Khoá luận tốt nghiệp Lịch sử Một số đặc trưng văn hóa nổi bật của làng Lý Hòa - Pdf 26

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy cô giáo trong khoa Khoa học – Xã hội trường
Đại học Quảng Bình đã tận tình giảng dạy, quan tâm và tạo điều kiện cho tôi
trong 4 năm học vừa qua.
Đặc biệt xinh bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo – Thạc sỹ Lê Trọng Đại
đã tận tình, giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm khóa luận.
Xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo xã Hải Trạch, các vị cao tuổi trong làng
đã nhiệt tình hướng dẫn khi tôi về tìm hiểu tại địa phương.
Tuy nhiên do hạn chế về thời gian cũng như khả năng của bản thân nên khóa
luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự góp ý của quý thầy cô và
bạn bè.
Xinh chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Hồ Thị Hương
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và
kết quả nghiên cứu nêu trong bài khóa luận là trung thực và có sử dụng tư liệu
của một số công trình nghiên cứu trước đây theo quy định hiện hành.
Tác giả khóa luận
Hồ Thị Hương
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nhân dân ta có truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất. Cùng
với những truyền thống văn hóa và ý thức vươn lên mạnh mẽ nhân dân ta đã xây
dựng và phát triển một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Văn hóa đã và đang
trở thành nền tảng quan trọng tạo nên nguồn sức mạnh to lớn giúp dân tộc Việt
Nam chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, khắc phục khó khăn, thử thách trong đấu
tranh dựng nước và giữ nước. Đóng góp cho những chiến công huy hoàng đó có

hóa làng.
Quảng Bình xưa vốn là vùng đất biên viễn về phía Nam của Đại Việt, nơi
chứa đựng biết bao những biến động lịch sử của dân tộc. Cư dân nơi đây đã
chứng kiến những cuộc tranh chấp của hai quốc gia Đại Việt và Chăm Pa, những
cuộc di dân của người Việt tiến về Phương Nam. Đó là cuộc chiến tranh Trịnh -
Nguyễn với dòng sông Gianh lịch sử được chọn làm ranh giới chia cắt đất nước
thành Đằng Trong và Đằng Ngoài. Đến thời đại Hồ Chí Minh, Quảng Bình trở
thành tuyến lửa, vùng đất anh hùng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp và đế quốc Mỹ. Bên cạnh đó Quảng Bình là vùng đất giao thoa giữa các
nền văn hóa Đại Việt và Chăm Pa, Đằng Trong và Đằng Ngoài. Điều này đã tạo
cho Quảng Bình có nhiều nét văn hóa riêng biệt và độc đáo.
Trong dòng người tiến về Phương Nam để tìm vùng đất mới ở thế kỉ XVI-
XVII, có những cư dân vùng Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh đã dừng lại bên dòng sông
Lý Hòa hiền hòa như chính cái tên của nó để định cư và lập nghiệp. Đó chính là
những tiền hiền của làng Lý Hòa, xã Hải Trạch. Cư dân nơi đây được coi là “dân
bền nghĩa” dưới các triều đại phong kiến, làng là những “pháo đài thép” trong
hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Cùng với bề dày lịch sử Lý Hòa
đã tạo nên những nét văn hóa đặc trưng mang hơi thở của con người gắn với biển
cả mênh mông.
Làng Lý Hòa một trong những làng quê được hình thành từ lâu đời và nằm
trong thế “thiên hòa địa lợi” mà ngày xưa các vị hiền nhân đã chọn lấy để làm
nơi sinh cư lập nghiệp và để lại cho hậu thế một di sản quý giá.
Vì vậy việc nghiên cứu, khôi phục một cách có hệ thống những đặc trưng
văn hóa của làng Lý Hòa không chỉ là việc làm cần thiết mà còn có ý nghĩa rất to
2
lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển nông thôn hiện nay. Việc nghiên cứu
này giúp tác giả hiểu biết sâu sắc hơn về cội nguồn bản sắc văn hóa địa phương,
làm hành trang trong nghề nghiệp để tiếp tục học tập, nghiên cứu giảng dạy lịch
sử sau này và hơn hết nó còn là một nghĩa cử để bày tỏ lòng biết ơn, niềm tự hào
của thế hệ con cháu làng Lý Hòa đối với quê hương mình. Mặt khác nghiên cứu

