314 Sử dụng Một số công cụ Marketing trực tiếp để nâng cao hiệu quả kinh doanh của chi nhánh Công ty nước khoáng Cúc Phương tại Hà Nội - Pdf 26

Lời nói đầu
Những năm gần đây, nền kinh tế nớc ta có sự chuyển biến tích cực, từ nền
kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trờng sự quản lý của có sự quản lý
của Nhà nớc. Trong điều kiện đổi mới này, Marketing ngày càng trở thành hệ
thống chức năng có vị trí quan trọng đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất
kinh doanh .
Marketing giúp cho doanh nghiệp linh hoạt trong sản xuất kinh doanh, nắm
bắt đợc thời cơ, nắm bắt đợc nhu cầu khách hàng, từ đó hoạt động sản xuất kinh
doanh có hiệu quả hơn, chiến thắng trong cạnh tranh và thu đợc lợi nhuận tối đa
trong điều kịên có thể
Công ty nớc khoáng Cúc Phơng là một doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động
trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh nớc uống giải khát. Là một doanh nghiệp mới
đi vào hoạt động không lâu, lại hoạt động trong tĩnh vực có mức độ cạnh tranh rất
quyết liệt với nhiều tên tuổi lớn: Lavie, Vital, Vĩnh Hảo, Thạch Bích.. do vậy cuộc
cạnh tranh ngày càng gay gắt. Để tồn tại và phát triển công ty không thể trông
chờ vào những gì đã có mà phải không ngừng phát huy tính năng động trong sản
xuất kinh doanh để có hiệu quả hơn.
Trong quá trình thực tập tại chi nhánh công ty nớc khoáng Cúc Phơng tại
Hà Nội, em thấy nổi cộm lên một số vấn đề về Marketing cần phải áp dụng và kết
hợp lại tốt hơn để chiến thắng trong cạnh tranh và mở rộng thị trờng. Đợc sự giúp
đỡ của thầy giáo-Tiến sĩ Trơng đình chiến cùng các thầy giáo cô giáo
trong khoa Marketing-Đại học Kinh Tế Quốc Dân, em đã chọn đề tài: Sử dụng
một số công cụ Marketing trực tiếp để nâng cao hiệu quả kinh doanh của chi
nhánh công ty nớc khoáng Cúc Phơng tại Hà Nội làm chuyên đề tốt nghiệp.
Chuyên đề bao gồm 3 chơng:
Chơng I: Những vấn đề cơ bản về Marketing trực tiếp.
Chơng II: Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty nớc khoáng
Cúc Phơng.
Chơng III: áp dụng Marketing trực tiếp nhằm nâng cao hiệu kinh
doanh của chi nhánh công ty nớc khoáng Cúc Phơng tại Hà Nội.
Mặc dù ngời viết đã cố gắng rất nhiều, song do năng lực, thời gian tìm hiểu

