Tầng 9, Toà Nhà Minexport, 28 Bà Triệu, Hà Nội, Việt Nam
Tel: 04 62702158 Fax: 04 62702138
Email: ; Website: www.mutrap.org.vn BÁO CÁO
CÁC LĨNH VỰC MỚI TRONG THƯƠNG MẠI:
TỰ DO HÓA MUA SẮM CHÍNH PHỦ TRONG FTA DỰ KIẾN
GIỮA LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ VIỆT NAM
MÃ HOẠT ĐỘNG: FTA- 7C
Nhóm chuyên gia:
Sangeeta Khorana
Võ Trí Thành
Đặng Chiến Thắng
3.3 So sánh các điều khoản MSCP ở Việt Nam với các FTA của EU 23
3.4 Hệ lụy pháp lý của FTA dự kiến với Việt Nam 24
3.5 Các hệ lụy về kinh tế và kinh doanh của FTA dự kiến đối với Việt Nam 32
4 Khuyến nghị 37
4.1 Tăng cường, hài hòa hóa và tạo điều kiện thuận lợi thực thi thủ tục đấu thầu ở Việt Nam 37
4.2 Khởi động hỗ trợ kỹ thuật và các biện pháp tăng cường năng lực của EU tại Việt Nam 40
4.3 Hỗ trợ phát triển môi trường kinh doanh cạnh tranh tại Việt Nam 42
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BOT
(Hợp đồng) Xây dựng-Kinh doanh-Chuyển giao
BT
(Hợp đồng) Xây dựng-Chuyển giao
BTO
(Hợp đồng) Xây dựng-Chuyển giao-Kinh doanh
CARIFORUM
Cộng đồng các nước Caribe
DNNN
Doanh nghiệp Nhà nước
EPA
Hiệp định đối tác kinh tế
EPC
Gói thầu gồm thiết kế, cung cấp thiết bị và xây lắp
EU
Liên minh châu Âu
với Ấn Độ, Singapo, Malaysia và đang xúc tiến khởi động chính thức đàm phán FTA với Việt
Nam. Báo cáo này nhằm làm rõ hiện trạng các điều khoản về MSCP trong các FTA thông qua
tìm hiểu những điểm chung cũng như khác biệt giữa các hiệp định ký kết giữa EU -
CARIFORUM (EUCAR), EU- châu Mỹ La tinh (EULA), EU- Trung Mỹ (EUCA), và EU- Hàn
Quốc (EUKOR). Báo cáo cũng phân tích các hệ lụy về mặt pháp lý và kinh doanh của những
điều khoản trên và đồng thời đề xuất các khuyến nghị cho Việt Nam, giả định sẽ có một FTA
giữa EU và Việt Nam trong tương lai.
Phạm vi báo cáo
Dự án MUTRAP III yêu cầu báo cáo tập trung vào các vấn đề cụ thể về MSCP đối với Việt
Nam, nhằm:
1. Trình bày và xác định các điểm chung và khác biệt liên quan đến các điều khoản
MSCP phổ biến trong các hiệp định của EU, cụ thể là các hiệp định được EU ký kết từ
năm 2006;
2. Phân tích các hệ lụy về mặt pháp lý, kinh doanh và kinh tế của các điều khoản
nêu trên đối với Việt Nam với giả thuyết là các điều khoản tương tự sẽ được tái xác lập
trong FTA dự kiến giữa EU và Việt Nam;
3. Đưa ra các khuyến nghị chính sách để đạt được cơ chế hợp tác tốt nhất giữa EU
và Việt Nam.
Phương pháp luận sử dụng trong báo cáo là phương pháp định tính và các phát hiện cũng như kết
luận trong nghiên cứu này chủ yếu đúc rút từ nghiên cứu sơ cấp và thứ cấp. Các chuyên gia đã
họp với Cục Quản lý Đấu thầu, cơ quan chính phủ đầu mối về pháp luật mua sắm đấu thầu thuộc
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng như họp với các bên liên quan ở Việt Nam. Trao đổi với Cục Quản
lý Đấu thầu giúp hiểu biết chắc chắn về cơ chế mua sắm đấu thầu hiện tại trong khi các cuộc
cuộc họp với các bên liên quan cung cấp thông tin về những hỗ trợ cần thiết để xây dựng môi
trường kinh doanh thuận lợi ở Việt Nam.
hạn chế về phạm vi quy định thực thể. Hiệp định FTA EUKOR, hiệp định giữa EU và
Hàn Quốc với hai bên đều tham gia GPA, về phía Hàn Quốc trong phần phạm vi quy
định có bao gồm thêm những lĩnh vực không được quy định trong GPA, ví dụ như xây
dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT).
