SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“VIỆC ĐỔI MỚI, SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC MÔN
LỊCH SỬ LỚP 7”
1
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thiết bị dạy học là điều kiện không thể thiếu được cho việc triển khai chương trình,
Sách giáo khoa nói chung và đặc biệt cho việc triển khai đổi mới phương pháp dạy học
vào hoạt động tích cực, chủ động của học sinh. Đáp ứng yêu cầu này, phương tiện dạy
học – thiết bị dạy học phải tạo điều kiện thuân lợi nhất cho học sinh thực hiện các hoạt
động độc lập trong quá trình chiếm lĩnh tri thức của môn học, nhất là môn lịch sử đối với
học sinh nói chung và học sinh bậc trung học cơ sở nói riêng.
2
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cơ sở lí luận
Căn cứ vào đặc điểm của qúa trình nhận thức : Con đường nhận thức tri thức đi từ
trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn mà thiết
bị dạy học là phương tiện trực quan sinh động nhất là tranh, ảnh, lược đồ – bản đồ…
trong giảng dạy lịch sử là đồ dùng trực quan sinh động để tái hiện sự kiện lịch sử.
Quán triệt mục tiêu giáo dục của nước ta, luật giáo dục năm 2005 đã xách định mục
tiêu giáo dục phổ thông ở nước ta là: “ Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ về nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất
năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.”
Căn cứ vào đặc trưng cơ bản của môn học lịch sử ở trường phổ thông:học tập lịch
sử là quá trình nhận thức những điều đã diễn ra trong quá khứ của xã hội, để hiểu về hiện
tại và chuẩn bi cho tương lai. Khác với giới tự nhiên, lịch sử xã hội loài người không thể
trực tiếp quan sát và cũng không thể khôi phục lại diễn biến lịch sử trong phòng thí
nghiệm. Mặt khác, lịch sử là những sự việc đã diễn ra, là hiện thực trong quá khứ, tồn tại
một cách khách quan, không thể thông qua “phán đoán”, “suy luận”…để biết lịch sử. Vì
khả quan như sau
1. Đổi mới việc sử dụng thiết bị dạy học lịch sử
Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử đòi hỏi được đổi mới cả về thiết bị dạy học và
phương pháp sử dụng
1.1 Thực trạng việc sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học môn lịch sử ở trường
THCS Khánh Thượng.
Trường THCS Khánh Thượng là trường thuộc xã miền núi , thực hiện qui chế thiết bị
giáo dục, ban hành theo quyết định số 41/2000 /QĐ/BGD&ĐT ngày 24 tháng 3 năm
2000 qui định:
- Thực hiện đầy đủ những bài thực hành qui định trong chương trình và sách giáo
khoa
- Sử dụng thành thạo thiết bị giáo dục theo tài liệu hướng dẫn sử dụng của nhà sản
xuất, nhà cung ứng
- Có kế hoạch chuẩn bị trước thiết bị theo danh mục thiết bị tối thiểu
- Mua vật liệu tiêu hao, tự sưu tầm, tự làm thiết bị cần thiết
- Nghiên cứu làm thử thiết bị cần thiết trước khi lên lớp
5
Thiết bị dạy học môn lịch sử rất đa dạng, phong phú: Tranh , ảnh, lược đồ. Mẫu vật
, băng hình… ở đây tôi quan tâm đến việc sử dụng lược đồ – loại thiết bị thường được sử
dụng trong việc giảng dạy lịch sử
Thiết bị dạy học tuy phong phú về chủng loại nhưng thực tế ở trường tôi, thiết bị
dạy học môn lịch sử được sử dụng chủ yếu là các loại bản đồ và lược đồ lịch sử. Song số
lượng thiếu nhiều, hình thức chưa đảm bảo thẩm mĩ; Một thực tế: Việc sử dụng thiết bị
dạy học do có nhiều lí do khác nhau nên chưa trở thành nhu cầu thường xuyên. Do vậy