dụng cao và sử dụng cơ sở dữ liệu về khách hàng để chào hàng đến từng cá nhân
khách hàng. Họ chào hàng cho những khách hàng cũ và những khách hàng triển
vọng nào có nhiều khả năng nhất, mong muốn và sẵn sàng mua sản phẩm hay dịch
vụ đó. Nếu họ thành công thì họ sẽ tranh thủ đợc mức độ hởng ứng cao hơn nhiều
đối với các biện pháp khuyến mại của mình.
Những công cụ chủ yếu của marketing trực tiếp :
* Marketing bằng catalog
* Marketing bằng th trực tiếp
* Marketing qua điện thoại
* Marketing đáp ứng trực tiếp trên truyền hình
* Marketing đáp ứng trực tiếp trên truyền thanh, báo chí và tạp chí
* Mua hàng điện tử
* Mua hàng bằng máy
* Bán hàng trực tiếp
Marketing trực tiếp đã đợc các nhà sản xuất, những ngời bán lẻ, các công ty
cung cấp dịch vụ, những ngời bán hàng theo catalog và các tổ chức phi lợi nhuận
sử dụng. Sự phát triển của nó trên thị trờng ngời tiêu dùng chủ yếu là để đáp ứng
xu thế chia nhỏ thị trờng vì ngày càng có rất nhiều những mẩu thị trờng với những
nhu cầu và sở thích hết sức cá biệt. Những ngời trên thị trờng này đều có thẻ tín
dụng và địa chỉ cũng nh số điện thoại nên dễ dàng tiếp cận và giao dịch với họ.
Các hộ gia đình có ít thời gian để đi mua sắm vì phần lớn phụ nữ đã đi làm, chi phí
cho việc lái xe riêng tăng cao, chi phí nhiên liệu cao, nạn kẹt xe, thiếu các điểm
bán lẻ và phải xếp hàng dài tại quầy mua bán đã khuyến khích việc mua hàng tại
nhà. Thêm vào đó nhiều hệ thống cửa hàng đã loại bỏ những mặt hàng bán chậm
vì thế đã tạo cơ hội cho những ngời làm marketing trực tiếp đẩy mạnh tiêu thụ
những mặt hàng đó. Sự phát triển các số đIện thoại miễn phí và thái độ của những
ngời làm marketing trực tiếp sẵn sàng nhận đơn hàng vào ban đêm hay ngày lễ
ngày chủ nhật đã thúc đẩy phát triển hình thức bán hàng này. Cuối cùng sợ phát
triển khả năng của máy tính đã cho phép những ngời làm marketing trực tiếp thiết
lập các cơ sở dữ liệu hoàn hảo về khách hàng và từ đó họ có thể chọn ra những

Hầu hết những ngời làm marketing trực tiếp đều chỉ dựa vào một phơng tiện
quảng cáo và sự nỗ lực một lần để tiếp cận và bán hàng cho một khách hàng triển
vọng. Marketing trực tiếp tổng hợp có ba chiến lợc cơ bản là:
* Chiến dịch một phơng tiện, một giai đoạn: ngời ta có thể gửi một lần th để
chào một mặt hàng.
* Chiến dịch một phơng tiện nhiều giai đoạn: ngời ta có thể gửi th nhiều lần
cho khách hàng triển vọng để gợi ý mua hàng.
* Một phơng thức mạnh mẽ hơn là chiến dịch nhiều phơng tiện, nhiều giai
đoạn: Roman gọi phơng pháp này là phơng pháp Marketing trực tiếp tổng hợp.
Một công ty có thể tung ra một sản phẩm mới bằng cách trớc tiên dàn dựng
những câu chuyện để khuấy động sự quan tâm. Sau đó công ty có thể đăng quảng cáo
toàn trang để tiếp tục tạo sự biết đến và quan tâm. Quảng cáo có thể kèm theo việc phát
tờ rơi, tờ gấp miễn phí. Tiếp đến công ty có thể gửi qua bu điện một tài liệu nhỏ và th
chào hàng để bán máy tính với giá đặc biệt. Những ngời không mua sau đó đợc gọi đIện
thoại đến. Một số khách hàng triển vọng cha sẵn sàng mua thì truyền thông vẫn cứ tiếp
tục. Roman cho rằng việc sử dụng cách thúc ép phản ứng đáp lại này vận dụng nhiều ph-
ơng tiện trong một khuôn khổ thời gian rất chặt chẽ sẽ làm tăng cờng độ tác động và
mức độ biết đến thông điệp. ý tởng cơ bản là vận dụng những phơng tiện chọn lọc với
lịch thời gian chính xác để thay đổi mức tiêu thụ, làm tăng mức tiêu thụ lên nhiều và vợt
quá mức tăng chi phí.
2. Mô hình MAXIMARKETING để tiến hành marketing tổng
hợp.
Hai nhà kinh tế học nổi tiếng Rapp và Collins đã xây dựng một mô hình rất hữu
ích và gọi nó là marketing.
Mô hình này làm cho các phơng pháp marketing trực tiếp trở thành lực lợng chủ
đạo trong quá trình marketing chung. Mô hình của họ đề nghị lập một cơ sở dữ liệu
khách hàng và tán thành kết hợp đầy đủ marketing trực tiếp trong quá trình marketing.
Maximarketing gồm đầy đủ các bớc nhằm tiếp cận khách hàng triển vọng, bán
hàng và phát triển mối quan hệ. Mô hình maximarketing để tiến hành marketing tổng
hợp của Rapp và Collins gồm 9 bớc nh sau:

7- Liên kết tối đa đòi hỏi phải gắn quảng cáo với tiêu thụ bằng cách tập
trung vào những khách háng có triển vọng nhất và dành một khoản lớn hơn trong
tổng ngân sách để làm cho họ phải chuyển biến chứ không phải chi tiền chỉ là để
gửi thông điệp tạo sự biết đến đi khắp thế giới.
8- Tiêu thụ tối đa thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu đòi hỏi ngời làm
marketing phải tiếp tục tiến hành marketing trực tiếp với những khách hàng đã
biết bằng cách bán đủ loại hàng hoá, nâng cấp và tung ra nhừng sản phẩm mới.
Ngời làm marketing không ngừng hoàn thiện cơ sở dữ liệu về khách hàng bằng
cách bổ sung thêm thông tin về khách hàng và đạt đến một phơng tiện quảng cáo
riêng thật phong phú. Ngày nay nhiều ngời làm marketing đang ngày càng quan
tâm hơn đến quá trình xây dựng lòng trung thành khi đang trong quá trình thu hút
khách hàng với mục đích tăng tối đa giá trị suốt đời của khách hàng.
9- Phân phối tối đa đòi hỏi ngời làm marketing phải thiết lập thêm các kênh
để tiếp cận khách hàng triển vọng.
3. Phát triển hệ thống marketing cơ sở dữ liệu.
Hầu hết các công ty đều vẫn cha chuyển sang marketing cơ sở dữ liệu - Một
phơng thức vợt xa ra ngoài phạm vi của marketing trực tiếp đơn giản. Marketing
cơ sở dữ liệu sử dụng công nghệ cơ sở dữ liệu và các phơng pháp phân tích tinh vi
đợc kết hợp với các phơng pháp marketing trực tiếp để tạo ra một phản ứng đáp lại
mong muốn đo đợc trong các nhóm mục tiêu và các cá nhân. Nhiều công ty vẫn
còn nhầm lẫn danh sách khách hàng với cơ sở dữ liệu marketing. Danh sách khách
hàng đơn giản chỉ là một tập hợp họ tên địa chỉ, số điện thoại. Còn cơ sở dữ liệu
marketing có chứa đựng những số liệu nhân khẩu học, tâm lý học, thói quen sử
dụng phơng tiện truyền thông, các mức tiêu thụ mới gần đây, tần suất, số tiền và
những chỉ số hữu quan của cá nhân.
Cơ sở dữ liệu marketing là một tập hợp có tổ chức của những số liệu đầy
đủ về từng khách hàng hiện có, khách hàng triển vọng hay nghi vấn hiện có, có thể
tiếp cận và có thể tác động đến đợc để phục vụ cho những mục đích marketing,
nh hình thành danh sách khách hàng, bán sản phẩm hay dịch vụ hoặc duy trì mối
quan hệ với khách hàng.