(iii) Các hình thức và thủ tục đấu thầu trong các FTA:
a) Các hình thức đấu thầu bao gồm các hướng dẫn chi tiết về năng lực nhà cung cấp.
Các hướng dẫn này nhằm tránh phân biệt đối xử giữa các nhà cung ứng trong
nước và nước ngoài gồm hướng dẫn về công bố thông báo mời thầu (ví dụ kế
hoạch đấu thầu) và quy trình thủ tục.
b) Các hình thức đấu thầu chính được sử dụng là: đấu thầu rộng rãi, đấu thầu chọn
lọc và đấu thầu hạn chế. Các điều kiện và các hình thức đấu thầu một lần nữa rất
phù hợp với văn kiện GPA sửa đổi.
(iv) Các chế tài pháp luật: Thủ tục rà soát trong nước và giải quyết tranh chấp được
đưa từ văn kiện GPA và GPA sửa đổi vào các văn kiện FTA.
a) Tất cả các FTAs đều quy định thủ tục rà soát và thủ tục giải quyết kiến nghị,
khiếu nại trong đấu thầu một cách toàn diện và trên cơ sở không phân biệt đối xử,
tạo điều kiện cho các nhà cung cấp kiến nghị, khiếu nại kết quả đấu thầu trong
trường hợp có vi phạm quy định. Các hiệp định khác nhau có mức độ quy định
khác nhau. Nhưng tất cả các FTA, không có ngoại lệ nào, đều quy định thành lập
một cơ quan quản lý công bằng, vô tư.
b) Tất cả các FTA đều có các điều khoản giải quyết tranh chấp trong các chương
riêng biệt (Mục X trong hiệp định EUCA, Mục XII trong một chương tự đặt tên
và Mục VI trong EULA; và, chương 14 và Phụ lục 4 trong EUKOR). Cụ thể trong
Hiệp định EUCA, thủ tục trọng tài rất toàn diện và đầy đủ vì có chi tiết các điều
khoản về các biện pháp chế tài tạm thời.
(v) Các điều khoản về minh bạch: Trong các FTA, các điều khoản về minh bạch
tuân thủ văn kiện GPA sửa đổi với hướng dẫn khá chi tiết về các hình thức nhằm tăng
khác tại tất cả các cấp đều được điều chỉnh theo quy định đấu thầu. Chỉ có các dự án xây dựng –
kinh doanh – chuyển giao và các hợp đồng chuyển nhượng mà có ít hơn 30% tổng chi phí được
Nhà nước cấp vốn là không thuộc đối tượng điều chỉnh. Không có ngưỡng cụ thể nào đối với các
gói thầu được quy định, điều này có nghĩa là tất cả các gói thầu của chính phủ tại tất cả các cấp
đều được quy định. Về các thủ tục đấu thầu, pháp luật yêu cầu các bên mời thầu cung cấp thông
tin đấu thầu cho các nhà cung ứng và có hướng dẫn về lịch nộp hồ sơ dự thầu. Các quy định đưa
ra bảy hình thức đấu thầu và đồng thời cho phép đàm phán với các nhà thầu. Các tiêu chí trao
thầu dựa trên cơ sở chi phí thấp nhất, kết hợp bản chào kỹ thuật và tài chính đối với hàng hóa và
dịch vụ cũng như phương pháp chấm điểm theo năng lực đối với dịch vụ tư vấn. Theo khuôn khổ
hiện hành, ưu tiên cho các nhà thầu được thành lập và hoạt động tại Việt Nam. Cơ chế giải quyết
tranh chấp và giải quyết kiến nghị, khiếu nại trong đấu thầu cũng được quy định. Hiện nay, đấu
thầu qua mạng đang được thực hiện trong một dự án thí điểm ở Việt Nam.
