độc của thuốc đối
với động vật máu nóng rất khác nhau, tùy thuộc vào loại thuốc.

Các

chất

chủ

yếu

thuộc

nhóm

bao


Furadan, Curater.
Công thức phân tử:

C12H15NO3.

M = 221,25g/mol.

t
nc
=

151

C.d = 1,18g/cm
3
. Carbofuran



một



xâm

nhập

vào



thể

qua



hấp,

qua

miệng



qua

da.

Triệu
chứng khi bị ngộ độc carbofuran: buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy, giảm tầm nhìn…
Ở liều cao có thể gây tử vong. Chỉ cần uống 1ml carbofuran cũng có th ể dẫn tới tử

8
1.2.3.

Carbaryl

[20]Carbaryl có tên là 1-naphthyl methylcarbamate, tên thương mại là Sevin, là
một loại thuốc trừ sâu nhóm carbamat. Carbayl là tinh thể màu trắng, tan kém trong
nước nhưng tan nhiều trong dung môi phân cực như đimethyl sulfoxide và đimethyl
formaldehyde. Công thức phân tử C12H11NO2.

M = 201,2g/mol.

t
s
=


khiết

của

nó,

tinh

thể

không

mùi.
Carbaryl là một thuốc trừ sâu có độc tính trung bình. Khi tiếp xúc với carbaryl có
thể gây ra ngộ độc c ấp và mãn tính với các triệu chứng như: buồn nôn, chuột rút dạ
dày, tiêu chảy. Các triệu chứng khác ở liều lượng cao bao gồm đổ mồ hôi, làm mờ
của tầm nhìn, và co giật, ảnh hưởng đến phổi, thận và gan.

Mức hấp thụ hàng ngày tối đa cho phép ADI của carbaryl là 0,1mg/kg trọng
lượng



thể.

Đối

với

Fenobucarb



tên



2-(1-Methylpropyl)phenol

methylcarbamate,



một
loại thuốc trừ sâu nhóm carbamat.

9


nước,

tan

tốt

trong

các

dung

môi

Acetone,
Benzene, Toluene, xylene. Fenobucarb được sử dụng làm thuốc trừ sâu trên lúa và
bông, rất độc hại đối với con người, nó ảnh hưởng đến hệ thần kinh, bộ phận sinh
sản, gây ung thư và ngộ độc cấp tính. Liều gây chết trung bình qua miệng đối với
chuột là 410mg/kg.

1.2.5.

Propoxur

[22]Propoxur

cóPropoxur có độc tính cao đối với ruồi, muỗi, gián và bọ chét. Nó là chất có
độc tính cao với con người, nó có thể xâm nhập vào cơ thể qua hô hấp, qua đường
miệng và qua da. Triệu chứng ngộ độc propoxur: buồn nôn, đau bụng, ra mồ hôi,
tăng huyết áp, mắt mờ, mệt mỏi, khó th ở. Propoxur nhiễm độc mãn tính đối với con
người gây ung thư, ảnh hưởng đến cơ quan sinh sản và hệ thần kinh trung ương.

10
số

quốc

gia.

[6]

Đối với chuột, liều gây chết trung bình qua miệng là 90 – 128mg/kg, qua da
là 800 – 1000mg/kg. Theo WHO, mức hấp thụ hàng ngày tối đa cho phép ADI của


các

sản

phẩm

chuyển

hóa



các
thành phần khác có trong thuốc, tồn tại trên cây trồng, nông sản, đất, nước sau một
thời gian dưới tác động của hệ sống và điều kiện ngoại cảnh. Dư lượng của thuốc
được tính bằng mg thuốc có trong 1kg nông sản, đất hay nước.

Mức



lượng

tối

đa

cho



mặt

pháp



hoặc

xem

như



thể

chấp

nhận

được


trong hay trên nông sản, thức ăn gia súc mà không gây hại cho người sử dụng và vật
nuôi khi ăn các nông sản đó.

Bảng 1.
Mức



1.3.

Các

phƣơng

pháp

xác

định

Propoxur

(mg/kg)
Fenobucarb

(mg/kg)
Nhật Bản
Xoài
0,3
3,0
1,0
0,3
Việt Nam

(Quyết định
46/2007/QĐ-
BYT)

Táo, nho, lê 5,0

3,0 Cà chua, cà rôt

0,1


cực

giọt

thủy

ngân

bằng
một

điện

áp

một

chiều

biến

thiên

tuyến

tính

với

thời


định

các

mẫu

nước

sông.