Khi chuẩn bị một chiến dịch marketing trực tiếp ngời làm marketing phải
quyết định mục tiêu, đối tợng, chiến lợc chào hàng, các thử nghiệm khác nhau và
lợng định mức độ thành công của chiến dịch. Dới dây chúng ta tìm hiểu những
quyết định này:
1. Mục tiêu
Ngời làm marketing thờng đề ra mục tiêu làm cho khách hàng triển vọng
mua hàng ngay tức thì. Sự thành công của chiến dịch đợc đánh giá theo mức độ
phản ứng đáp lại. Mức độ phản ứng đáp lại bằng 2% thờng đợc xem là khá trong
chiến dịch bán hàng marketing trực tiếp. Song mức độ này cũng hàm ý rằng 98%
nỗ lực của chiến dịch là vô ích. Thực ra tình hình không nhất thiết là nh vậy.
Marketing trực tiếp chắc chắn có một tác dụng nào đó đến mức độ biết đến và ý
định mua sau này. Hơn nữa không phải toàn bbộ marketing trực tiếp đều đề ra mục
tiêu là tiêu thụ hàng ngày. Một lợi ích chủ yếu của marketing trực tiếp là lập đợc
danh sách khách hàng triển vọng cho lực lợng bán hàng. Những ngời làm
marketing trực tiếp cũng phát thông tin để củng cố hình ảnh của nhãn hiệu, sự yêu
thíchđối với công ty. Do các mục tiêu marketing trực tiếp hết sức phong phú nên
ngời làm marketing trực tiếp cần xác định thực rõ ràng những mục tiêu của chiến
dịch.
2. Khách hàng mục tiêu
Ngời làm marketing trực tiếp cần hình dung ra những đặc đIểm của khách
hàng hiện có và khách hàng triển vọng có nhiều khả năng nhất, mong muốn thiết
tha và sẵn sàng mua hàng. Bob Stones đề nghị áp dụng công thức R - F - M( mới
mua thờng xuyên, số tiền mua lớn) để đánh giá và tuyển chọn khách hàng trong
một bảng danh sách. Những khách hàng mục tiêu tốt nhất là những ngời vừa mới
mua gần đây nhất, mua thờng xuyên, mua nhiều tiền nhất. Sẽ tính điểm cho các R
- F - M khác nhau và mỗi khách hàng sẽ có điểm đánh giá. Điểm càng cao thì
khách hàng đó càng hấp dẫn.
Những ngời làm marketing trực tiếp có thể sử dụng tiêu chuẩn phân khúc
thị trờng khi xác định khách hàng mục tiêu. Có thể phát hiện đợc những khách
hàng triển vọng tốt căn cứ vào những biến số nh tuổi tác, giới tính , thu nhập, trình

bao gói bên ngoài sẽ có hiệu quả hơn nếu nó có hình ảnh minh hoạ, nên có màu
sắc hay có một đIều gì đó gây lý thú khi mở gói, nh công bố một cuộc thi, phần
thởng hay ích lợi đem lại cho ngời nhận. Lớp gói bao càng có hiệu quả hơn nhng
cũng tốn kém hơn, khi nó có dán tem kỷ niệm màu sắc sặc sỡ, khi địa chỉ đợc viết
tay kiểu chữ in hoặc chữ thờng và khi lớp bao gói có kích thớc và hình dáng khác
với bao gói bình thờng.
Th chào hàng nên sử dụng lời chào dành riêng và mở đầu bằng một tiêu đề
viết đậm nét nh hình thức một bản tin, một đoạn thuyết minh nh thế nào/cái gì/tại
sao, một đoạn tờng thuật hay một đoạn câu hỏi để gây sự chú ý. Th nên in trên
giấy tốt và với số trang tuỳ ý theo sự cần thiết để chào hàng, với một đoạn nêu rõ
chủ ý và có gạch dới những câu quan trọng. Th in trên máy tính thờng đợc a
chuộng hơn là th in, và cuối th có một đoạn tái bút ngắn gọn sẽ tăng mức độ phản
ứng đáp lại, nh khi có có chữ ký của một ngời có chức vụ quan trọng tơng ứng.
Một tờ thông báo kèm theo th cũng làm tăng mức độ phản ứng đáp lại trong hầu
hết các trờng hợp nhiều hơn chi phí của nó. Mẫu phúc đáp nên ghi rõ số điện thoại
miễn phí và có phần cuống ký nhận đục lỗ để xé và lời đảm bảo sự hài lòng. Việc
kèm thêm một bao th miễn phí bu điện sẽ làm tăng đáng kể mức phản ứng đáp lại.
Mặt khác hãy xét một chiến dịch marketing qua điện thoại. Hiệu quả của
marketing qua điện thoại phụ thuộc vào việc chọn đúng ngời thực hiện, huấn luyện
kỹ cho họ và có chế độ khen thởng đối với họ. Ngời làm marketing qua điện thoại
phải có giọng nói dịu dàng và phát âm rõ ràng với thái độ nhiệt tình. Đối với nhiều
sản phẩm giọng nói của phụ nữ thờng có hiệu quả hơn nam giới. Đầu tiên những
ngời làm marketing qua điện thoại cần học bài nói mẫu rồi sau đó mới phát triển
dần khả năng ứng biến. Lời mở đầu là hết sức quan trọng, nó phải ngắn gọn và dẫn
dắt đến một vấn đề lý thú làm cho ngời nghe phải quan tâm. Ngời làm marketing
qua điện thoại cần biết cách kết thúc cuộc nói chuyện nếu thấy khách hàng đó có
ít triển vọng. Cần gọi điện thoại đúng lúc, thờng là vào cuối buổi sáng và buổi
chiều đối với những khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp và vào buổi tối ( 7h đến
9h ) đối với các hộ gia đình. Ngời giám sát marketing qua điện thoại có thể động
viên ngời làm marketing qua điện thoại bằng cách thởng cho ngời đầu tiên kiếm đ-