Hệ lụy về pháp lý, kinh doanh và kinh tế của FTA dự định đối với Việt Nam
Việc đưa các điều khoản MSCP vào FTA dự định giữa EU và Việt Nam đem lại các hệ lụy được
phân thành nhóm hệ lụy pháp lý và kinh doanh, bao gồm chi phí và lợi ích đối với nền kinh tế
Việt Nam, như sau: 4
A. Hệ lụy pháp lý đối với Việt Nam:
Pháp luật về mua sắm công quốc gia của Việt Nam khác so với mô hình FTA hiện tại của EU.
Nếu có FTA với EU trong tương lai, các hệ lụy chính của một hiệp định như vậy đối với Việt
Nam được liệt kê dưới đây:
a) Khuôn khổ pháp lý hiện tại được liên tục sửa đổi, dẫn đến cơ chế đấu thầu hiện nay
rất phức tạp và phân mảnh. Nếu đàm phán FTA với EU, trước hết, Việt Nam sẽ phải
hiện tại bằng một cơ quan độc lập hỗ trợ một khuôn khổ hiệu quả và minh bạch
cũng như quy định cơ chế giải quyết tranh chấp và kiến nghị, khiếu nại trong đấu
thầu.
g) Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, minh bạch là sức mạnh tiềm ẩn của
FTA mà EU ký kết. Việt Nam sẽ phải tăng cường minh bạch trong cơ chế đấu thầu
hiện tại. Hiện nay, không có phần tham chiếu rõ ràng đối với tính minh bạch trừ
phần trong “Mục tiêu” (Điều 1, Luật Đấu thầu), đề cập đến tính cạnh tranh, công
bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế. Việt Nam sẽ thực hiện các cam kết để tăng
cường tính minh bạch. Những nghĩa vụ đó liên quan đến thủ tục và hình thức đấu
thầu, mua sắm qua mạng và có thể là các cam kết về đấu thầu qua mạng. Điều này
sẽ đặc biệt phù hợp vì đấu thầu điện tử hiện đang được thực hiện trong một dự án thí
điểm.
5 B. Hệ lụy về kinh tế và kinh doanh đối với Việt Nam:
Từ quan điểm kinh tế, hệ lụy về kinh doanh đối với Việt Nam sẽ bắt nguồn từ năng lực cạnh
tranh cao hơn. Tăng minh bạch trong khuôn khổ đấu thầu sửa đổi sẽ hài hòa hóa các chính sách
đấu thầu với các quy chuẩn được quốc tế chấp nhận, tăng cường phối hợp chính sách nội bộ và
cải thiện quản trị về đấu thầu ở Việt Nam. Điều này cũng giúp tiết kiệm ngân sách, tạo nhiều
công ăn việc làm hơn trong các công ty có năng lực cạnh tranh, hưởng lợi từ việc tăng cường tiếp
cận thị trường trong các FTA dự kiến. Tự do hóa thị trường sẽ đồng thời hỗ trợ tăng luồng vốn
đầu tư và sáng tạo đổi mới nhiều hơn, đem lại lợi ích cho khu vực tư nhân và người tiêu dùng ở
Việt Nam. Lợi ích tiềm tàng mà FTA dự kiến với EU đem lại cho Việt Nam sẽ gồm:
a) Tăng cường tiếp cận thị trường và lợi ích từ các nhà cung ứng chi phí thấp.
b) Tự do hóa mua sắm kèm theo tăng tính minh bạch hóa trong FTA sẽ tăng cạnh tranh
và chính phủ Việt Nam sẽ có thể sử dụng giá trị đồng tiền hiệu quả hơn.
c) Phối hợp chính sách nội bộ sẽ đem lại sự thống nhất giữa các nguyên tắc đấu thầu
khổ khuyến nghị chi tiết chia theo ba trụ cột sau đây:
6
Trụ cột 1: Tăng cường, hài hòa hóa & tạo điều kiện thực hiện thủ tục đấu thầu ở Việt Nam
a) Việt Nam nên liệt kê các thực thể trong phạm vi quy định một cách có chọn lọc để
từng bước đàm phán các thực thể theo lộ trình thời gian và theo sự thống nhất giữa
Việt Nam và EU. Việt Nam có thể xem xét liệt kê một số ngành quy mô nhỏ quan
trọng, phù hợp để đạt mục tiêu chính sách thứ yếu trong phần ‘Ghi chú chung’ của
hiệp định dự kiến. Tuy nhiên, điều này không nhất thiết phải trở thành quy chuẩn.