cùng với sự tìm hiểu của bản thân, chúng tôi tập hợp, lựa chọn, phân tích, hệ
thống hóa lại nhằm làm rõ một số đặc trưng văn hóa nổi bật của làng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu khóa luận
Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi nhằm giới thiệu về những đặc trưng văn hóa
nổi bật của làng, đặc biệt khóa luận tập trung làm rõ những truyền thống quý báu,
văn hóa tốt đẹp, và đóng góp của làng trong hai cuộc kháng chiến thần thánh
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Kết quả của đề tài sẽ là nguồn tư liệu nhỏ
giúp học sinh, sinh viên hiểu biết sâu sắc hơn về lịch sử một làng quê, về văn hóa
vật chất và tinh thần của cộng đồng cư dân sinh tồn trên vùng đất Lý Hòa.
Thực hiện khóa luận còn là một nghĩa cử thể hiện lòng yêu mến và biết ơn
của chính tác giả đối với quê hương mình.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên chúng tôi đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu lịch sử văn hóa làng xã Việt Nam nói chung và Quảng Bình
nói riêng.
- Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của làng Lý Hòa.
- Nghiên cứu văn hóa làng Lý Hòa.
- Đặc biệt khóa luận tập trung nghiên cứu, phân tích, hệ thống những đặc
trưng văn hóa nổi bật của làng Lý Hòa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ những đặc trưng văn hóa của cư
dân làng Lý Hòa trong lịch sử.
Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: khóa luận tập trung nghiên cứu lịch sử văn hóa của cư dân
trong phạm vi làng Lý Hòa (nay thuộc xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh
4
Quảng Bình), có mở rộng đến các làng xung quanh và đặt trong không gian văn
hóa Quảng Bình.

1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lí
Dọc theo quốc lộ 1A, dưới chân núi Lệ Đệ có đèo Lý Hòa, đứng trên đèo ta
cảm nhận được cái nhộn nhịp sầm uất của một vùng sông núi cửa bể. Nhìn về
phía Đông theo hạ nguồn sông Lý Hòa ở bờ Bắc hiện ra một ngôi làng, nhà cửa
có mái đỏ đứng san sát, trong ra sông với ghe thuyền cắm neo hoặc đi lại dọc bờ
đó là cái cảnh “thượng gia hạ thuyền” tụ điểm cư dân chính của xã Hải Trạch,
huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Làng nằm trên đường Thiên Lý Bắc - Nam,
cách sông Gianh 9km về phía Nam và cách thành phố Đồng Hới 12km về phía
Bắc. Làng Lý Hoà - Hải Trạch thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, thuộc
toạ độ 17
0
38

47
’’
vĩ Bắc và 106
0
30

47
’’
kinh Đông.
Làng Lý Hoà phía Bắc giáp làng Bồ Khê xã Thanh Trạch, phía Tây giáp
làng Thiện Yên xã Phú Trạch, phía Nam là sông Lý Hoà, bên kia sông là làng
Mai Hồng xã Đồng Trạch và thôn Trung Đức xã Đức Trạch, phía Đông là biển
Đông. Địa hình làng Lý Hoà thấp dần từ Bắc xuống Đông Nam, nơi cao và rộng
nhất là đèo Lý Hoà, nơi thấp và hẹp nhất là cửa sông Lý Hoà. Làng tựa như một
bán đảo nhỏ, nằm trên một dải đất như bánh lái của chiếc thuyền mà ngày xưa Lê
Quý Đôn gọi là “khoảnh bình sa”, cùng với đèo cao chạy dọc ra biển và thẳng