Các

mẫu

nước

sau

khi

xử



sẽ

được

xác

độ

quét
20mV/s (bước nhảy thế: 5mV, khoảng thời gian 0,25s), biên độ xung 50mV trong
khoảng từ + 0,4V đến + 0,8V. Khoảng tuyến tính của carbaryl từ 5.10
-7
10
-4
M và
của carbofuran từ 5.10
-7
– 5.10
-5
M với độ lệch chuẩn tương đối tương ứng là 1,62 và
1,86%.

1.3.2.

Phƣơng

phá p

qua ng

phổ

hấp

thụ


phân

tích

thuốc

trừ

sâu

nhóm
carbamat trên các mẫu rau, đất, thức ăn, nước … với hiệu suất thu hồi khoảng 95%.

Tác giả L. Alvarez-Rodriguez [26] đã xác định thuốc trừ sâu carbamat như
carbaryl, bendiocarb, carbofuran, methiocarb, promecarb và propoxur bằng phương
pháp quang phổ hấp thụ phân tử tại bước sóng 510nm. Các thuốc trừ sâu được thủy
phân trong môi trường kiềm nhẹ tạo thành 1-naphtol hoặc phenolate, sau đó nó sẽ

12
tạo mầu với diazo trimethylanilin có chứa mixen natri dodecyl sunfat. Giới hạn phát
hiện của phương pháp trong khoảng 0,2 – 2mg/ml.

Phương



tác

giả

Y.Koteswara

Rao,

K.

Lokanath

Swaroop,
P.Chiranjeevi,

B.

Rangamannar

[35]

đề

cập.

Carbosulfan

được


một

hợp

chất

mang
màu cyanogen. Chất cyanogen này được chiết vào chloroform tại pH=3,5 và đo phổ
tại

bước

sóng

430nm.

Khoảng

nồng

độ

tuân

theo

định

luật


một



thuật

quang

phổ
hấp thụ phân tử đơn giản và nhạy xác định carbofuran trong các mẫu nước và mẫu
hạt. Carbofuran được thủy ph ân trong môi trường kiềm và tương tác với mu ối diazo
4,

4-azo-bis-3,

3’,

5,

5’-tetrabromo

aniline

tạo

thành

chất

mầu


chỉ

phân

tích

được

một

loại
carbamat nào đó hoặc phân tích đồng thời một số carbamat. Hơn nữa, phương pháp
có độ nhạy kém. Do đó, hiện nay phương pháp này rất ít được ứng dụng để phân
tích carbamat.

1.3.3.

Phƣơng

phá p

phâ n

tích

dòn g

chảy


phân

tích

dòng

chảy.

Đối

với

mẫu

nước,

lọc

qua

màng

lọc

0,45µm

rồi

tiến



qua
các loại cột chiết pha rắn như nhôm oxit, SAX, C18, silica. Hiệu suất chiết tốt nhất
khi sử dụng cột nhôm oxit. Carbayl chỉ phát huỳnh quang khi có của chất oxi hóa
KMnO4 trong

môi

trường

kiềm

nhẹ.

Hệ

thống

phân

tích

dòng

chảy

để

xác


chảy

sử
dụng detector UV – Vis đã được các tác giả Karim D. Khalaf, A. Morales-Rubio và
M. de la Guardia [25] nghiên cứu. Mẫu được chiết với xylen và bơm vào hệ thống
phân tích dòng chảy. Tại đây, carbaryl sẽ phản ứng với naphtholate và dung dịch p-
aminophenol 50pg/ml trong sự có mặt c ủa dung dịch KIO4 0,004M để tạo thành hợp
chất

mang

màu

iodophenol.

Chất

này

được

xác

định

bằng

detector

UV


phản

ứng

của

carbofuran
với

KMnO4



luminol

trong

môi

trường

kiềm

nhẹ

sẽ

tạ


của

carbofuran

từ

14
0,06



0,5µg/ml,

giới

hạn

phát

hiện


phương

pháp

không

thể

xác

định

đồng

thời

các

chất
carbamat. Do vậy, phương pháp cũng ít được ứng dụng để phân tích carbamat.

1.3.4.

Phƣơng

phá p

điện

di

lượng

thuốc

trừ

sâu
carbamat

bằng

phương

pháp

điện

di

mao

quản

đẳng

áp.