b) Việt Nam nên áp dụng phương pháp chọn - cho khi liệt kê hàng hóa và công trình
xây lắp trong khi áp dụng phương pháp chọn - bỏ đối với dịch vụ tư vấn. Đây là quy
chuẩn cũng được chấp nhận trong GPA của WTO.
c) Các ngưỡng ban đầu nên được đưa ra ở mức cao với giai đoạn chuyển đổi rõ ràng để
sau đó các ngưỡng giá trị này sẽ giảm từ từ (như đã thực hiện trong hiệp định
EULA). Điều này sẽ tạo điều kiện và hỗ trợ cho Việt Nam tăng cường năng lực để
thực hiện các nghĩa vụ về ngưỡng giá trị một cách hiệu quả. Nên có một điều khoản
về sửa đổi ngưỡng và phạm vi quy định sau khi tham vấn chung giữa các nước cam
kết.
d) Các ưu đãi cho phép đối với đấu thầu quốc tế theo hệ thống hiện tại cần được loại bỏ
dần dần. Có thể thực hiện thông qua (a) giảm dần ưu đãi trong các ngành đặc biệt mà
các doanh nghiệp Việt Nam có khả năng cạnh tranh. Nên đưa vào FTA các điều
khoản để điều chỉnh ưu đãi sau khi tham vấn chung, về giới hạn tương tự như ưu đãi
cho phép đối với các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa trong các hiệp định EULA
và EUCA; (b) tiếp tục quy định các ưu đãi ‘hợp lý’ đối với các ngành lựa chọn như là
một phần của chính sách phát triển của chính phủ, mà có thể liệt kê trong phần
‘Ngoại trừ’.
e) Đảm bảo tuân thủ với các quy chuẩn về thủ tục đấu thầu để Việt Nam áp dụng ba
hình thức đấu thầu, đó là đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế và đấu thầu chọn lọc,
các phần quan trọng để tăng cường năng lực hiệu quả.
Trụ cột 3: Hỗ trợ và thúc đẩy phát triển môi trường kinh doanh cạnh tranh ở Việt Nam
Không thể nhấn mạnh thái quá vai trò của một môi trường cạnh tranh đối với cả các doanh
nghiệp trong nước cũng như các doanh nghiệp EU đang tìm cách tiếp cận thị trường Việt Nam.
Trong bối cảnh kinh doanh quốc tế, động lực chính của năng lực cạnh tranh là môi trường kinh
doanh kinh tế vi mô có tiềm năng tăng năng suất và cải thiện năng lực đổi mới sáng tạo của các
doanh nghiệp. Đề xuất thúc đẩy môi trường kinh doanh cạnh tranh bao gồm các biện pháp nhằm:
a) Nâng cao tính minh bạch trong thị trường đấu thầu của Việt Nam vì điều này sẽ
giải quyết được vấn đề tham nhũng. Đề xuất tăng cấp độ minh bạch bao gồm: sử
dụng đấu thầu điện tử, xây dựng Quy tắc Ứng xử quốc gia đối với cán bộ đấu thầu
cả cấp quốc gia và cấp tỉnh vì hiện tại chưa có quy tắc nào, ngoại trừ trong các
khoản ODA viện trợ không hoàn lại. Nên có các điều khoản phạt nghiêm ngặt để
ngăn chặn phòng ngừa, các khoản phạt áp dụng cho các nhà thầu phải cao với thời
gian không được tham gia thầu lâu hơn đối với các nhà cung ứng bị liệt vào danh
sách đen.
b) Khởi xướng các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Điều này sẽ
tạo điều kiện thuận lợi cho nỗ lực Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế và chuyển
giao công nghệ, thúc đẩy môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn để doanh nghiệp
phát triển. Đề xuất này chú trọng sử dụng đầu tư nước ngoài thông qua Đối tác
công tư đặc biệt trong các dự án cơ sở hạ tầng và xây dựng.
