thiết kế phân xưởng cracking xúc tác năng suất 5.000.000 tấn/năm - Pdf 26

Cracking xúc tác 5 triệu tấn/năm
[Type text] Page 1
Cracking xúc tác 5 triệu tấn/năm
LỜI MỞ ĐẦU
Trên thế giới, tại bất kỳ một quốc gia nào xăng dầu luôn là hàng hoá đặc
biệt quan trọng của nền kinh tế quốc dân và quốc phòng
Ngày nay trong bối cảnh Việt Nam đang không ngừng phát triển đổi mới
và vươn lên con đường công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, với các máy
móc,thiết bị và công nghệ mới thì vai trò của xăng dầu ngày càng được quan
tâm đặc biệt hơn.
Để đáp ứng kịp thời khối lượng xăng tiêu thụ ngày càng lớn ,người ta đã
đưa ra phương pháp cracking xúc tác vào công nghiệp chế biến dầu mỏ,vì do
quá trình chưng cất khí quyển, chưng cất chân không hay cracking nhiệt, khối
lượng xăng thu được vẫn không đáp ứng kịp thời được nhu cầu của thị trường.
Nhằm thoả mãn nhu cầu nhiên liệu ngày một tăng, nghành công nghiệp chế
biến dầu mỏ đã ra sức cải tiến, hoàn thiện quy trình công nghệ , đồng thời áp
dụng những phương pháp chế biến sâu trong dây chuyền sản xuất nhằm chuyển
hoá dầu thô tới mức tối ưu thành nhiên liệu và những sản phẩm quan trọng khác.
Một trong những phương pháp hiện đại được áp dụng rộng rãi trong các nhà
máy chế biến dầu hiện này trên thế giới là quá trình cracking xúc tác.Lượng dầu
mỏ được chế biến bằng cracking xúc tác chiếm một tỷ lượng tương đối
lớn(khoảng 50%),ngày càng phát triển về số lượng,chất lượng và cải tiến công
nghệ.
Với bản đồ án chuyên ngành thiết kế phân xưởng cracking xúc tác năng
suất 5.000.000 tấn/năm mà em được giao, hy vọng rằng sẽ bổ xung thêm được
kiến thức để góp phần nhỏ bé vào công cuộc đổi mới đất nước.
SVTH : Hoàng Văn Hiếu Trang 2
2
Cracking xúc tác 5 triệu tấn/năm
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

Cracking xúc tác 5 triệu tấn/năm
yếu là phần cất nặng hơn từ các quá trình chưng cất trực tiếp AD (Atmotpheric
Distillation) và VD (Vacuum Distillation) của dầu thô. Đồng thời ngoài mục
đích nhận xăng người ta còn nhận được cả nguyên liệu có chất lượng cao cho
công nghệ tổng hợp hoá dầu và hoá học. Ngoài ra còn thu thêm một số sản phẩm
phụ khác như gasoil nhẹ , gasoil nặng, khí (chủ yếu là các phần tử có nhánh),
đây là các cấu tử quý cho tổng hợp hoá dầu.
I.1.3.Vai trò của quá trình cracking xúc tác và các điều kiện công nghệ
[1,107]
Quá trình cracking xúc tác là quá trình không thể thiếu được trong bất kỳ
một nhà máy chế biến dầu nào trên thế giới, vì quá trình này là một trong các
quá trình chính sản xuất xăng có trị số octan cao. Xăng thu được từ qúa trình này
được dùng để phối trộn với các loại xăng khác để tạo ra các mác xăng khác
nhau. Khối lượng xăng thu từ quá trình chiếm tỷ lệ rất lớn khoảng 70-80% so
với tổng lượng xăng thu từ các quá trình chế biến khác.
Quá trình cracking xúc tác được tiến hành ở điều kiện công nghệ là :
Nhiệt độ : 470
0
C – 550
0
C
Áp suất trong vùng lắng của lò phản ứng : 0,27 MPa
Tốc độ không gian thể tích truyền nguyên liệu : 1 – 120 m
3
/m
3
. h
(tùy thuộc vào dây truyền công nghệ)
Tỷ lệ xúc tác/nguyên liệu : 4 – 9/1
Bội số tuần hoàn nguyên liệu : Có thể cần hoặc không tuỳ thuộc mức độ