này là một nơi trù phú, chứa đựng nhiều tiềm năng để phát triển thành nơi thịnh
vượng giàu có.
• Địa hình
Địa hình Lý Hòa khá đa dạng nhìn chung có mặt bằng cao dần từ Nam ra
Bắc tức là từ bờ sông đến núi Động Man. Làng Lý Hòa có diện tích tự nhiên
khoảng 126 ha.
Địa hình Lý Hòa có thể chia thành ba khu vực chính:
Một là: địa bàn dân cư trú rất hẹp khoảng 0,5km
2
phân bố ở phần phía Nam
trải dài theo bờ sông, hình thể như một chiếc bánh lái hình thang có chiều dọc theo
sông 1km, đáy lớn ven quốc lộ 600m, đáy nhỏ dọc bờ biển 400m mặt bằng khu dân
cư thấp dần từ bờ sông đến bờ cát sau làng. Riêng xóm Nội Hòa có địa hình bằng
phẳng hơn, phía Tây là đường quốc lộ có xóm quán, đoạn giữa là khu vực đất chua
mặn mới được mở rộng, phía Đông là khu vực dân cư chính của xóm.
7
Hai là: ở ngay trung độ của làng là Động Cát trắng cao từ 8m - 10m so với
mặt biển, có diện tích 0,5km
2
.

Ở đây có bãi tha ma của làng, phía Tây Động Cát
là cánh đồng làng hẹp trồng lúa do cư dân làng Thuận Phú khai thác gieo trồng.
Phía Tây Nam Động Cát giáp với Thuận Hòa, Nội Hòa xưa kia cây cối rậm rạp có
nhiều gỗ quý như lim, mây, tre, song, nứa Ở phía Đông sát biển là ngọn đồi đá bụt
cao 15m, đá vôi của đồi chạy ra tận mép nước làm chỗ dựa cho Động Cát khỏi di
động lấn sâu vào làng.
Ba là: ở phía Bắc là hai ngọn núi Động Man, chân núi có khe chảy vào sông
Đặng Đê, núi phía Đông kề biển, đá núi đứng trên bờ nước tục gọi là “Đá nhảy”.
Cư dân gọi “Đá nhảy” chỉ ở ngọn Bắc còn ngọn Nam giáp với Động Cát là

Cùng với kè biển, kè sông đã được xây dựng vững chắc che chắn, bảo vệ cho
làng khi những con lũ tràn về. Đêm đến ánh điện ven bờ kè phản chiều xuống
dòng sông tạo nên những sắc màu lung linh. Cùng với biển, sông Lý Hòa có
nhiều loại tôm, cua, cá, tuy số loài và sản lượng không lớn nhưng cũng là nơi
cung cấp nguồn thủy sản đáng kể cho cuộc sống dân cư trong vùng. Cửa sông Lý
Hòa trước đây đã từng chứng kiến một số trận chiến ác liệt, ngày nay đã trở thành
một cửa sông êm ả thanh bình, ngày đêm đón hàng trăm lượt thuyền cá vào cập bến.
Cửa sông này đã một thời gắn với những câu ca sâu lắng, nặng nghĩa vẹn tình: “Ai
về Đồng Hới Lý Hòa/ Buồm giăng đôi ngọn thương đà nên thương”.
• Biển Lý Hòa
Lý Hòa có bờ biển dài 5km, thuộc biển Bãi Ngang nằm giữa hai cửa sông
lớn, sông Gianh và sông Lý Hòa. Khác với bờ biển trong Nam ngoài Bắc có độ
dốc cao và nước đục phù sa, bờ biển nơi đây thoai thoải, cách chân sóng 100m
nhưng mực nước chỉ ngang đến ngực, làn nước trong veo nhìn thấy tận cát vàng
dưới đáy. Với nguồn nước do hai sông đổ về, hàng năm biển ở đây đón nhận một
khối lượng lớn phù du, đó là nguồn thức ăn vô tận cho các loại hải sản, mặt khác
do có đèo Lý Hòa ăn lan ra biển đã tạo nên những bãi đá ngầm mà dân vùng này
gọi là rạn, đây là nơi sinh sống trú ngụ của hàng trăm loài cá, tôm, mực, ốc, ghẹ.
Các loại hải sản ở vùng biển này ngon nổi tiếng trong vùng. Bãi biển Lý Hòa
bằng phẳng, sạch sẽ. Ngày cát vàng óng ả dưới cái nắng hè gay gắt, đêm chấp
chới lân tinh khi mưa rét mùa đông. Ngày nay bờ được kè bằng bê tông vững
chãi chạy dài dọc bãi biển để chắn sóng dữ. Ven đường là những cây bàng lá
xanh tươi, cành lá xum xuê che chắn giông bão và tỏa mát cả một vùng. Những
9
cột đèn cao áp sừng sững đối mặt với gió biển đêm đêm tỏa sáng cùng với hàng
trăm ánh đèn đánh cá ven biển, tưởng chừng biển và bờ chẳng còn khoảng cách.
Cũng như quy luật của biển cả, dòng chảy của biển ở đây cũng tuân theo một chu
kỳ nhất định. Do cuộc sống gắn liền với sông nước, ngư dân Lý Hòa phải tinh
thông về dòng sông mặt bể của mình. Trải qua kinh nghiệm lâu đời, ngư dân ở
đây đã đúc kết được một lịch trình biển như sau:

có nhiều cá to, đó là khu vực chính cho thu nhập ngư nghiệp Lý Hòa. Điều đáng
chú ý là cá biển và hải sản ở đây rất phong phú và dồi dào mùa nào cũng có. Tôm
có các loại tôm hùm, tôm sú dùng để xuất khẩu. Lý Hòa có bờ biển đẹp, là tháng
cảnh nổi tiếng với tên gọi bãi Đá Nhảy là tài nguyên du lịch quan trọng.
Tuy có địa hình phức tạp và đa dạng cùng với khí hậu khắc nghiệt như vậy,
nhưng Lý Hòa lại được thiên nhiên ban tặng, ưu đãi một nguồn tài nguyên vô
cùng phong phú và đa dạng cả ở trên rừng và dưới biển. Rừng xưa chiếm 3/4
diện tích tự nhiên có nhiều loại gỗ quý có trữ lượng lớn như sến, gõ, dã hương,
tràm, trầm hương, nhiều động vật như: bò tót, voi. Song ở trên cạn Lý Hòa có đủ
các loại môi trường sinh thái tạo nên một hệ thống động, thực vật khá phong phú.
Khoáng sản: quặng Ti tan điểm inmenit Lý Hòa có tọa độ 17
0
38

47
’’
vĩ Bắc,
106
0
30

47
’’
kinh Đông. Quặng inmenit tạo dải hẹp, hàm lượng thấp không có giá
trị công nghiệp [22;150].
• Khí hậu, thời tiết
Là vùng đất ven biển miền Trung do đó, khí hậu của Lý Hòa cũng mang
những đặc điểm gần giống khí hậu của khu vực tỉnh Quảng Bình nói chung.
Khí hậu ven biển: bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông không rõ rệt mà chủ yếu
chia làm hai mùa mưa và khô. Mùa mưa bắt đầu vào tháng 8 và kết thúc vào

