Phân loại và phương pháp giải bài tập Quang học chương trình THCS - Pdf 26

PHẦN I. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Lý do khách quan
Trong việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng bộ môn
nói riêng. Việc cải tiến phương pháp dạy học là một nhân tố quan trọng, bên cạnh
việc bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, việc phát huy tính tích cực của học sinh
có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bởi vì xét cho cùng công việc giáo dục phải được
tiến hành trên cơ sở tự nhận thức, tự hành động, việc khơi dậy phát triển ý thức
năng lực tư duy, bồi dưỡng phương pháp tự học là con đường phát triển tối ưu
của giáo dục. Cũng như trong học tập các bộ môn khác. Học vật lý lại càng phát
triển năng lực tích cực, năng lực tư duy để học sinh học không phải chỉ biết mà
còn phải hiểu để giải thích hiện tượng vật lý cũng như áp dụng kiến thức và kỹ
năng vào các hoạt động trong cuộc sống gia đình và cộng đồng.
Trong khuôn khổ chương trình trung học cơ sở, bài tập vật lý thường là những
vấn đề không quá phức tạp, có thể giải được bằng những suy luận logic, bằng tính
toán hoặc thực nghiệm dựa trên cơ sở những quy tắc vật lý, phương pháp vật lý đã
quy định trong chương trình học. Giải những bài tập vật lý là một khâu quan trọng
trong quá trình dạy và học vật lý.
Việc giải bài tập vật lý giúp củng cố đào sâu, mở rộng kiến thức cơ bản của
bài giảng, xây dựng củng cố kỹ năng kỹ xảo vận dụng lý thuyết vào thực tiễn là
biện pháp quý báu để phát triển năng lực tư duy của học sinh, có tác dụng giáo
dục sâu sắc tới mặt tư tưởng, giáo dục. Vì thế trong việc giải bài tập vật lý mục
đích cơ bản cuối cùng không phải chỉ tìm ra đáp số, tuy điều này cũng quan trọng
và cần thiết, mục đích chính của giải bài tập là người làm bài tập hiểu được sâu
sắc hơn các khái niệm, định luật vật lý, vận dụng chúng vào trong những vấn đề
của thực tế trong đời sống và trong lao động.
2. Lý do chủ quan
Trong số tất cả các bộ môn khoa học tự nhiên: Toán, Lý, Hoá, Sinh… thì
vật lý là một trong những môn khoa học khó. Việc học tập môn vật lý nhằm mang
lại cho học sinh những kiến thức về các sự vật, hiện tượng và các quá trình quan
1

thống kiến thức nội dung và bài tập chương “Quang học” ở chương trình lớp 7 và
lớp 9 trung học cơ sở.
2
IV. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Tìm phương pháp giải cho các loại bài tập. Phân loại bài tập quang học,
phương pháp giải bài tập quang học. Hướng dẫn cho học sinh vận dụng lý thuyết
phân tích bài toán đề ra được phương pháp giải cụ thể, ngắn gọn dễ hiểu nhất. So
sánh với các phương pháp khác, tình huống có thể xảy ra với bài toán để mở rộng
hiểu sâu tường tận bài toán.
V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu các quy luật của quá trình nhận thức và mức độ nhận thức.
- Sưu tầm hệ thống bài tập nội dung phần quang học THCS.
- Xác định nội dung kiến thức tương ứng với các mức độ nhận thức.
- Xây dựng các tiêu chí để phân loại bài tập.
- Đưa ra phương pháp giải chung và áp dụng phương pháp giải chung cho
một số bài tập.
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp đọc sách và tham khảo tài liệu.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
- Phương pháp điều tra cơ bản.
- Phương pháp quan sát sư phạm.
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh.
VII. ĐÓNG GÓP CỦA KHÓA LUẬN
- Thông qua khóa luận giúp tôi rèn luyện thêm về kỹ năng giải bài tập và ứng
dụng lý thuyết vào những bài tập cụ thể.
- Xây dựng hệ thống bài tập theo mức độ nhận thức phần Quang học.