Bằng cách phân tích kỹ các chiến dịch đã thực hiện, ngời làm marketing
trực tiếp có thể hình dung ra trớc đợc mức độ phản ứng đáp lại cần thiết, có thể
nâng cao một cách vững chắc thành tích của mình. Ngay cả trong trờng hợp chiến
dịch không đảm bảo hoà vốn thì nó vẫn có thể là có lợi.
Giá trị cuối cùng của một khách hàng không chỉ thể hiện ở số hàng mà
khách hàng đã mua theo một th chào hàng cụ thể. Giá trị cuối cùng của khách
hàng là số tiền lời thu đợc trên toàn bộ số hàng mà khách hàng đó đã mua trừ đi
chi phí mua sắm và bảo trì của khách hàng.
Đối với một khách hàng trung bình cần tính tuổi thọ của khách hàng trung
bình, chi phí hàng năm của khách hàng và lãi gộp trung bình trừ đi chi phí cơ hội
của đồng tiền, trừ chi phí mua sắm của khách hàng trung bình. Công thức này sẽ
đợc hiệu chỉnh đối với khách hàn không phải loại trung bình mà công ty muốn
đánh giá giá trị suốt đời dự kiến của họ. Sau khi đánh giá giá trị suốt đời của
khách hàng, công ty có thể tập trung nỗ lực truyền thông của mình vào những
khách hàng tơng đối hấp dẫn hơn. Những nỗ lực này bao gồm việc gửi thông tin
mà không bán gì cho khách hàng, nhng để duy trì sự quan tâm của khách hàng đối
với công ty và các sản phẩm của nó. Những thông tin nh vậy có thể là những bản
tin miễn phí, thông tin đặc biệt, lời chúc mừng sinh nhật, tất cả đều phục vụ cho
việc thiết lập một mối quan hệ thân thiết hơn với khách hàng.
Marketing trực tiếp đã tạo ra sự phát triển lý thuyết, phơng pháp đo lờng và
phơng thức hoạt động thực tiễn hữu hiệu. Nó bổ sung thêm một số khái niệm và
năng lực giao tiếp cho công cụ của ngời làm marketing. Khi gắn với một cơ sở dữ
liệu về khách hàng đợc xây dựng cẩn thận, thì nó có thể làm tăng mức tiêu thụ, lợi
nhuận và củng cố mối quan hệ với khách hàng. Nó có thể cung cấp những danh
sách khách hàng triển vọng chính xác hơn và tạo ra mức tiêu thụ mới với chi phí
thấp hơn. Cuối cùng ngời làm marketing sẽ biến marketing trực tiếp và kế hoạch
marketing theo cơ sở dữ liệu thành một phần không thể thiếu đợc của chiến lợc
marketing và kế hoạch marketing. Tuy vậy họ phải làm công việc này với tinh thần
trách nhiệm cao.
IV-Những công cụ chủ yếu của marketing trực tiếp