Cột

mao

acetonitril



70%
dung

dịch

đệm CH3COONH4

5mM

(pH=6,5)

chứa

1mM

SDS



0,01%
trietylamine (TEA). Tại các điều kiện tối ưu, 10 carbamat đã được tách nhanh trong
vòng 20 phút. Các mẫu rau được làm sạch qua SPE. Phương pháp có giới hạn phát
hiện từ 0,05 – 1,6mg/kg

và hiệu suất thu hồi từ 51,3 – 109,2% với độ lệch chuẩn
RSD < 11,4%. Phương pháp đã được áp dụng để xác định 10 loại carbamat trong


HPLC

sử

dụng

detector

UV

tại

bước

sóng


=

199nm,

cột

C18



pha


di

sử

dụng

mao

quản
đường kính 50µm x 48,5cm x 48cm chiều dài hiệu dụng, thế giữa hai đầu là 30kV,
dung

dịch

đêm

CH3COONH4

20mM

(pH=9)

trong

95%

MeOH.

Cả


borat/acid

clohidric

(20mM,

pH=8)



sử

dụng

natri
dodecyl

sunfat

140mM

làm

chất

hoạt

động

bề

thời

gian

bơm

mẫu

12s,

nhiệt

độ

cột

tách

25

C



detector

UV

tại



chất.

Việc

xác

định

các

hóa

chất

bảo

vệ

thực

vật

bằng

thiết

bị

này

Elvira

Grou



cộng

sự

[16]

đã

xác

định

thuốc

bảo

vệ

thực

vật
carbamat trong đất và nước bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao sử dụng
detector


carbamat trong sau bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao HPTLC tại 2
bước

sóng


=

243nm




=

207nm.

Phương

pháp



hiệu

suất

thu

hồi


huỳnh

quang

xác
định

đồng

thời

các

chất

carbamat

như

aldicarb,

propoxur,

carbofuran,

carbaryl


methiocarb trong mật. Mẫu được chiết bằng methanol và cho qua cột florisil để làm


bằng

1ml

acetonitril.

Các

16
chất

carbamat

được

tách



xác

định


chất

hữu

cơ.

Phương

pháp

này

đã

được

ứng

dụng

để

xác

định
đồng thời các chất carbamat. Tuy nhiên, phương pháp có độ nhạy kém khi sử dụng
detector UV, còn khi sử dụng detector huỳnh quang, phương pháp có độ nhạy tốt
hơn

nhưng

những nền mẫu phức tạp, các chất phân tích rất dễ bị ảnh hưởng bởi nền mẫu, nếu
chỉ dựa vào thời gian lưu sẽ rất khó để có thể khẳng định chất cần phân tích.

1.3.6.

Phƣơng

phá p

sắc



khíXác

định

ethylcarbamat

trong

đồ

uống

bằng


MS.

Giới

hạn

phát

hiện

của

phương
pháp thấp, khoảng 5µg/kg đối với detector ECD và 0,5µg/kg đối với detector MS.
[14]

Xác định thuốc trừ sâu carbamat và nhóm nito hữu cơ trong thực phẩm bằng
phương pháp sắc ký khí khối phổ. Phương pháp đã xác định đồng thời 29 loại thuốc
trừ

sâu

trong

một

số

thực



bằng

3

loại

cột

chiết

pha

rắn

khác

nhau:

cột
diatomaceous, c ột diatomit kết hợp với cột C18, cột florisil. Hiệu suất chiết các mẫu
thực phẩm bằng 3 loại cột đều trên 80%. Sau đó, mẫu được xác định bằng phương
pháp sắc ký khí khối phổ. Chương trình chạy khối phổ được chia làm 7 cửa sổ thời
gian lưu và mỗi cửa sổ có từ 10 – 15 mảnh ion con. Giới hạn phát hiện của phương
pháp thấp từ 0,01 – 0,1µg/ml. [27]

17

số

biến

thiên

từ

1,62


18,3% với khoảng nồng độ 0,01 – 0,2mg/kg. [33]

Phương pháp sắc ký khí đã được ứng dụng rộng rãi để xác định các hóa chất
bảo vệ thực vật như các chất clo hữu cơ, lân hữu cơ, pyrethroid và carbamat. Tuy
nhiên phương pháp chỉ phân tích được những chất dễ bay hơi, còn các chất khó bay
hơi thì phải tạo dẫn xu ất nên tốn thời gian và hóa chất. Hơn nữa, để phân tích được
đồng thời các chất thì cần thời gian phân tích dài. Do vậy, phương pháp ít được ứng
dụng để phân tích carbamat.

1.3.7.

Phƣơng

phá p

sắc





trừ

sâu
carbamat và phenylure trong một số loại quả bằng phương pháp vi chiết pha rắn và
sắc



lỏng

khối

phổ.

Điều

kiện

chiết

mẫu

tối

ưu



nhiệt

từng

chất.