- Làm tài liệu tham khảo cho học sinh đặc biệt là học sinh chuyên vật lý. Nhằm
nâng cao chất lượng học tập học phần Quang học của học sinh THCS.
VIII. CẤU TRÚC CỦA KHÓA LUẬN

động trí tuệ của học sinh. Vì thế đòi hỏi người giáo viên và cả học sinh phải học
tập và lao động không ngừng. Làm bài tập vật lý sẽ giúp cho học sinh hơn lý
thuyết, những quy luật, những hiện tượng vật lý. . . Thông qua các bài tập ở các
dạng khác nhau tạo điều kiện cho học sinh vận dụng linh hoạt những kiến thức
vật lý để tự giải quyết thành công những tình huống cụ thể khác nhau. Từ đó học
sinh hiểu sâu, những kiến thức này trở nên sâu sắc hoàn thiện và trở thành vốn
riêng của học sinh. Trong quá trình giải quyết vấn đề, tình huống cụ thể học sinh
phải vận dụng các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát
hóa. . . để giải quyết vấn đề. Từ đó giúp học sinh phát triển tư duy sáng tạo, óc
tưởng tượng phong phú, tính độc lập suy nghĩ, suy luận. . . Nên bài tập vật lý gây
hướng thú học tập cho học sinh.
5
1. HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC
1.1. Khái niệm hoạt động nhận thức
Hoạt động nhận thức là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan và
bản thân con người thông qua các giác quan và dựa trên kinh nghiệm hiểu biết
của bản thân. Việc nhận thức thế giới có thể đạt những mức độ khác nhau: từ đơn
giản đến phức tạp, từ thấp đến cao. Vì thế, hoạt động nhận thức chia thành: nhận
thức cảm tính và nhận thức lý tính.
1.2. Nhận thức cảm tính
Là mức độ nhận thức đầu tiên, thấp nhất của con người. Trong đó con người
phản ánh những thuộc tính bên ngoài, những cái đang trực tiếp tác động đến giác
quan của họ. Nhận thức cảm tính bao gồm: cảm giác và tri giác.
- Cảm giác: là quá trình nhận thức phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ, bề
ngoài của sự vật, hiện tượng và trạng thái bên trong của cơ thể khi chúng đang
trực tiếp tác động vào giác quan của ta.
- Tri giác: là quá trình nhận thức phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính
của sự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan của ta.
1.3. Nhận thức lý tính
Là mức độ nhận thức cao ở con người, trong đó con người phản ánh những

3.2. Bài tập có thể là điểm khởi đầu để dẫn đến kiến thức mới
Nhiều khi bài tập được sử dụng khéo léo có thể dẫn học sinh đến những suy
nghĩ về hiện tượng mới hoặc xây dựng một khái niệm mới để giải thích hiện
tượng mới do bài tập phát hiện ra.
3.3. Giải bài tập vật lý rèn lyện kỹ năng, kỹ xảo, vận dụng lý thuyết và thực
tiễn, rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát
Bài tập vật lý là một trong những phương tiện rất quý báu để rèn luyện kỹ
năng, kỹ xảo vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, rèn luyện thói quen vận dụng kiến
thức khái quát đã thu nhận được để giải quyết các vấn đề của thực tiễn.
3.4. Giải bài tập là một trong những hình thức làm việc tự lực cao của học sinh
Trong khi làm bài tập do phải tự mình phân tích các điều kiện đầu bài, tự
xây dựng những lập luận, kiểm tra và phê phán những kết luận mà học sinh rút ra
7
được nên tư duy của học sinh được phát triển, năng lực làm việc tự lực, nâng cao,
tính kiên trì được phát triển.
3.5. Giải bài tập góp phần làm phát triển tư duy sáng tạo của học sinh
Có nhiều bài tập vật lý không chỉ dừng lại trong phạm vi vận dụng những
kiến thức đã học mà còn giúp bồi dưỡng cho học sinh tư duy sáng tạo. Đặc biệt là
những bài tập giải thích hiện tượng, bài tập thí nghiệm.