Nam, năm 1069, vua Lý Thánh Tông cử Đại tướng Lý Thường Kiệt đi đánh
Chiêm Thành bắt được vua nước Chiêm là Chế Cũ. Để chuộc mạng sống, Chế
Cũ đã đem dâng 3 châu Bố Chinh, Địa Lý, Ma Linh (vùng đất Nam Hoành Sơn)
cho vua Lý. Vùng đất Lý Hoà trở về với Đại Việt. Năm 1074, vua Chiêm Thành
là Harivarman đem quân ra đánh phá vùng đất phía nam Đại Việt lấy lại 3 châu
đã mất. Tháng 8 năm 1075, vua Lý Nhân Tông (1072 - 1127) cử Lý Thường Kiệt
đi đánh Chiêm. Lý Thường Kiệt thực hiện chiến lược vừa dùng quân đội tiến
đánh đẩy lui quân Chiêm về phía Nam, vừa chiêu mộ dân ở các vùng phía Bắc đi
vào vùng đất mới đánh chiếm được, lập làng định cư lâu dài. Để khẳng định bờ
cõi nước Đại Việt, Lý Thường Kiệt cho vẽ bản đồ và đổi châu Bố Chinh thành
12
châu Bố Chính, châu Địa Lý thành châu Lâm Bình, châu Ma Linh thành châu
Minh Linh. Vùng đất Lý Hoà lúc này thuộc châu Bố Chính.
Từ năm 1627 - 1672, vì lợi ích dòng họ, hai tập đoàn phong kiến Trịnh -
Nguyễn đã gây ra cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn bất phân thắng bại lấy
sông Gianh trở thành ranh giới chia cắt đất nước. Từ cửa sông Gianh trở ra thuộc
chúa Trịnh, từ bờ Nam sông Gianh trở vào thuộc chúa Nguyễn và trong cuộc
chiến tranh này đã có 6 trận giao chiến đã diễn ra trên đất Quảng Bình. Từ trận
đánh đầu tiên vào năm 1627 đến trận đánh cuối cùng năm 1672, mỗi lần đưa
quân ra Bắc đánh Trịnh, các chúa Nguyễn đều lấy làng Lý Ninh ở bờ Bắc sông
Thuận Cô, làm nơi đặt đại bản doanh bộ chỉ huy tiền phương, nơi hậu cần tập kết
quân lương, nơi đồn trú của quân thủy, bộ tại đây, các chúa Nguyễn còn chọn
ngư dân làng Lý Ninh lập thành đội Trường Đà tham gia vào việc vận chuyển
quân lương cho quân đội. Đây cũng là cơ sở để năm 1788, Bắc Bình Vương
Nguyễn Huệ trên đường đưa quân ra Bắc đánh Trịnh đến Lý Hòa cho lập đội
thủy vận (đội Trường Đà) và chọn một số ngư dân Lý Hòa tham gia vào đội
thuyền vận tải quân lương. Năm 1775, nhà bác học Lê Quý Đôn ở xứ Đàng
Ngoài khi đi vào xứ Đàng Trong nhìn thấy khoảnh đất bình sa bằng phẳng dưới
chân núi Lệ Đệ đẹp như trong tranh, làng xóm đông đúc, thanh bình, thuyền bè
tấp nập đi lại trên sông. Lý Hòa là một vùng đất mà “núi giăng một phía, nước

Những người dân phiêu bạt này bắt đầu nghĩ đến việc đặt tên cho vùng quê thứ
hai của mình. Ban đầu họ gọi nơi mình sinh sống là làng Cô. Về tên gọi này có
nhiều cách lý giải khác nhau, nguyên nghĩa chữ Hán thì “Cô” nghĩa là “tội” –
làng có tội. Phải chăng để ghi nhớ gốc gác của mình (trốn nợ, trốn lính, phu,…
rời quê cũ ra đi) mà các bậc khai tổ của làng đã đặt cho làng mình cái tên như
vậy? Theo một lý giải khác thì “Cô” có nghĩa là “cô độc”, có lẽ lúc mới đến đây
những cư dân đầu tiên đã cảm thấy cô độc và lẻ loi vùng đất mà họ đặt chân tới
chỉ toàn là sông nước và bụi rậm. Theo nguồn gia phả của làng chép lại thì làng
tên Cô bắt đầu xuất hiện từ năm 1712, sau đó không rõ vì một lí do gì mà làng lại
chia làm hai bộ phận: một bộ phận ở lại làng cũ sinh sống, còn một bộ phận rời
qua bên kia sông về phía Bắc để sinh sống. Năm 1715 (Ất Mùi), bộ mặt của làng
Cô đã có sự thay đổi, kinh tế khá hơn, có sự chuyển biến về dân số lên đến 180
người với 26 hộ dân. Cứ mỗi kỳ tảo mộ hàng năm những người dân ở làng này
về đưa thêm người từ huyện Nghi Xuân, Nghệ An vào sinh sống. Với số dân
14
ngày càng đông, cùng tụ cư trên một miền đất lạ, họ đã biết đùm bọc, yêu thương
nhau, cùng nhau lo làm ăn sinh sống. Trải qua những tháng năm ấy, tình làng
nghĩa xóm làm thành sợi dây bền chặt gắn kết họ lại với nhau. Tên làng Thuận
Cô ra đời có lẽ xuất phát từ ý nghĩa này. Làng Thuận Cô mang tên ấy từ năm
1715 đến 1735, trong 20 năm đó bà con làng Cương Gián hàng năm lại lần lượt
di cư vào, hai bên bờ sông con người quần tụ ngày càng nhiều. Để phân biệt rõ
ràng địa vực cư trú của dân cư hai bên, Thuận Cô được chia thành Thuận Cô Bắc
thôn (nay là xã Hải Trạch) và Thuận Cô Nam thôn (nay là xã Đức Trạch). Kể từ
năm 1735, các cụ bắt đầu phân chia địa giới cho làng. Làng Thuận Cô Bắc thôn
phía Đông Nam từ đền Long Vương theo triền cát sát biển chạy dài đến miếu ông
Chanh khoảng 3km. Miếu ông Chanh bây giờ thuộc xã Đức Trạch, phía Bắc từ
Trấn Hải Vương (tức là miếu phường Lồ), phía ngoài biển chạy đến chùa Hang.
Còn hướng Tây và Tây Nam cứ theo đường mòn (nay là quốc lộ 1A) rồi chạy
dọc theo triền sông lên đến giáp làng Kẻ Nại (Hiền Sơn ngày nay). Đó là địa giới
của làng Thuận Cô Bắc thuộc tổng Hà Bạc châu Bố Chính Nam. Cùng với thời