Phương

pháp

đã

được

ứng

dụng

để

xác

định

thuốc

trừ

sâu

trong
các mẫu quả.

bằng
acetonitril, sau đó được tách bằng cách chiết pha rắn khuếch tán (dispersive – SPE)
với chất hấp phụ là primary secondary amine (amin bậc một hai). Hiệu suất thu hồi
cao,

từ

70



110%

với

RSD

<

8%.

Giới

hạn

phát

hiện

thấp


carbamat

trong

rau

quả

bằng

phương

pháp

khuếch

tán
trên nền pha rắn và sắc ký lỏng khối phổ. Mẫu được chiết trên nền các pha rắn khác
nhau: C8, C18, NH2, CN và phenyl. Hiệu suất chiết tốt nhất trên nền pha rắn C8 đạt từ
64



106%

với

RSD


dụng

để

xác

định

carbamat

trong

các

mẫu

rau

quả

tại

các

chợ


Valencian.[30]

Phương pháp sắc ký lỏng khối phổ là một kĩ thuật mới được phát triển trong

phương

pháp

sắc



lỏng

khối
phổ để nghiên cứu xác định đồng thời các chất carbamat.

Đối

tƣợng,

mục

tiêu



nội

dung

nghiên

cứu2.1.1.

Đối

tƣợng



mục

tiêu


2.1.2.1

Xây

dựng

phƣơng

phá p

Khảo sát phương pháp bao gồm:



Điều kiện tách chiết mẫu



Điều kiện chạy máy



Thẩm định phương pháp:





Áp dụng phương pháp mới xây dựng để xác định tồn dư thuốc bảo vệ thực
vật họ carbamat trong một số loại rau và quả trên địa bàn Hà Nội.

2.2.

Phƣơng

pháp

nghiên

cứu2.2.1.

Phƣơng

phá p

tách

chiết

mẫuĐối tượng mẫu phân tích trong luận văn này là các loại rau củ, có nền mẫu
phức tạp. Do đó cần có phương pháp tách chiết mẫu thích hợp để giảm ảnh hưởng


pha
lỏng không trộn lẫn. Tuy nhiên, chúng tôi sử dụng một loại hạt nhồi là kieselguhr
như chất mang trong sắc ký phân bố lỏng – lỏng.

Kieselguhr

hay

còn

gọi



diatomaecous

earth

(đất

diatomit)

hay

Celite,


màu trắng ngà, có khoảng pH làm việc rộng từ 1 – 13. Nó được sử dụng để chiết
lỏng – lỏng các mẫu thực phẩm mà không cần dùng đến phễu chiết. Mẫu sau khi


bằng

dung

môi
không phân cực.

Sử

dụng

cột

nhồi

hạt

kieselguhr



ưu

điểm

hơn

so



Nguyên

tắc

chung

về

phƣơng

pháp

HPLCSắc ký lỏng là quá trình tách xảy ra trên cột tách với pha tĩnh là chất rắn và
pha động là chất lỏng (sắc ký lỏng - rắn). Mẫu phân tích được chuyển lên cột tách
dưới dạng dung dịch. Khi tiến hành chạy sắc ký, các chất phân tích được phân bố
liên tục giữa pha động và pha tĩnh. Trong hỗn hợp các chất phân tích, do cấu trúc
21
phân

tử


của
chúng

với

pha

tĩnh



pha

động

khác

nhau.

Do

vậy,

chúng

di

chuyển




đồ

cấu

tạo

hệ

thống

HPLCSắc ký lỏng hiệu năng cao bao g ồm nhiều phương pháp có tính đặc thù riêng,
đó là sắc ký lỏng pha liên kết, sắc ký phân bố lỏng – lỏng và sắc ký trao đổi lỏng –
rắn, sắc ký hấp phụ lỏng – rắn…

2.2.2.2.

Ph a

tĩnh

trong

HPLC

ngược:

pha

tĩnh

thường



các

silica

đã

được

ankyl

hoá,
không

phân

cực,

loại




nước

nên

rất

kinh

tế.

Hệ

này

được

sử
dụng

để

tách

các

chất



trong

HPLCPha động trong HPLC đóng góp một phần rất quan trọng trong vi ệc tách các
chất phân tích trong quá trình sắc ký nhất định. Mỗi loại sắc ký đều có pha động rửa
giải riêng cho nó để có được hiệu quả tách tốt nhưng nhìn chung phải đáp ứng được
các điều kiện sau:


Pha

động

phải

trơ

với

pha

tĩnh.



Pha

động

Pha

động

phải



độ

tinh

khiết

cao.



Pha

động

phải

nhanh

đạt

được


không

quá

đắt.

Có thể chia pha động làm hai loại:



Pha

động



độ

phân

cực

cao:



thành

phần


này

được

dùng
trong sắc ký pha liên kết ngược.
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status