3.6. Giải bài tập vật lý là một phương tiện để kiểm tra mức độ nắm vững kiến
thức của học sinh
Tùy theo cách ra bài tập ta có thể phân loại được các mức độ nắm vững kiến
thức của học sinh giúp việc đánh giá chất lượng học sinh được chính xác.
3.7. Bài tập Vật lý là một phương tiện để giáo dục người học
Nhờ bài tập vật lý ta có thể giới thiệu cho người học biết sự xuất hiện của
những tư tưởng, quan điểm tiến bộ, hiện đại, những phát minh, những thành tựu
của nền khoa học trong và ngoài nước. Tác dụng giáo dục của bài tập vật lý còn
thể hiện ở chỗ: Chúng là phương tiện hiệu quả để rèn luyện đức tính kiên trì,
vượt khó, ý chí và nhân cách của người học. Việc giải bài tập vật lý có thể mang
đến cho người học niềm phấn khởi sáng tạo, tăng thêm sự yêu thích môn học,

- Bài tập vận dụng, tái hiện tái tạo: là khả năng ghi nhớ và nhận diện thông tin.
- Bài tập hiểu áp dụng: là khả năng hiểu, diễn dịch, diễn giải, giải thích hoặc
suy diễn.
- Bài tập vận dụng linh hoạt: là khả năng sử dụng thông tin và kiến thức từ
một sự việc này sang sự việc khác.
- Bài tập phân tích, tổng hợp: phân tích là khả năng nhận biết chi tiết, phát
hiện và phân biệt các bộ phận cấu thành của thông tin hay tình huống; tổng hợp
là khả năng hợp nhất nhiều thành phần để tạo thành vật lớn, khả năng khái quát.
- Bài tập đánh giá: là khả năng phán xét giá trị hoặc sử dụng thông tin theo
các tiêu chí thích hợp.
9
c. Phân loại theo cách giải
Bài tập vật lý có thể chia làm 4 loại như sau:
- Bài tập định tính (bài tập câu hỏi lý thuyết): là loại bài tập mà việc giải
không đòi hỏi phải làm một phép tính nào hoặc chỉ phải làm những phép tính đơn
giản có thể tính nhẩm được. Muốn giải bài tập này phải dựa vào những khái
niệm, những định luật vật lý đã học, xây dựng những suy luận logic, để xác lập
mối liên hệ phụ thuộc về bản chất giữa các đại lượng vật lý.
- Bài tập định lượng (bài tập tính toán): là loại bài tập mà việc giải đòi hỏi
phải thực hiện một loạt các phép tính. Được phân làm hai loại: bài tập tập dượt
và bài tập tổng hợp.
+ Bài tập tập dượt là loại bài tập tính toán đơn giản, muốn giải chỉ cần vận
dụng một vài định luật, một vài công thức. Loại này giúp củng cố các khái niệm
vừa học, hiểu kỹ hơn các định luật các công thức và cách sử dụng chúng, rèn
luyện kỹ năng sử dụng các đơn vị vật lý và chuẩn bị cho việc giải các bài tập
phức tạp hơn.
+ Bài tập tổng hợp là loại bài tập tính toán phức tạp, muốn giải phải vận
dụng nhiều khái niệm, nhiều công thức có khi thuộc nhiều bài, nhiều phần khác
nhau của chương trình. Loại bài tập này có tác dụng đặc biệt trong việc mở rộng,
đào sâu kiến thức giữa các thành phần khác nhau của chương trình và bài tập này

Xét về tính chất của các thao tác tư duy khi giải các bài tập vật lý, người ta
thường dùng phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp.
- Giải bài tập bằng phương pháp phân tích
Theo phương pháp này xuất phát điểm của suy luận là đại lượng cần tìm.