Hòa vi đại quý, hiện sóng xuất anh tài”
Đó là truyền thống đoàn kết, thương yêu, đối nhân xử thế với nhau. Đây là
đạo lý, biểu hiện sự hiền từ đức độ của người dân Lý Hòa. Chính sự tồn tại liên
tục của từ “Lý” đã đem đến cho người dân Lý Hòa và du khách muôn phương
biết và luôn nhớ về vùng đất, con người Lý Hòa. Đây cũng là cội nguồn sức
mạnh tinh thần to lớn của biết bao thế hệ người Lý Hòa dù đi đâu, ở đâu, làm gì
cũng luôn hướng về quê hương để tự hào từ đó mà tu đức, luyện tài, rèn chí phấn
đấu vươn lên bằng anh, bằng chị.
Tên gọi Lý Hòa xuất hiện trong sử sách và tồn tại cho đến nay đã trải qua
một quá trình phát triển lâu dài. Lý Hòa đã được đổi tên thành xã Hải Trạch
thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Khi vào khai hoang lập làng từ làng
Thuận Cô Bắc đến Lý Hòa từ 4 dòng họ đến nay làng đã có tổng cộng 24 dòng
họ khác nhau. Trong đó có một số dòng họ nổi tiếng đó là họ Nguyễn Duy, họ
Hồ, họ Phan, họ Hoàng, lãnh thổ cũng được mở rộng, làng Lý Hòa trước đây
gồm 4 xóm Thượng, Trung, Nội, Ngoại nhưng hiện nay đã có 7 xóm với 3 xóm
mới là: Tân Lý, Quốc lộ + xóm Cồn và Nội Hải với số hộ và khẩu thay đổi qua
từng năm. Nghề nghiệp ở Lý Hòa phong phú đa dạng, hai nghề chính của người
dân là buôn bán và đánh bắt hải sản, bên cạnh đó còn có một số nghề thủ công
truyền thống đặc biệt là nghề phụ chế biến hải sản với bàn tay khéo léo của người
phụ nữ miền biển. Chính sự kết hợp đa nghề này đã tạo cho Lý Hòa sự phát triển
16
mạnh mẽ, trở thành làng giàu có nhất nhì tỉnh Quảng Bình. Từ nửa sau thế kỷ
XVIII, Lý Hòa đã trở thành một làng phát triển mạnh, nổi tiếng như Lê Quý Đôn
trong “Phủ biên tạp lục” đã miêu tả:
“Thôn Lý Hòa, châu Nam Bố Chính, đất ấy là dư khí của núi Lệ Đệ rủ
xuống thành một bãi cát trắng, nổi cao, mở rộng. Dân cư ở ngay bãi trụng về
phía Nam, bên tả ngạn ôm lấy sông Thuận Cô, từ bên hữu ngạn chạy lại làm án
cho nên dân đinh thịnh vượng đến hơn nghìn người, tục quen buôn bán, thời
bình vào Gia Định đóng thuyền nan hơn trăm chiếc đem về bán…” Giữa thế kỷ
XVIII là thời gian kết cấu làng về cơ bản đã hoàn chỉnh. Trong giai đoạn này cơ