Kết luận lại, phân tích này cho thấy văn kiện GPA/GPA sửa đổi được sử dụng rộng rãi trong
khuôn khổ các FTA của EU. FTA giữa EU và Việt Nam sẽ có hai tác động rộng lớn; thứ nhất,
các quy tắc về thủ tục đấu thầu sẽ nâng cao tính minh bạch, dẫn đến tăng quản trị và cạnh tranh
mà cuối cùng sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam sử dụng giá trị đồng tiền hiệu quả hơn; thứ hai, các
điều khoản về tự do hóa sẽ giảm ‘không gian chính sách’ có sẵn để sử dụng công cụ đấu thầu ưu
đãi để hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước và DNNN. Tuy nhiên, các vấn đề chính mà Việt Nam
đối mặt là tự do hóa đấu thầu ở cấp chính quyền trực thuộc địa phương, tái cơ cấu DNNN, quy
3
Hiệp định này hiện đang được đàm phán
và hiệp định tạm thời sẽ được kiểm định về mặt pháp lý và tùy thuộc vào kết quả nhất trí chung
về khía cạnh khác trong đàm phán Hiệp định Mua sắm Chính phủ mới, đó là các đàm phán về
mở rộng phạm vi quy định.
4
Số lượng thành viên của Hiệp định này hiện là 41, trong đó 35 thành
viên là các nước phát triển và sáu thành viên là nước đang phát triển.
5
Tiến độ đàm phán tự do
hóa mua sắm đấu thầu tại cấp đa phương hiện nay còn chậm do có hiện tượng chú trọng nhiều
hơn vào đàm phán tự do hóa mua sắm đấu thầu trong các hiệp định song phương và khu vực, chủ
yếu là các hiệp định tự do thương mại (FTA). Liên minh châu Âu đã tham gia tích cực vào đàm
phán các hiệp định song phương theo chiến lược “châu Âu toàn cầu” (2006). Ngoài các lĩnh vực
truyền thống như thuế quan, các FTA của EU tập trung vào các ‘lĩnh vực mới’ của thương mại
như mua sắm của chính phủ, đầu tư, cạnh tranh và quyền sở hữu trí tuệ.
MUTRAP yêu cầu so sánh các điều khoản MSCP trong văn kiện FTA mà EU đã ký kết sau khi
khởi xướng chiến lược “châu Âu toàn cầu”. Các FTA đã ký kết bao gồm các FTA ký với Hàn
Quốc (2011), Châu Mỹ La tinh gồm các nước thuộc Liên minh các quốc gia Nam Mỹ như Peru
& Colombia (2010), Trung Mỹ (2010)
6
, và CARIFORUM (2008)
7
. Tất cả các FTA khác hiện 1
Ủy ban châu Âu ‘Báo cáo Hoạt động thị trường mua sắm công ở EU: Lợi ích từ việc áp dụng các Chỉ thị của EU
và Thách thức trong tương lai’ (Brussels, 2004); D Audet ‘Quy mô thị trường mua sắm của Chính phủ’ (2002) Tập
đang đàm phán là FTA với Ấn Độ, Singapore và Malaysia. EU hiện đang xúc tiến chính thức
khởi xướng đàm phán với Việt Nam. Yêu cầu:
1. Trình bày và xác định các điểm chung và khác biệt liên quan đến các điều khoản
MSCP phổ biến trong các hiệp định của EU, cụ thể là các hiệp định được EU ký kết từ
năm 2006.
2. Phân tích các hệ lụy về mặt pháp lý, kinh doanh và kinh tế của các điều khoản
nêu trên cho Việt Nam với giả thuyết là các điều khoản tương tự sẽ được tái xác lập trong
FTA dự kiến giữa EU và Việt Nam.
3. Đưa ra các khuyến nghị chính sách về cơ chế hợp tác tốt nhất giữa EU và Việt
Nam có thể đạt được.