ngay sau khi nhận chuyên môn, tôi đã liên hệ với bộ phận phụ trách thiết bị để nắm vững,
phân loại danh mục thiết bị hiện có để có kế hoạch chuẩn bị , sử dụng
Cụ thể:
Bảng danh mục lược đồ môn lịch sử lớp 7 ( được cấp )
STT Tên thiết bị Dùng cho bài dạy
1 Lược đồ các cổ đại phương đông phương tây Bài 1:SGK T3
1 Lược đồ Đông Nam á thế kỉ XIII – XV SGK T22 Tổ 1 - 7B
2 Lược đồ 12 sứ quân SGK T26 Tổ 2- 7B
3 Trận chiến tại phòng tuyến Như Nguyệt SGK T43 Tổ 3 – 7B
4 Khởi nghĩa Nông dân nửa cuối thế kỉ XIV SGK T76 Tổ 4 – 7B
5 Đường tiến quân ra bắc của khỏi nghĩa Lam Sơn
SGK T86
Tổ 1 – 7C
6 Lược đồ hành chính nước Đại Việt thời Lê Sơ SGK
T95
Tổ 2 – 7C
7 Phong trào nông dân khởi nghĩa thế kỉ XVI SGK
T105
Tổ 3 – 7C
8 Nơi diễn ra các cuộc khởi nghĩa nông dân ở đàng Tổ4 – 7C
7
ngoài thế kỉ XVIII SGK T118
9 Căn cứ địa của nghĩa Tây Sơn SGK T121 Tổ 1 – 7A
10 Lược đồ Tây Sơn khởi nghĩa chống các thế lực
phong kiến và chống xâm lược nước ngoài SGK
T123
Tổ 2 – 7A
11 Lược đồ các đơn vị hành chính việt Nam thời
Nguyễn (1832) SGK T135
Tổ 3 – 7A
12 Lược đồ những nơi bùng nổ cuộc nổi dạy của nhân
dân chống vương triều Nguyễn thế kỉ XIX SGK
T140
Tổ 4 – 7A
Như vậy, qua việc thực hành vẽ lược đồ giúp học sinh tiếp cận vối bản đồ
lịch sử; rèn kĩ năng ứng dụng và chuẩn bị được lượng lược đồ bổ xung vào kho
ngay cửa ải biên giới. Do các tướng Lưu Kì, Thâ Cảnh Phúc, Lí Kế Nguyên chỉ huy.
Sau khi bị chặn đánh ở ải Lí Quyết (Lạng Sơn) và bị đánh tơi bời ở ven biển Quảng
Ninh, Quân Tống tập trung lực lượng cố tiến về Thăng Long, nhưng chúng đã gặp phải
phòng tuyến rất kiên cố, vững chắc của quân ta.
9
Đến đây giáo viên nêu câu hỏi: Đó là phòng tuyến nào? Hãy cho biết nét chính về
phòng tuyến đó?
- Học sinh trả lời câu hỏi.
- Giáo viên nhận xet, trình bày: Đó là phòng tuyến trên sông Như Nguyệt.
Phòng tuyến Như Nguyệt được xây dựng trên sông Như Nguyệt (đoạn sông Cầu chảy
qua huyện Hiệp Hoà - Bắc Giang và Yên Phong – Bắc Ninh). Nhìn trên lược đồ, chúng ta
thấy phòng tuyến Như Nguyệt được xây dựng ở ngay đoạn sông mà các con đường từ
phía Bắc về Thăng Long đều phải đi qua, phòng tuyến dài gần 100km, được đắp cao, có
hàng rào tre dày đặc, chắc chắn, chạy dài từ sườn đông bắc dãy núi Tam Đảo đến sườn
tây dãy núi Nham Biền (Yên Dũng – Bắc Giang), dưới sông có thuỷ quân, trên thành có
quân đóng và tuần tiễu, tập trung ở bến sông và nơi có đường giao thông đi qua.
Tiếp theo giáo viên yêu cầu học sinh trình bày những nét chính về diễn biến cuộc
kháng chiến chống Tống trên lược đồ.
Sau khi học sinh trình bày, giáo viên nhận xét và hoàn chỉnh tường thuật diễn biến
như sau:
Đến tháng 1 năm 1077, quân Tống tiến tới bờ bắc sông Cầu, cánh quân phải tập
trung ở bến Như Nguyệt, cánh quân trái đóng ở Thị Cầu, hai lần quân Tống đóng bè tiến
sang bờ nam nhưng đều bị quân ta đánh trả quyết liệt phải lui về bờ bắc. Thồi gian kéo
dài, quân Tống mệt mỏi, ốm đau, bệnh tật và khủng hoảng về tinh thần bởi nỗi ám ảnh từ
bài Thơ Thần trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát. Chính lúc đó, quân ta do Lí
Thường Kiệt chỉ huy, quân địch 10 phần chết 5 hoặc 6 phần.
Đến tháng 2-1077, sau khi được quân ta chủ động, đề nghị giảng hoà, quân Tống
vội vã rút quân về nước. Cuộc kháng chiến chống Tống kết thúc thắng lợi.
Kết quả:
10