Theo cơ chế này các phản ứng cracking xúc tác diễn ra theo ba giai đoạn
sau:
Giai đoạn 1 : Giai đoạn tạo ion cacboni.
Giai đoạn 2 : Các phản ứng của ion cacboni (giai đoạn biến đổi ion cacboni
tạo thành các sản phẩm trung gian ).
Giai đoạn 3 : Giai đoạn dừng phản ứng.
I.2.2.1.Giai đoạn tạo thành ion cacboni
Ion cacboni tạo ra do sự tác dụng của olefin, hydrocacbon parafin,
hydrocacbon naphten , hydrocacbon thơm với tâm axit của xúc tác.
• Từ olefin
Ion cacboni tạo ra do sự tác dụng của olefin với tâm axít Bronsted của xúc
tác.
+
H
+
(xt)
+
R
1
CH C R
2
+
(xt)
H
R
1
CH C R
2
H H
SVTH : Hoàng Văn Hiếu Trang 5

lớn. Các olefin tạo thành đó lập tức tác dụng với tâm axit rồi tạo ra ion cacboni.
Ion cacboni tạo thành trong các phản ứng tuân theo quy tắc nhất định. Như
khi olefin tác dụng với H
+
(xt) thì xác suất tạo alkyl bậc hai lớn hơn alkyl bậc
một.
Khi olefin có liên kết đôi ở cacbon bậc 3 thì ion cacboni bậc 3 dễ tạo thành
hơn ở cacbon bậc hai.
• Từ hydrocacbon parafin:
+
H
+
R
1
CH
2
CH
2
R
2
(xt)
+
R
1
CH
2
CH R
2
H
2

+
Al O Si
O
O
hoặc là:
• Từ hydrocacbon naphten:
Khi hydrocacbon naphten tác dụng với tâm axit của xúc tác hay các ion
cacboni khác sẽ tạo ra các ion cacboni mới tương tự như quá trình xảy ra với
parafin.
• Từ hydrocacbon thơm người ta quan sát thấy sự kết hợp trực tiếp của H
+
vào
nhân thơm:
Các hydrocacbon thơm có mạch bên đủ dài thì sự tạo thành ion cacboni
cũng giống như trường hợp parafin.
Thời gian sống của các ion cacboni được tạo ra dao động từ phần triệu giây
đến hàng phút. Các ion cacboni này tạo ra nằm trong lớp các phần tử hấp phụ,
chúng là những hợp chất trung gian rất hoạt động đối với nhiều phản ứng xảy ra
khi cracking.
I.2.2.2. Giai đoạn biến đổi ion cacboni
Giai đoạn biến đổi ion cacboni tạo thành sản phẩm trung gian. Ion
cacboni có thể biến đổi theo các phản ứng sau:
R CH
2
CH CH
3
+
CH
3
R C CH

+
bậc 2 > > C
3
+
bậc 1
Độ bền của ion cacboni sẽ quyết định mức độ tham gia các phản ứng tiếp
theo của chúng. Vì các ion cacboni bậc 3 có độ bền cao nhất nên sẽ cho phép
nhận hiệu suất cao các hợp chất iso- parafin.
Đồng thời các ion cacboni nhanh chóng lại tác dụng với các phân tử trung
hoà olefin ( C
m
H
2m
) hay parafin (C
m
H
2m +2
) tạo thành các ion cacboni mới.
Phản ứng cracking theo quy tắc β: các ion cacboni có số nguyên tử cacbon
lớn xảy ra sự phân huỷ và đứt mạch ở vị trí β so với nguyên tử cacbon mang
điện. Sản phẩm phân huỷ là một phân tử hydrocacbon trung hoà và ion cacboni
mới có số nguyên tử cacbon nhỏ hơn.
R C C C C C C
+
C
C
[A]
[B]
[C]
β

sau:
C
C C
+
C
CH C
+
+
C
C C
C
+
H
Như vậy trong hydrocacbon thơm hiệu ứng tích điện ở nhân thơm là
nguyên nhân quan trọng hơn so với nguyên nhân là sự biến đổi ion cacboni bậc
hai thành bậc ba.
Các ion cacboni là đồng đẳng của benzen, mạch bên càng dài thì tốc độ
đứt mạch xảy ra càng lớn và càng dễ.Ví dụ như Ion cacboni izo-butyl benzen có
tốc độ đứt mạch lớn hơn 10 lần so với izo-propyl benzen.
Các nhóm metyl, etyl khó bị đứt ra khỏi nhân hydrocacbon thơm (vì năng
lượng liên kết lớn) và do đó khó tạo được CH
3
+
và C
2
H
5
+
. Điều này giải thích
được tại sao xăng cracking xúc tác hàm lượng hydrocacbon thơm có mạch