Phương pháp luận sử dụng trong báo cáo là phương pháp định tính và các phát hiện, kết luận trong
nghiên cứu này chủ yếu đúc rút từ nghiên cứu sơ cấp và thứ cấp. Cụ thể, nghiên cứu này được thực
hiện để tìm hiểu khuôn khổ mua sắm đấu thầu của Việt Nam và tìm hiểu xem cần sự hỗ trợ nào để
xây dựng một khuôn khổ MSCP hiệu quả, nếu FTA được sử dụng như là một phương tiện để tạo
một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp Việt Nam mong muốn tham gia mua sắm công ở
EU. Chuyên gia có một số cuộc họp với Cục Quản lý Đấu thầu, cơ quan chính phủ đầu mối (thuộc
Bộ Kế hoạch Đầu tư) chịu trách nhiệm về dự thảo pháp luật mua sắm đấu thầu và giám sát các thủ
tục mua sắm công ở Việt Nam cũng như các đối tác liên quan khác. Nghiên cứu này rà soát các
văn bản pháp luật liên quan, văn kiện chính sách và tài liệu về chính sách, các thông lệ mua sắm
đấu thầu của Việt Nam được đưa vào báo cáo này.
Cấu trúc báo cáo như sau:
Phần 2 trình bày tổng quan về GPA của WTO và ý kiến nhận xét về các điều khoản liên quan
trong các hiệp định song phương của EU được ký kết theo chiến lược “châu Âu toàn cầu”. Phần
này phân tích chi tiết các nghĩa vụ MSCP của các đối tác trong FTA, trình bày điểm tương đồng
và khác biệt cũng như cung cấp thông tin liên quan đến sự tồn tại của các điều khoản cơ bản phổ
9
Không phân biệt đối xử là một nguyên tắc quan trọng của GPA. Đối với tất cả các
khoản mua sắm được điều chỉnh trong Hiệp định này, các bên ký kết GPA được yêu cầu đối xử
đối với các hàng hóa, dịch vụ và các nhà cung cấp của bên ký kết kia của Hiệp định “không kém
thuận lợi hơn” so với cách đối xử đối với hàng hóa, dịch vụ và các nhà cung cấp của nước họ.
10
Ngoài ra, các bên ký kết có thể không phân biệt đối xử đối với hàng hóa, dịch vụ và các nhà
cung cấp của các bên ký kết khác.
11
Đồng thời, mỗi bên ký kết được yêu cầu đảm bảo rằng các
thực thể của họ không đối xử khác biệt các nhà cung ứng trong nước trên cơ sở quyền sở hữu
hay tính trực thuộc nước ngoài nhiều hay ít, cũng như đảm bảo rằng các thực thể của họ không
phân biệt đối xử đối với các nhà cung cấp nội địa với lý do là hàng hóa hay dịch vụ của các nhà
cung cấp nội địa trên được sản xuất trong lãnh thổ của bên ký kết khác.
12Hộp 1. Cấu trúc các biểu phạm vi điều chỉnh của GPA (các Phụ lục của Phụ chương I)
Đối với mỗi bên ký kết, Phụ chương I được chia thành năm Phụ lục quy định các thực thể chính quyền trung ương
được điều chỉnh trong Hiệp định; thực thể trực thuộc trung ương; các thực thể được điều chỉnh ‘khác’ (ví dụ các cơ
quan cung cấp dịch vụ công); phạm vi điều chỉnh dịch vụ; và phạm vi điều chỉnh các dịch vụ xây lắp. Các Phụ lục
cũng quy định rõ các ngưỡng giá trị mà nếu vượt ngưỡng đó thì các khoản mua sắm đấu thầu riêng rẽ sẽ chịu sự
điều chỉnh của các nguyên tắc trong GPA. Ngoài ra, Phụ lục của hầu hết các bên đều có phần Ghi chú chung để việc
áp dụng Hiệp định có đủ hiệu lực. Hàng hóa được điều chỉnh nếu được đấu thầu bởi một thực thể trong phạm vi điều
chỉnh và không bị loại trừ trong trường hợp đặc biệt. Các bên, về nguyên tắc, được tự do lựa chọn phương pháp
chung hay phương pháp liệt kê danh mục, và nếu trong trường hợp phương pháp liệt kê theo danh mục, thì các bên
có thể tự do áp dụng phương pháp chọn – cho và phương pháp chọn-bỏ.