nên sung túc, họ có “chân” trong bộ máy tổ chức quản lý làng xã, có quyền hành
giống như các địa chủ. Còn những gia đình quan lại thì có học hành, đỗ đạt làm
quan. Nhờ được bổng lộc của triều chính, họ có được những đồng ruộng tốt ở các
làng quanh vùng, hàng năm có thêm nguồn thu khá lớn từ tô tức. Làng Lý Hòa
xưa nổi tiếng là “làng văn vật” với dòng họ Nguyễn Duy là dòng họ “phát
khoa” của làng. Cụ Nguyễn Duy Miễn đỗ cử nhân năm 1876, 5 con trai của cụ là
Nguyễn Duy Thắng – đỗ Phó bảng năm 1898, Nguyễn Duy Đồng – đỗ cử nhân
năm 1897, Nguyễn Duy Tích – đỗ tiến sĩ năm 1910, Nguyễn Duy Phiên – đỗ cử
nhân năm 1903, Nguyễn Duy Thiệu – đỗ Phó bảng năm 1910. Cũng dòng họ
Nguyễn Duy đã mang đến cho Lý Hòa một vinh dự lớn, là tấm gương về hiếu
học, “giáo ngũ tử danh câu xương” (có nghĩa là mộ nhà giáo dục được 5 con đỗ
đầu khoa bảng là rất hiếm). Người dân Lý Hòa thường tự hào mà rằng:
“Nho sĩ Lý Hòa vui truyền thống
Cháu con rạng mặt đẹp non sông”.
b, Tầng lớp ngư dân nói chung bao gồm: dân làm nghề đánh cá và các loại
hải sản khác, những người đánh cá thuê, lớp người làm trai bạn (thủy thủ) cho
các ghe bầu, những người làm nghề chạy chợ nhỏ, những người làm nghề thủ
công. Do nghèo họ không có phương tiện để làm ăn, cải thiện đời sống cho bản
thân và gia đình, phải đối mặt với sóng gió của biển cả, với thiên nhiên nên tính
mạng thường bị đe dọa, thu nhập không ổn định. Xét về mối quan hệ kinh tế thì
mối quan hệ giữa hai bộ phận này là mối quan hệ bóc lột và bị bốc lột.
Những người khá giả giàu có, chủ ghe, chủ thuyền là những người bóc lột.
Chính sự chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất của hình thái kinh tế phong kiến
là gốc rễ đẻ ra toàn bộ kết cấu xã hội đó. Ở Lý Hòa cũng như các làng khác sự
18
bóc lột, áp bức cũng diễn ra hết sức nặng nề, đời sống của nhân dân vô cùng cực
khổ. Những gia đình giàu có thường ở dãy nhà hướng ra mặt sông, còn những
người nghèo khổ ở phía sau làng gần bãi tha ma của làng. Sự phân cách về địa vị
kinh tế, phân biệt về địa vị xã hội làm cho trình trạng bần cùng hóa của ngư dân
càng thêm sâu sắc. Đó cũng chính là trình trạng chung của xã hội Việt Nam trong