Trong công nghiệp cracking xúc tác người ta có thể sử dụng một trong các
nhóm nguyên liệu sau:
• Nhóm 1:Phân đoạn kerosen-sola nhận được từ quá trình chưng cất trực
tiếp và có giới hạn sôi từ 210 đến 360
0
C.Chúng có tỷ trọng trung bình từ 0,830
đến 0,860.Trọng lượng phân tử trung bình khoảng 190-200.Đây là nhóm nguyên
liệu tốt nhất dùng để sản xuất xăng oto và xăng máy bay.
• Nhóm 2: Là nhóm nguyên liệu lấy từ phân đoạn gasoil chưng cất chân
không có nhiết độ sôi từ 300 đến 500
0
C ( hay 550
0
C),tỷ trọng trung bình từ
0,880 đến 0,920,trọng lượng phân tử trung bình 280-330.
• Nhóm 3: Là nhóm nguyên liệu có phần cất rộng,có giới hạn sôi từ 210-
500
0
C
• Nhóm 4: Là nhóm nguyên liệu có nhiệt độ sôi từ 300 đến 450
0
C.
SVTH : Hoàng Văn Hiếu Trang 10
10
Cracking xúc tác 5 triệu tấn/năm
Trong số các nhóm nguyên liệu trên thì nhóm gasoil chân không là phổ biến
nhất cho quá trình cracking xúc tác.Trong những năm gần đây khi nguyên liệu
tốt ngày một cạn dần và nhất là khi chế tạo được xúc tác cracking mới và công
nghệ mới có hiệu quả hơn,người ta tiến tới sử dụng nguyên liệu nặng hơn,chất
lượng xấu hơn mà vẫn cho phép nhận xăng với năng suất cao và chất lượng

Muối Nacl,mg/l 22
Độ axít, mg KOH/g 0,05
Naphta nhẹ (C
5
-95
0
C)
Hiệu suất trên dầu thô, %tl 2,3
Tỷ trọng ở 15
0
C, Kg/l 0,6825
Lưu huỳnh, %tl 0,001
Mercaptan,%tl 0,0002
Parafin,%tl 75,2
SVTH : Hoàng Văn Hiếu Trang 11
11
Cracking xúc tác 5 triệu tấn/năm
Naphten,%tl 18,4
Thơm,%tl 6,4
N-parafin,%tl 42,0
Naphta nặng (C
5
-149
0
C)
Hiệu suất trên dầu thô, %tl 10,1
Tỷ trọng ở 15
0
C, Kg/l 0,7285
Lưu huỳnh, %tl 0,001

Độ axít, mg KOH/g 0,01
Trị số xêtan 47,6
Cặn (342 – 550
0
C) Tại 550
0
C
Hiệu suất trên dầu thô,%V 14,2
Khối lượng riêng ở 15
0
C, Kg/l
0,811
Lưu huỳnh,%Kh.l 0,07
Nitơ,ppm 1350
Asphanten,% Kh.l 0,05
SVTH : Hoàng Văn Hiếu Trang 12
12
Cracking xúc tác 5 triệu tấn/năm
Hợp chất no,% Kh.l 58
Hợp chất thơm,%Kh.l 15
II.3.SẢN PHẨM THU ĐƯỢC TỪ QÚA TRÌNH CRACKING
XÚC TÁC [1,125] [2,102]
Hiệu suất và đặc tính của các sản phẩm trong cracking xúc tác phụ thuộc
vào bản chất nguyên liệu, chất lượng xúc tác và chế độ công nghệ. Sản phẩm
chính của quá trình là xăng, ngoài ra còn thu thêm một số sản phẩm phụ như khí,
gasoil nặng, gasoil nhẹ.
II.3.1. Sản phẩm khí cracking xúc tác
Hiệu suất khí cracking xúc tác chiếm khoảng 10 - 15% lượng nguyên liệu
đem cracking,có thể dao động phụ thuộc vào điều kiện cracking.Nếu cracking
xúc tác ở điều kiện cứng ( nhiệt độ cao, tốc độ nạp liệu nhỏ, bội số tuần hoàn