sản phẩm, hiểu đợc những đặc đIểm kỹ thuật, có đợc những giải đáp đối với những
câu hỏi hay đợc đặt ra. Nói chung những ngời làm marketing bằng th trực tiếp hy
vọng bán đợc sản phẩm hay dịch vụ, thu thập hay tuyển chọn đợc những danh sách
khách hàng cho lực lợng bán hàng, thông báo những tin tức lý thú, hay gửi quà
biếu để cảm ơn những khách hàng trung thành. Những tên này đợc chọn trong
danh sách do công ty lập hay danh sách mua của những ngời môi giới danh sách
địa chỉ gửi th. Những ngời môi giới này có thể bán những danh sách theo bất cứ
yêu cầu đặt hàng nào, những khách hàng cực kỳ giàu có, những ngời yêu thích
nhạc cổ điển... Những ngời làm marketing trực tiếp thơng mua một danh sách
khách hàng tiềm ẩn đã chọn lọc theo yêu cầu rồi gửi th thăm dò cho họ để xem
mức độ phản ứng đáp lại có khá cao hay không.
Gửi th trực tiếp đang ngày càng phổ biến vì nó đảm bảo tính chọn lọc cao
của thị trờng mục tiêu, có thể tiếp cận từng cá nhân, linh hoạt và cho phép trắc
nghiệm, có thể lợng định kết quả sớm. Tuy chi phí trên một ngàn ngời đợc tiếp cận
cao hơn so với các phơng tiện truyền thông đại chúng, những ngời đợc tiếp cận là
những khách hàng có triển vọng hơn nhiều. Th gửi trực tiếp đã tỏ ra là rất thành
công trong việc đẩy mạnh bán sách, đặt mua tạp chí, mua bảo hiểm và ngày càng
đợc sử dụng nhiều để bán những mặt hàng mới lạ và quà tặng, quần áo, thực phẩm
tơi sống, t liệu sản xuất. Gửi th trực tiếp cũng đợc các tổ chức từ thiện sử dụng
nhiều.
3-Marketing qua đIện thoại.
Marketing qua điện thoại đã trở thành một công cụ chủ yếu của marketing
trực tiếp, sử dụng nhiều trong marketing hàng t liệu sản xuất và trong marketing
hàng tiêu dùng. Ngời ta dùng marketing qua đIện thoại để giảm bớt số nhân viên
bán hàng cần thiết để quan hệ với các đại lý của mình.
4- Marketing đáp ứng trực tiếp trên truyền hình
Cả truyền hình mạng lẫn truyền hình cáp ngày càng trở thành phơng tiện
phục vụ marketing trực tiếp. Truyền hình đợc sử dụng theo 2 cách để bán sản
phẩm trực tiếp cho ngời tiêu dùng. Cách thứ nhất thông qua quảng cáo đáp ứng
trực tiếp . Ngời làm marketing đáp ứng trực tiếp phát những chơng trình truyền