Người giải phải tìm xem đại lượng chưa biết có liên quan gì với những đại lượng
vật lý nào và khi biết được sự liên hệ này thì biểu diễn nó thành những công thức
tương ứng. Nếu một vế của công thức là đại lượng cần tìm còn vế kia chỉ gồm
những dữ kiện của bài tập thì công thức ấy cho ta đáp số của bài tập. Nếu trong
công thức còn những đại lượng khác chưa biết thì đối với mỗi đại lượng, cần tìm
một biểu thức liên hệ nó với các đại lượng vật lý khác, cứ làm như thế cho đến
khi nào biểu diễn được hoàn toàn đại lượng cần tìm bằng những đại lượng đã biết
thì bài toán đã được giải xong. Như vậy theo phương pháp này ta có thể phân tích
một bài toán phức tạp thành những bài toán đơn giản hơn rồi dựa vào những quy
tắc tìm lời giải mà lần lượt giải các bài tập đơn giản này, từ đó tìm ra lời giải của
bài tập phức tạp trên.
- Giải bài tập bằng phương pháp tổng hợp
Theo phương pháp này suy luận không bắt đầu từ đại lượng cần tìm mà bắt
đầu từ các đại lượng đã biết, có nêu trong đề bài. Dùng công thức liên hệ các đại
11
lượng này với các đại lượng chưa biết, ta đi dần tới công thức cuối cùng, trong đó
chỉ có một đại lượng chưa biết là đại lượng cần tìm.
Nhìn chung giải bài tập vật lý ta phải dùng chung hai phương pháp phân
tích và tổng hợp. Phép giải bắt đầu bằng phân tích các điều kiện của bài toán để
hiểu đề bài, phải có sự tổng hợp kèm theo ngay để kiểm tra lại mức độ đúng đắn
của các sự phân tích ấy. Muốn lập được kế hoạch giải phải đi sâu phân tích nội
dung vật lý của bài tập, tổng hợp những dữ kiện đã cho với những quy luật vật lý
đã biết, ta mới xây dựng được lời giải và kết quả cuối cùng. Vậy ta đã dùng
phương pháp phân tích và tổng hợp.
Chúng ta phân tích đặc điểm và phương pháp giải của từng dạng
a. Bài tập vật lý định tính hay bài tập câu hỏi lý thuyết

- Nếu cần phải tính toán định lượng, thì lập các công thức liên quan đến các
đại lượng cho biết, đại lượng cần tìm. Thực hiện các phép biến đổi toán học để
cuối cùng tìm ra được một công thức toán học, trong đó ẩn số là đại lượng vật lí
cần tìm, liên hệ với các đại lượng khác đã cho trong đề bài.
- Đổi các đơn vị đo trong đầu bài thành đơn vị của cùng một hệ đơn vị và
thực hiện các phéo tính toán.
Có thể trình bày lập luận theo hai phương pháp: phương pháp phân tích và
phương pháp tổng hợp.
Theo phương pháp phân tích: Thì ta bắt đầu từ điều phải tìm (ẩn số) xác
định mối liên hệ giữa những điều cho biết và điều phải tìm và cả những điều
trung gian chưa biết. Tiếp đó lại tìm mối liên hệ giữa những điều trung gian đã
biết khác. Cuối cùng tìm ra được mối liên hệ trực tiếp giữa điều phải tìm và
những điều đã cho biết.
Theo phương pháp tổng hợp: Ta đi từ những điều đã cho biết, xác định mối
liên hệ giữa những điều đã cho biết với một số điều trung gian không biết, tiếp
theo tìm mối liên hệ giữa những điều trung gian và điều phải tìm, cuối cùng xác
định được mối liên hệ trực tiếp giữa điều đã cho và điều phải tìm.
13
Đối với học sinh THCS chúng ta nên dùng phương pháp phân tích thì
học sinh dễ hiểu hơn, có thể định hướng sự tìm tòi của học sinh dễ dàng, có
hiệu quả hơn ở học sinh.
Bước 4: Bắt tay vào bài toán
- Dựa vào bước phân tích trên ta đã tìm được mối liên hệ giữa điều đã biết
và điều phải tìm (tức là học sinh đã tìm ra được công thức cho việc giải bài toán
đó thông qua các công thức đã học).
- Bây giờ chỉ còn sắp xếp lại các công thức đó và thay số. Tìm đại lượng
nào trước, dù là đại lượng trung gian hay trực tiếp thì đều phải ghi lời giải.