5
được
pha vào xăng.
SVTH : Hoàng Văn Hiếu Trang 13
13
Cracking xúc tác 5 triệu tấn/năm
II.3.2. Xăng cracking xúc tác
Đây là sản phẩm chính của quá trình cracking xúc tác, hiệu suất xăng
thường dao động trong khoảng từ 30 -35% lượng nguyên liệu đem vào cracking.
Hiệu suất và chất lượng xăng phụ thuộc vào chất lượng nguyên liệu, xúc tác, chế
độ công nghệ.
_Nếu nguyên liệu có nhiều naphten thì xăng thu được có chất lượng cao.
_Nếu nguyên liệu có nhiều parafin thì xăng thu được có trị số octan thấp.
_Nếu nguyên liệu có nhiều lưu huỳnh thì trong xăng thu được cũng có
nhiều lưu huỳnh (thường chiếm 15% tổng lượng lưu huỳnh có trong nguyên
liệu).
Xăng cracking xúc tác có các đặc trưng sau:
_Tỷ trọng 0,72-0,77.
_ Trị số octan 87-91 (theo RON).
_Thành phần hóa học : 9-10% olefin,20-30% aren còn lại là naphten và
iso-parafin.
II.3.3. Sản phẩm gasoil nhẹ
Gasoil nhẹ là sản phẩm phụ của quá trình,có nhiệt độ sôi khoảng 175-
350
0
C.So sánh với nhiên liệu diesel thì nó có trị số cetan thấp.Tuy nhiên chất
lượng sản phẩm còn phụ thuộc vào nguyên liệu đem cracking ,chất lượng xúc
tác,chế độ công nghệ.
Sản phẩm gasoil nhẹ này thường dùng làm nhiên liệu diezel, làm nguyên
liệu pha vào mazut làm tăng chất lượng của dầu mazut.

III.1.XÚC TÁC TRICLORUA NHÔM AlCl
3
[2,119]
Triclorua nhôm cho phép tiến hành phản ứng ở nhiệt độ 200-300 ̊ C,dễ chế
tạo.Nhược điểm là xúc tác bị mất mát do tạo phức với hydrocacbon của nguyên
liệu,điều kiện tiếp xúc giữa xúc tác với nguyên liệu không tốt,cho hiệu suất và
chất lượng xăng thấp.
III.2.ALUMINOSILICAT VÔ ĐỊNH HÌNH [2,119]
Ban đầu người ta sử dụng đất sét bentonit,song hiệu suất chuyển hóa
thấp.Sau đó dùng aluminosilicat tổng hợp,xúc tác này có hoạt tính cao hơn.Hiện
nay chủ yếu dùng zeolit hoặc xúc tác aluminosilicat chứa zeolite.
III.3.ZEOLIT VÀ XÚC TÁC CHỨA ZEOLIT[1,117]
Hiện nay trong công nghệ cracking xúc tác người ta chủ yếu dùng xúc tác
chứa zeolite bởi có hoạt tính cao,độ chọn lọc tốt,giá thành vừa phải.
Trong công nghiệp cracking xúc tác thường dùng zeolit loại X,Y có chứa các
nguyên tố đất hiếm hay ở dạng đã trao đổi ion và được xử lý bằng các phương
SVTH : Hoàng Văn Hiếu Trang 15
15
Cracking xúc tác 5 triệu tấn/năm
pháp đặc biệt,đồng thời kết hợp với các thành phần làm tăng độ bền cơ,bền nhiệt
hay điều chỉnh kích thước lỗ xốp. Zeolit có hoạt tính cracking lớn vì thế người ta
dùng nó ở dạng hỗn hợp với xúc tác vô định hình hay aluminosilicat tinh thể và
được gọi là xúc tác chứa Zeolit.Trong sản xuất thường trộn 10-20% khối lượng
zeolit ,và với hợp phần như vậy xúc tác đã hoạt động hơn hẳn aluminosilicat
thông thường,hơn nữa các chỉ tiêu kinh tế cũng đạt tốt hơn. Người ta chế tạo xúc
tác chứa zeolit ở hai dạng chính :dạng cầu và dạng bột.Xúc tác dạng bột và sau
đó cải tiến thành xúc tác vi cầu thường áp dụng cho quá trình cracking lớp
sôi(FCC),còn xúc tác dạng cầu với kích thước hạt từ 3 đến 5mm thường dùng
cho quá trình cracking xúc tác chuyển động (TCC).Ngoài yêu cầu về độ hoạt
tính cao,xúc tác còn phải đáp ứng các yêu cầu khác như phải bền nhiệt,bền