11
Về cơ bản, Hiệp định này không áp dụng đối với tất cả các gói thầu của các Bên, điều này có
nghĩa là nghĩa vụ của Hiệp định chỉ áp dụng cho các gói thầu của các thực thể mời thầu mà được
mỗi Bên liệt kê trong các Phụ lục thuộc Phụ chương I. Phạm vi quy định được xác định trong các
phụ lục của Hiệp định theo bốn chỉ số sau: giá trị gói thầu mà chỉ có các hợp đồng vượt ngưỡng
nhất định mới nằm trong phạm vi quy định; đặc điểm của cơ quan mời thầu tức là chỉ có những
cơ quan được các Bên liệt kê trong phụ lục; loại hàng hóa và sản phẩm; và, xuất xứ hàng hóa và
dịch vụ của những nước trong danh mục nước thành viên của GPA trong phạm vi quy định.
Theo GPA, tất cả các Bên thông qua một ngưỡng chung là SDR 130,000 (Quyền Rút vốn Đặc
biệt) đối với hàng hóa và dịch vụ của các thực thể thuộc Phụ lục 1. Phần lớn các Bên thông qua
các ngưỡng là SDR 200,000 đối với các thực thể thuộc Phụ lục 2 và SDR 400,000 đối với các
thực thể thuộc Phụ lục 3 mặc dù có nhiều mức áp dụng khác. Đối với dịch vụ xây lắp, phần lớn
các Bên thông qua ngưỡng SDR 5,000,000, khá cao so với hàng hóa và dịch vụ. Tất cả hàng hóa
đấu thầu vượt ngưỡng quy định đều được điều chỉnh trong GPA, trừ phi một Bên được đảm bảo
ngoại trừ trong quá trình đàm phán Hiệp định này. Những ngưỡng trên khác nhau khá nhiều giữa
các nước trong các hiệp định song phương với ngưỡng thường là cao hơn được áp dụng cho các
nước không tham gia GPA.
2.2 Tổng quan các FTA của EU
Bảng 1 tóm tắt các điều khoản đấu thầu trong các hiệp định khu vực còn hiệu lực giữa EU và các
nước khác.
Bảng 1
Hiệp định
Loại hiệp định
Ngày có
Mở cửa dần các thị
trường mua sắm đấu
thầu liên quan một cách
hiệu quả, trên cơ sở có
đi có lại.
WTO +
EU-Hàn Quốc
FTA
11/7
Tự do hóa
WTO bổ sung
Nguồn: Tác giả tổng hợp
14
Hiệp định Đối tác Kinh tế (EPA) hướng tới giới thiệu quan hệ thương mại không trên cơ sở có đi có lại phù hợp
với hướng dẫn của WTO và nhằm xóa nghèo ở CARIFORUM, thúc đẩy hội nhập khu vực, hợp tác kinh tế và thúc
đẩy hội nhập của nhóm này dần dần vào kinh tế thế giới.
15
Hiệp định Hợp tác này gồm ba trụ cột: đối thoại chính trị, các chương trình hợp tác phát triển và một FTA. Hiệp
định thương mại này đem lại tự do hóa hàng hóa và dịch vụ tiệm tiến và trên cơ sở có đi có lại thông qua FTA phù
hợp với các quy tắc và nghĩa vụ của WTO, và xây dựng các nguyên tắc chung trong tất cả các lĩnh vực liên quan đến
thương mại.
16
Nt.
12
BOT
Ưu đãi
Hàng
hóa
Dịch vụ
Dịch vụ xây
lắp
Chính
quyền trung
ương
Chính quyền
trực thuộc
trung ương
Thực thể
khác
WTO GPA
√
√
√
√
√
√
X
X
EU-
CARIFORUM
√
√
√
√
20
X
Nguồn: Tác giả tổng hợp
* Sửa đổi theo tham vấn với các bên Đánh giá các hiệp định giữa EU- Hàn Quốc, EU- Mỹ Latinh, EU- Trung Mỹ và EUCAR cho
thấy các cam kết về phạm vi quy định được nêu chi tiết và các ngoại lệ được liệt kê trong văn
kiện. Phạm vi quy định các thực thể, tất cả các FTA, ngoại trừ EUCAR, gồm chính quyền trung
ương, cơ quan trực thuộc trung ương và các thực thể khác. Trong hiệp định EU- Hàn Quốc, mà
cả EU và Hàn Quốc đều là thành viên của GPA, danh sách các thực thể được quy định trong
FTA toàn diện và phạm vi của các cam kết song phương tương đương với các nghĩa vụ trong
GPA của WTO. Theo FTA giữa EU và Hàn Quốc, phạm vi quy định thậm chí còn không chỉ 17
Sách hướng dẫn Bruegel ‘Hậu WTO: Phân tích các hiệp định thương mại ưu đãi của EU và Mỹ,’ (2009) tập VII,
14
18
Ahearn, R.J ‘Các hiệp định thương mại ưu đãi của châu Âu: Hiện trạng, nội dung và hệ lụy’ (2011) Báo cáo
Nghiên cứu cho Nghị viện, 7-5700.