- Để ghi được lời giải thì ta phải dựa vào câu hỏi của bài toán hoặc tìm đại
lượng trung gian nào.
- Đại lượng nào bài toán cho chưa rõ ràng thì phải lập luận để sử dụng chúng.

tính. Trong bước này, chú ý phân tích kỹ để hiểu rõ những thuật ngữ đặc biệt của
bài (Bước này tất nhiên ai cũng phải thực hiện, nhưng nhiều học sinh mới đọc sơ
qua đã vội làm bài nên làm sai hoặc không thể làm được do chưa nắm hết dữ
kiện của bài ).
Bước 2: Phân tích hiện tượng vật lý
Trong bước này phải vẽ hình, điền các thông số trên hình vẽ, phân tích xem
quá trình vật lý xảy ra như thế nào, liên quan đến hiện tượng, định luật nào đã
học (Bước này vô cùng quan trọng, nhờ nó mà ta mới xác định được hướng
giải).
Bước 3: Lập các phương trình liên quan và tiến hành giải
Dựa vào các hiện tượng, định luật mà bài toán lập hệ cần thiết lập các
phương trình tương ứng. Kiểm tra số ẩn và số phương trình lập được nếu bằng
nhau thì đã đủ giải. Nếu thiếu thì dựa vào những dữ kiện chưa được sử dụng lập
hệ cho đủ ẩn số để giải.
Giải hệ phương trình để tìm những đại lượng mà bài yêu cầu (Chú ý, khi giải
cần tuân thủ đúng các quy tắc toán học, chẳng hạn khi khai căn phải lấy hai giá trị +,
-, …)
Bước 4 : Biện luận
15
Xét xem các nghiệm toán học tìm được có phù hợp với ý nghĩa vật lý
không, loại bỏ những nghiệm không phù hợp với vật lý.
c. Bài tập đồ thị
* Đặc điểm
Đó là bài tập mà dữ kiện đề bài cho dưới dạng đồ thị hay trong quá trình
giải nó ta phải sử dụng đồ thị ta có thể phân loại dạng câu hỏi này thành các loại:
Đọc và khai thác đồ thị đã cho: Bài tập loại này có tác dụng rèn luyện cho
học sinh kỹ năng đọc đồ thị, biết cách đoán nhận sự thay đổi trạng thái của vật
thể, hệ vật lý, của một hiện tượng hay một quá trình vật lý nào đó. Biết cách khai
thác từ đồ thị những dữ liệu để giải quyết một vấn đề cụ thể.
Vẽ đồ thị theo những dữ liệu đã cho: Bài tập này rèn luyện cho học sinh kỹ

e. Các bước chung để giải một bài tập vật lý
Phương pháp giải một bài tập vật lý phụ thuộc nhiều yếu tố: mục đích yêu
cầu của bài tập, nội dung bài tập, trình độ của các em, v.v… Tuy nhiên trong cách
giải phần lớn các bài tập vật lý cũng có những điểm chung.
Bước 1: Tìm hiểu đề bài
- Tìm hiểu ý nghĩa vật lý của các từ ngữ trong đề bài và diễn đạt lại bằng
ngôn ngữ vật lý.
- Biểu diễn các địa lượng vật lý bằng các ký hiệu, các chữ cái quen dùng
theo quy ước trong sách giáo khoa. Vẽ hình (nếu cần thiết).
- Tóm tắt đề bài: xác định dữ kiện đã cho và dữ kiện cần tìm của bài tập.
Bước 2: Phân tích hiện tượng vật lý
- Xác định xem hiện tượng nêu trong đề bài thuộc phần kiến thức vật lý nào,
có liên quan đến những khái niêm nào, định luật nào, quy tắc nào.
- Nếu gặp hiện tượng vật lý phức tạp thì cần phân tích ra thành những hiện
tượng đơn giản, chỉ bị chi phối bởi một nguyên nhân, một quy tắc hay một định
luật vật lý xác định.