khoảng 72% năm 1995 và 10 năm sau đã tăng lên tới 82% so với toàn bộ
cracking xúc tác, còn ở các nước phát triển khác ở Tây âu, tỷ lệ này chiếm vào
khoảng 79%.
Trong 10 năm gần đây, xu hướng vẫn tiếp tục xây dựng phân xưởng
cracking xúc tác lớp sôi với công suất lớn từ 4,2 đến 5,2 triệu m
3
/năm. Do công
suất lớn nên vốn đầu tư cũng như chi phí sản xuất cho 1 m
3
nguyên liệu đưa vào
rẻ hơn.
SVTH : Hoàng Văn Hiếu Trang 17
17
Cracking xúc tác 5 triệu tấn/năm
IV.2. PHÂN TÍCH LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ CRACKING
XÚC TÁC
Qua lịch sử phát triển của quá trình cracking xúc tác, đồng thời qua phân
tích đánh giá các yêu cầu khác như chế độ làm việc, nguyên liệu xúc tác ta
thấy quá trình FCC có rất nhiều ưu điểm và thuận lợi, hệ thống này được sử
dụng ngày càng phổ biến trong công nghiệp dầu mỏ, nó được các hãng công
nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực này như UOP, Kellogg, Shell, IFP, Exxon
nghiên cứu để hoàn thiện hơn nhằm mục đich đạt năng suất hiệu quả cao nhất,
sử dụng nguyên liệu nặng hơn, tiết kiệm được xúc tác và phải là kinh tế nhất.
Qua thực tế dùng hệ thống cracking xúc tác lớp sôi sử dụng xúc tác dạng
bụi hay vi cầu, người ta thấy nó có nhiều ưu điểm hơn hệ thống cracking xúc tác
trong lớp xúc tác chuyển động. Những ưu điểm đó là:
Các thiết bị chính của quá trình là thiết bị phản ứng và thiết bị tái sinh đều
có cấu tạo rất đơn giản, so với các dạng thiết bị khác của quá trình cracking thực
tế chúng là hình rỗng.
Sự tuần hoàn xúc tác từ thiết bị phản ứng đến thiết bị tái sinh và ngược lại

20
Cracking xúc tác 5 triệu tấn/năm
Hình IV.1.Sơ đồ FCC với thời gian tiếp xúc ngắn
Nguyên liệu mới từ bể chứa nguyên liệu được cho qua thiết bị trao đổi
nhiệt ống chùm. Nguyên liệu mới có thể đem trộn với một phần tuần hoàn HCO
( phân đoạn dầu nặng của quá trình cracking xúc tác ) và cặn đáy ở thiết bị 3,
sau đó cho qua lò đốt nóng nguyên liệu cracking.Nguyên liệu cracking 5 được
tiếp xúc với xúc tác nóng đã tái sinh 6 ở đáy của ống đứng , khi đó nguyên liệu
bay hơi cùng với hỗn hợp của hơi nóng và xúc tác được đi lên phía trên tới đỉnh
của ống đứng, đồng thời xảy ra các phản ứng cracking xúc tác. Hầu hết nguyên
liệu đều tham gia phản ứng và chuyển hoá trong ống đứng, còn thiết bị phản ứng
được được dùng như một thiết bị tách xúc tác và hơi hydrocacbon. Một bộ phận
được thiết kế đặc biệt, bố trí gần van chặn, dùng hơi nước để thổi xúc tác và dầu
điều này sẽ hạn chế mức tối đa hiện tượng trộn quay trở lại của xúc tác và hơi
khí đã làm việc.Sau khi tách khỏi xúc tác, hơi sản phẩm nóng 7 được chuyển
sang cột phân đoạn . Xúc tác đã làm việc 8 được cho qua vùng tách hơi ( còn gọi
là bộ phận rửa xúc tác) bằng cách thổi hơi nước vào.Bộ phận rửa không chỉ làm
nhiệm vụ đuổi hết hydrocacbon hấp phụ trên xúc tác mà còn làm tơi các hạt xúc
tác để chúng không dính vào nhau trước khi sang lò tái sinh.Tốc độ hơi cần
được điều chỉnh thích hợp và cần phải kiểm tra chặt chẽ thời gian lưu của xúc
tác trong bộ phận rửa để tránh phải dùng quá nhiều không khí trong lò tái sinh.
SVTH : Hoàng Văn Hiếu Trang 21
21
Cracking xúc tác 5 triệu tấn/năm
Áp suất trong thiết bị phản ứng được khống chế bằng bộ phận điều chỉnh áp suất
của cột phân đoạn.
IV.3.2.Lò tái sinh và khối tận dụng nhiệt của khói lò
Xúc tác có chứa cốc 8 được chuyển qua van điều khiển và khống chế bởi
độ kiểm tra mức xúc tác ở trong lò phản ứng,sau đó đi vào lò tái sinh . Xúc tác
vào lò tái sinh. Xúc tác vào lò tái sinh theo hướng tiếp tuyến với thành lò. Mục