họ Nguyễn có Nguyễn Lót, họ Hồ có Hồ Thuyết,… còn lại là một số người ở các
họ khác nhưng có phần hạn chế. Về quyền lợi, Lý trưởng được miễn thuế và sưu
dịch, được làng ưu tiên cấp ruộng tốt, nhưng làng Lý Hòa không có ruộng đất để
cấp cho Lý trưởng, họ chỉ được hưởng lợi từ những khoản đóng góp của nhân
dân trong làng.
Ngoài ra trong tổ chức hành chính làng còn có những hương chức, thời nhà
Nguyễn bộ phận này gọi là Ngũ hương.
- Hương kiểm (trương tuần): là người chuyên phụ trách tuần phòng, canh
gác, bảo vệ an ninh của làng. Thực hành công việc này là đội ngũ tuần đinh, lấy
trong hạng thanh niên trai tráng có sức khỏe để tổ chức canh gác tuần phòng
chống trộm cướp, bảo vệ mùa màng, kiểm tra mốc giới, bảo vệ các công trình
kênh mương, đê đập,…
- Hương bản (thủ khoán): người này làm chức năng giữ tiền, tài sản công
cộng quản lý ruộng sưu đấu giá để nộp thuế cho nhà nước. Các nguồn thu công
cộng từ tre, gỗ khai thác ở rừng, lũy cây,… đều giao cho Hương bản giữ để chi
dùng cho việc công. Mọi khoản thu chi đều phải ghi sổ sách rõ ràng và thông qua
hội đồng làng.
- Hương bạ (thủ bộ): là người chuyên giữ giấy tờ, sổ sách như sổ đinh, sổ
điền và là nhân viên quan trọng trong việc ban cấp ruộng đất công của làng, theo
dõi sinh tử, giá thú của dân trong làng.
- Hương dịch: là người đảm trách việc tu sửa, bảo vệ các công trình công
cộng của làng như đường xá, cầu cống.
- Hương mục: là người giữ gìn, bảo quản và nắm đất đai trong làng.
Ngoài ra dưới cấp xã còn một số chức vụ khác như: Giáp trưởng. Cách thức
làm việc của bộ máy hành chính này rất chặt chẽ, quy cũ, các văn bản giấy tờ có
liên quan đến việc thuế má, phu dịch, ruộng đất cần trình bày hay xin ý kiến quan
phủ, huyện đều có Lý trưởng và các nhân viên hành chính ký tên, đóng dấu và y sao
một bản để lưu giữ. Đây là bộ máy thường trực cho công việc hành chính của cả
20
làng, nhưng bộ phận này làm việc không có lương bổng mà chỉ được cấp ruộng đất.

21
và được bầu làm tiên chỉ của làng. Đây là những người phụ nữ có phẩm hạnh, có
công sinh thành ra nhiều người con đỗ đạt làm quan, họ được ngồi ở chiếu trên
trong các dịp cúng tế của làng và ngồi ngang hàng với nam giới. Có thể thấy mặc
dù lễ giáo phong kiến trọng nam khinh nữ nhưng ở Lý Hòa vẫn coi trọng những
người phụ nữ đức độ và bản thân họ có học vấn, vai trò của người phụ nữ được
đề cao hơn và được tôn trọng hơn.
Hội đồng kỳ mục giữ vai trò là cơ quan nghị quyết của làng. Họ dựa vào các
điều lệ của làng, chiếu theo đó mà tiến hành khen thưởng hay phê phán trừng
phạt xã dân. Tìm hiểu điều này qua lời kể của các cụ trong làng thì hội đồng kỳ
mục có những nhiệm vụ sau:
- Được tham gia vào bàn bạc công việc của làng, được quyền bầu cử các
dịch mục, soạn thảo hương ước, chọn các Lý trưởng, phó lý cho dân bầu.
- Bảo vệ tài sản cho xã dân như đề phòng hỏa hoạn, bảo vệ đê điều, chống
trộm cướp,…
- Giữ gìn an ninh trong làng xóm như kiểm soát kẻ lạ mặt, tổ chức canh gác
xóm, ngõ.
- Bảo vệ đồng ruộng, chống trộm cắp hoa màu, lúa và điều hành nguồn
nước, nguồn cá, nguồn cây.
- Giữ gìn phong tục tập quán và lối sống trong làng như tổ chức lễ tế ở đình
làng, tổ chức lễ hội, bảo bệ những quy định cưới xin, ma chay.
- Bảo vệ, sửa chữa xây dựng các công trình công cộng như đình, đền, cầu
cống.
Nhìn chung, hội đồng kỳ mục chỉ đạo, điều hành các công việc về chính trị,
kinh tế, văn hóa của làng và có quyền lực rất lớn. Ngoài hội đồng kỳ mục thì ở
làng còn tồn tại một chức vụ riêng biệt, đó là bầu ông vạn, là người đứng đầu
trong nghề biển với tư cách là người tổ chức sản xuất, đồng thời ông vạn là người
có uy tính trong nghề nghiệp được dân trong nghề tín nhiệm. Hằng năm ở Lý
Hòa có tổ chức bầu ông vạn một lần. Tuy thế nhưng vẫn có người giữ chức này
trong 2 - 3 năm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status