- Tìm hiểu xem hiện tượng vật lý đó diễn biến qua những giai đoạn nào;
mỗi giai đoạn tuân theo những định luật nào, quy tắc nào.
Bước 3: Xây dựng lập luận cho việc giải bài tập
17
- Trình bày có hệ thống các lập luận logic để tìm ra mối liên hệ giữa dữ kiện
đã cho và dữ kiện cần tìm của bài tập. Có thể trình bày lập luận theo hai phương
pháp: phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp.
+ Phân tích là bắt đầu từ dữ kiện cần tìm, thông qua các mối quan hệ trung
gian, ta xác lập các mối quan hệ dần đến dữ kiện đã cho. Cuối cùng, ta tìm được
mối liên hệ trực tiếp giữa dữ kiện cần tìm và dữ kiện đã cho. Phương pháp này
giúp học sinh ở bậc trung học cơ sở dễ tiếp cận vấn đề hơn.
+ Tổng hợp là bắt đầu từ những dữ kiện đã cho, thông qua các mối quan hệ
trung gian, ta xác lập các mối quan hệ dần đến dữ kiện cần tìm. Cuối cùng, ta tìm
được mối liên hệ trực tiếp giữa dữ kiện đã cho và dữ kiện cần tìm.

Trong quá trình giảng dạy môn vật lý, một số giáo viên sử dụng phương pháp
chia nhóm học sinh để thảo luận và tìm ra kết quả cho câu hỏi mà giáo viên đã đặt
ra để rồi giáo viên thường kết luận là đúng, sai cho các câu trả lời của các thành
viên trong nhóm mà không giải thích, hướng dẫn gì thêm. Việc giảng dạy vật lý
như thế sẽ không đạt kết quả cao vì trong lớp có các đối tượng học sinh khá, giỏi,
trung b́ình yếu khác nhau nên khả năng tư duy của các em rất khác nhau, đối với
học sinh yếu, kém hay trung bình thì không thể tư duy kịp và nhanh như học sinh
khá, giỏi. Nên khi thảo luận các em chưa kịp hiểu vấn đề và nhất là khi thảo luận
nhóm giáo viên lại hạn chế thời gian hoặc thi xem nhóm nào đưa ra kết quả nhanh
nhất thì thường kết quả này là tư duy của học sinh khá giỏi trong nhóm. Vì thế nên
học sinh yếu, kém hầu như không hoạt động, suy nghĩ, tư duy gì dẫn đến các kỹ
năng của các em, hầu như không có hoặc có cũng rất yếu. Và với cách dạy đó nếu
giáo viên không chú trọng đến việc hướng dẫn học sinh phương pháp giải bài tập
vật lý thì học sinh sẽ đoán mò và không nắm vững kiến thức.
Hiện nay, giáo viên thường dành các tiết bài tập với cách là chữa bài tập cho
học sinh, thông thường giáo viên chữa những bài khó, bài tập điển hình. Giáo
viên thường trình bày một cách cận kẽ, chặt chẽ cho học sinh hiểu rồi vận dụng,
tức là học sinh bắt chước cách làm để giải các bài tương tự. Một số giáo viên
không tìm hiểu những vướng mắc, khó khăn ở chỗ nào khiến học sinh không giải
được. Khi trình bày bài giảng cũng không nói rõ mình suy nghĩ như thế nào để
tìm ra được lời giải. Cách làm như thế chỉ làm học sinh thuộc lòng bài giảng cụ
19
thể “thầy giảng bài nào thì trò biết bài ấy” chứ không không phát triển được khả
năng tư duy, suy nghĩ tìm tòi của bản thân học sinh.
Muốn khắc phục được lối dạy học truyền thụ một chiều đặt học sinh vào thế bị
động như thế thì giáo viên cần phải hướng dẫn học sinh suy nghĩ tìm lấy lời giải.
Suy nghĩ tìm lấy lời giải là một hoạt động diễn ra trong óc, không quan sát
được do giáo viên không làm mẫu để cho học sinh bắt chước được. Giáo viên chỉ
đưa ra những lời chỉ dẫn hoặc đưa ra những câu hỏi gợi ý để định hướng cho học
sinh suy nghĩ.