4
chứa nhiều
propen và buten được dùng làm nguyên liệu cho dây chuyền alkyl hoá và sản
phẩm tiếp theo là xăng đã khử butan.
Từ cột phân đoạn chính ta còn nhận được naphta nặng , LCO, HCO. Phần
HCO có thể cho tuần hoàn lại ống đứng của thiết bị phản ứng và sản phẩm cuối
cùng là phần dầu cặn đã được làm sạch khỏi bùn xúc tác.
SVTH : Hoàng Văn Hiếu Trang 22
22
Cracking xúc tác 5 triệu tấn/năm
CHƯƠNG V : TÍNH TOÁN THIẾT BỊ
V.1. TÍNH LÒ PHẢN ỨNG
V.1.1 Tính cân bằng vật chất
G
NL
G
k
G
x
G
gnh
G
c
G
mm
G
gn
Cân bằng vật chất của lò phản ứng
Tổng lượng vật chất vào lò phản ứng bằng tổng lượng vật chất ra khỏi lò
phản ứng :G

G
x
: Lượng sản phẩm xăng tạo thành (T/h)
G
gnh
: Lượng gasoil nhẹ (T/h)
G
gn
: Lượng gasoil nặng (T/h)
G
mm
: Lượng mất mát (T/h)
Phân xưởng cracking xúc tác có năng suất 5.000.000 tấn/năm với nguyên
liệu là lấy từ phần cặn của dầu thô Bạch Hổ. Ta coi thời gian làm việc của phân
xưởng trong 1 năm là 8000 h.
Năng suất của phân xưởng tính theo giờ sẽ là : G
NL
= = 625 (Tấn/h)
Chọn hiệu suất xăng ( tính theo % khối lượng nguyên liệu mới ) là
SVTH : Hoàng Văn Hiếu Trang 23
23
Cracking xúc tác 5 triệu tấn/năm
X
x
= 45,1% khối lượng nguyên liệu mới
Chọn hiệu suất cốc X
c
= 1,7% khối lượng nguyên liệu mới
Chọn hiệu suất khí khi cracking là X
k

Lượng gazoil nặng là :
G
gn
= G
NL
. 0,125 = 625. 0,125 = 78,125 (Tấn/h)
Lượng cốc là :
G
c
= G
NL
× 0,017 = 625. 0,017 = 10,625 (Tấn/h)
Lượng mất mát là :
G
m
= G
NL
× 0,01 = 625. 0,01 = 6,25 (Tấn/h)
Vậy tổng lượng sản phẩm và mất mát là:
G
ra
= G
k
+ G
x
+ G
gnh
+ G
gn
+ G

Xác định lượng tiêu hao hơi nước.
Hơi nước sử dụng trong quá trình là hơi quá nhiệt
Để điều chỉnh mật độ của hỗn hợp hơi nguyên liệu và xúc tác ở trong ống
vận chuyển ta dùng hơi nước và nó tiêu tốn khoảng 0,4 -2,0% trọng lượng tính
theo tải trọng của lò phản ứng. Ta chọn tiêu tốn hơi nước để điều chỉnh mật độ
hỗn hợp là 1,6% trọng lượng theo nguyên liệu. Vậy lượng hơi nước tiêu hao
trong trường hợp này là :
G
n1
= 0,016 .625 = 10 (Tấn/h.)
Hơi nước dùng để tách hơi sản phẩm cracking ra khỏi xúc tác trước khi đưa
vào lò tái sinh trong vùng tách. Tiêu tốn trong trường hợp này vào khoảng 5 -10
kg để tách được 1 tấn xúc tác có dính cốc. Ta chọn giá trị là 7 kg /1tấn xúc tác.
Như vậy lượng hơi nước tiêu tốn sẽ là :
G
n2
= 7.3750 =26250 (Kg/h)
=26,25 (tấn/h)
Vậy lượng hơi nước tiêu tốn tổng cộng là:
G
H2Ohv
= G
n1
+ G
n2
= 10 +26,25 = 36,25 (Tấn/h)
SVTH : Hoàng Văn Hiếu Trang 25
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status