khách muốn đặt mua hàng thì chỉ cần sờ vào màn hình một lần nữa để chỉ rõ mình
muốn gói hàng hay không và có ghi rõ tên ngời tặng hay không, giao hàng trong
ngày, hôm sau hay giao hàng bình thờng. Sau khi hiện hình đó sẽ có tiếng chuông
và khách sẽ đa thẻ tín dụng của mình vào khe trả tiền. Nh vậy là đã hoàn tất việc
mua bán và sản phẩm sẽ đợc gửi đến địa chỉ đã định.
V-Những vấn đề khi sử dụng marketing trực tiếp
Những ngời làm marketing trực tiếp và khách hàng của họ thờng có mối
quan hệ thởng công lẫn nhau, tuy nhiên cũng có khi xảy ra trờng hợp tồi tệ. Vấn
đề đáng lo ngại là những hành vi quá đáng làm phiền lòng ngời tiêu dùng, những
trờng hợp gian lận, những vụ lừa gạt trắng trợn và xâm phạm những vấn đề riêng t.
1- Làm phiền lòng
Nhiều ngời thấy ngày càng nhiều trờng hợp bán hàng nài ép đến mức độ khó
chịu. Họ không thích những chơng trình quảng cáo đáp ứng trên TV quá ồn ào,
quá dai và quá dài. Đặc biệt khó chịu là những cú điện thoại gọi vào đúng bữa ăn
tối hay đêm khuya, những ngời gọi không đợc huấn luyện đến nơi đến chốn,
những cuộc điện thoại do hệ thống máy tính cài đặt
2- Gian lận
Có một số ngời làm marketing trực tiếp lợi dụng một cách không trung thực
những ngời mua ngẫu hứng hay ít hiểu biết. Những mục giới thiệu hàng hoá trên
TV và những thông tin quảng cáo quá dàI có thể là những thủ phạm tồi tệ nhất.
Chúng đợc thuyết minh với giọng nói ngọt ngào, giàn dựng rất công phu, thông
báo giảm giá khá nhiều trong thời gian có hạn, và không dễ mua đợc để chinh
phục ngời mua ít chống đối việc chào hàng.
3- Lừa gạt
Hiện tợng này xảy ra khi một số ngời làm marketing trực tiếp thiết kế gói bu
phẩm và viết lời thuyết minh quảng cáo cố tình làm cho ngời mua nhầm lẫn. Họ
có thể cờng điệu kích thớc của sản phẩm, tính năng hay giá bán lẻ ... Khi ngời
mua biết đợc là mình bị lừa và cảnh giác hơn với các thông tin, thì những kẻ trộm
cắp đó thờng lại nghĩ ra những mu kế mới ở một nơi nào đó khác
4- Xâm phạm đời t

mẽ chuyển sang marketing trực tiếp tổng hợp, maxi marketing, và marketing theo
cơ sở dữ liệu.
Chơng II. hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty nớc khoáng Cúc Phơng
I -Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty nớc
khoáng Cúc Phơng và phơng án sản xuất kinh doanh
của công ty năm 2002
Công ty nớc khoáng Cúc Phơng có trụ sở chính tại xã Kỳ Phú, NhoQuan,
Ninh Bình. Công ty có đại diện và chi nhánh trên 12 tỉnh thành trong cả nớc. Chi
nhánh tại Hà Nội có địa chỉ tại số 94 phố Hoàng Văn Thái - Khơng Trung - Thanh
Xuân - Hà Nội. Nguồn nớc đợc viện địa lý Việt Nam đánh giá là: nớc chữa bệnh,
trị mãn tính đờng ruột, tiêu mỡ đờng ruột, giải mẫn cảm, giải rợu, dỡng da... Sản
phẩm đạt tiêu chuẩn Châu Âu EEC .80\777\CEE và tiêu chuẩn Việt Nam TCVN
1626/1998 QĐ - BKHCNMT.
+ Về nguồn nớc khoáng
Đây là một nguồn nớc khoáng nóng chất lợng cao của khu vực Đông Nam á có
tên khoa học là : BICACBONATMANHÊ
Địa điểm mỏ nớc( điểm xuất lộ ): ngời địa phơng gọi là Vó ấm thuộc vùng
đệm vờn quốc gia Cúc Phơng.
Nhiệt độ nguồn nớc :35 độ
Lu lợng nớc khoáng nóng tại điểm xuất lộ chảy khỏi mặt đất là
850000lit/ngàyđêm
Nớc dùng cho sản xuất lấy từ độ sâu trên 100m
+ Về thiết bị và công nghệ
Công ty trang bị hệ thống thiết bị tiên tiến của hãng BC MACRI Victorio
ITALIA công suất 7triệu lit/năm, bao gồm 3 hệ thống chính:
* Hệ thống tự động cung cấp và xử lý nớc.
* Hệ thống tự động rửa chai, chiết nớc, đóng nớc
* Hệ thống vệ sinh thiết bị
Làm mềm nớc bằng phơng pháp trao đổi ion: xử lý độ cứng tổng nguyên