- Đa số đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm trong giảng dạy, học sinh chăm
ngoan, chịu khó học tập, có khả năng nhận thức nhanh, học tập hăng say và thực
sự có hứng thú trong việc học tập môn vật lý.
- Gia đình, nhà trường và xã hội quan tâm cùng phối hợp chặt chẽ, tạo điều kiện
thuận lợi nhất cho giáo viên và học sinh thực hiện việc dạy và học của mình.
b. Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi ở trên, việc dạy và học bộ môn vật lý cũng gặp
nhiều khó khăn như sau:
- Hiểu biết về quang học của học sinh còn hạn chế nên tiếp thu bài chậm,
lúng túng từ đó không nắm chắc được kiến thức, kỹ năng cơ bản, định lý, công
thức cho nên khó mà hoàn thiện được bài toán.
- Đa số các em chưa có định hướng chung về phương pháp dạy học lý
thuyết, biến đổi công thức hay phương pháp giải một bài toán vật lý.
- Kiến thức toán còn hạn chế nên không thể tính toán được mặc dù đã thuộc
lòng các công thức.
- Do phòng thí nghiệm, phòng thực hành còn thiếu, vẫn còn những giáo
viên vừa ra trường với kỹ năng và kinh nghiệm trong dạy học còn non kém.
- Một số học sinh còn có thái độ ham chơi, ỷ lại không tự giác, không tích
cực, không chủ động chiếm lĩnh tri thức.
- Một số gia đình chỉ chú trọng vào công việc làm ăn mà ít quan tâm tới
việc học hành của con em mình.
3. Điều tra thực tế giáo dục
Trong đợt thực tập vừa qua bản thân em đã thực hiện việc nghiên cứu và
tìm hiểu thực tế về chất lượng học tập bộ môn vật lý, đặt biệt là phần quang học
(lớp 7 và lớp 9) của học sinh THCS tại trường em được phân về thực tập. Qua đó
21
em thấy rằng việc học sinh tiếp thu và vận dụng các kiến thức phần quang học
còn rất hạn chế, kết quả chưa cao được. Sự nhận thức và ứng dụng vào thực tế
cũng như vận dụng vào việc giải các bài tập vật lý( đặc biệt là phần quang học)
còn yếu kém. Cụ thể là :

1.3. Các loại gương
a) Ảnh của một vật tạo bởi gương phẳng
Hình 1.1
- Ảnh ảo tạo bởi gương phẳng không hứng được trên màn chắn và lớn bằng vật.
- Khoảng cách từ một điểm của vật đến gương phẳng bằng khoảng cách từ
ảnh của điểm đó đến gương.
23
- Các tia sáng từ các điểm sáng S tới gương phẳng cho tia phản xạ có đường
kéo dài đi qua ảnh ảo S’.
b) Gương cầu lồi
Hình 1.2
- Ảnh ảo tạo bởi gương cầu lồi nhỏ hơn vật.
- Vùng nhìn thấy của gương cầu lồi rộng hơn vùng nhìn thấy của gương
phẳng có cùng kích thước.
c) Gương cầu lõm
Hình 1.3
- Ảnh ảo của gương cầu lõm lớn hơn vật.
- Gương cầu lõm có tác dụng biến đổi một chùm tia tới song song thành một
chùm tia phản xạ hội tụ vào một điểm và ngược lại, biến đổi một chùm tia tới
phân kỳ thích hợp thành một chùm tia phản xạ song song.
2. Nội dung kiến thức chương quang học lớp 9
2.1. Thấu kính
a) Phân loại thấu kính
* Theo đặc điểm về hình dạng: Thấu kính có phần rìa mỏng hơn phần giữa
và thấu kính có phần rìa dày hơn phần giữa.
* Theo đặc điểm quang học
24
- Thấu kính hội tụ (rìa mỏng): biến chùm sáng song song thành chùm sáng
hội tụ.
- Thấu kính phân kỳ( rìa dày): biến chùm sáng song song thành chùm sáng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status