Công ty luôn quan tâm đến mọi đối tợng khách hàng trên toàn bộ các phân
đoạn thị trờng và luôn thoả mãn nhu cầu của khách hàng với chủng loại sản phẩm
phong phú:
+ Nớc khoáng thiên nhiên: 200 ml, 330 ml, 500ml, 1.5lít, 20lít và 12.5lít.
+ Nớc khoáng có ga: 500 ml chai PET, 500 ml chai thuỷ tinh.
+ Nớc khoáng có ga và hơng: 500 ml chai thuỷ tinh.
Công ty luôn cố gắng thực hiện dịch vụ thuận lợi và có hiệu quả đến mọi
đối tợng khách hàng, nhằm phổ biến sản phẩm tuyệt đối an toàn vệ sinh và có lợi
cho sức khoẻ ngời tiêu dùng.
+ Mô tả công nghệ xử lý nớc, chiết rót đóng chai.
+ Lọc lần 1 bằng cơ học: nớc sau khi đợc bơm vào thiết bị cơ học lần 1 qua
các thiết bị này nớc đợc loại bỏ các hạt phù sa và tạp chất lớn.
+ Lọc lần 2 bằng siêu lọc( 10 MICRON ): nớc lọc lần 1 sau khi qua bộ siêu
lọc này sẽ đợc gạn lọc các huyền phù sa và các tạp chất nhỏ.
+ Lọc lần 3 bằng cơ học: nớc lọc lần 2 sẽ đợc diệt trùng tiếp tục đợc đi qua
một bộ lọc, tại đây những xác vi khuẩn và nấm bẩn đợc lọc sạch hơn.
Đến đây sử dụng thêm thiết bị khử ozone và máy nén để tạo phản ứng ô xi
hoá khử.
+ Lọc lần 4 bằng siêu lọc( 0.1 micron ): nớc lọc lần 3 đợc diệt trùng bơm
qua phần siêu lọc để gạn bớt tạp chất nhỏ hơn và nớc lọc sẽ đợc tinh khiết hơn lần
3.
+ Khử trùng 2 lần bằng tia cực tím: sau khi lọc lần 4 nớc lọc lại đợc diệt
trùng một lần nữa bằng thiết bị tạo tia cực tím nhằm đảm bảo nớc luôn đợc vô
trùng.
+ Lọc lần 5 bằng siêu lọc( 0.2 micron ): nớc lọc tinh khiết diệt trùng 2 lần
đi qu bộ siêu lọc 0.2 micron sau bộ lọc cuối cùng này nớc lọc hoàn toàn vô trùng,
tinh khiết và đợc đa vào khu vực chiết rót đóng chai.
Nớc sau xử lý đợc chiết rót vào chai PET loại 0.5 lít và 1.5 lít. Tại đây thiết
bị chiết rót đóng nắp thành một cụm và chuyển động bằng băng truyền đến khu
vực dán nhãn bằng thủ công và xếp thành phẩm vào thùng cát tông.

Khí Siêu Lọc
Lần 2 : 1 MICRON

Khử Lần 2: Tẩy Bằng Tia Cực Tím

Siêu Lọc Lần 3: 0,2 MICRONTriết Rót Đóng Nắp Chai

Trích đoạn Chiến lợc giá ( những quan điểm hình thành giá ) Chiến lợc phân phỉ Chiến lợc khuyến mạ Duy trì tiếp xúc cờ hiệu quả
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status