19
Trong hiệp định này, hợp đồng BOT được xác định là “bất cứ thỏa thuận hợp đồng nào mà có mục đích chính là
cung cấp xây dựng hay đại tu cơ sở hạ tầng, nhà máy, tòa nhà, các cơ sở, hay các công trình khác của chính phủ và
theo thỏa thuận đó, xem xét để nhà cung cấp thực hiện các thỏa thuận theo hợp đồng, bên mời thầu trao cho nhà
cung cấp trong một khoảng thời hạn nhất định, quyền sở hữu tạm thời hay quyền kiểm soát và hoạt động và yêu cầu
thanh toán sử dụng các công trình trong thời hạn của hợp đồng.”
20
Trong Phụ lục 1, trong trung hạn đến dài hạn, tất cả các bên cam kết tuân theo các ngưỡng giá trị
của GPA ngoại trừ trường hợp CARIFORUM xác định ngưỡng giá trị cao hơn nhằm đảm bảo
điều chỉnh cả các hợp đồng quan trọng về mặt kinh tế, đồng thời giảm thiểu chi phí tuân thủ bằng
việc loại trừ nhiều hợp đồng giá trị nhỏ hơn gây mất nhiều thời gian và chi phí để tuân thủ các
chi tiết thủ tục. Tuy nhiên, phải lưu ý rằng cho đến thời gian ngay sau khi thực thi hiệp định, theo
hiệp định EUCA, các nước El Salvador, Guatemala, Nicaragua và Honduras đề nghị hạ từ
ngưỡng giá trị cao hơn xuống ngưỡng giá trị GPA trong các giai đoạn nhất định.
Trong Phụ lục 2, hiệp định EUCA gồm một ngưỡng giá trị cao hơn ngưỡng giá trị của GPA
ngoại trừ các cơ quan EU được điều chỉnh theo luật công có ngưỡng giá trị là SDR 200,000
(Quyền Rút vốn Đặc biệt). Hiệp định EULA một lần nữa tuân theo ngưỡng giá trị phổ biến của
GPA dành cho chính quyền trực thuộc cấp trung ương.
Phụ lục 3 cho thấy các ngưỡng giá trị GPA ngày càng được tuân thủ. Điều này đặc biệt phù hợp
với hiệp định EUCA trong phần dịch vụ xây lắp khi ngưỡng dịch vụ được chia thành hai hạng
mục, điều này có nghĩa là ngưỡng giá trị áp dụng cho một thực thể phụ thuộc vào việc thực thể
đó nằm trong danh mục nào. Phân tích ngưỡng cho thấy Danh sách A và B của tất cả các nước
(tính đến yếu tố lạm phát) được liệt kê theo cách thức là Danh sách B phù hợp với ngưỡng giá trị
của GPA đối với hàng hóa và dịch vụ còn Danh sách A chỉ áp dụng một nửa ngưỡng giá trị của
GPA.
22
Tuy vậy, các nước như Guatemala tận dụng phương pháp cho phép họ dần tiến tới giá trị
của GPA. Theo hiệp định EUKOR (EU với Hàn Quốc) đã tăng ngưỡng đấu thầu dịch vụ xây lắp
lên SDR 15,000,000. Một vấn đề nên lưu ý rằng EU chỉ cam kết duy trì các ngưỡng giá trị phù
hợp với GPA. 21
Nt. Điều 9: 2 của hiệp định nêu, ‘Mua sắm trong chương này sẽ là tất cả mua sắm trong các Phụ lục của mỗi Bên
ký kết GPA 1994 và bất kỳ ghi chú nào kèm theo, bao gồm sửa đổi và thay thế’.
“Khi mô tả đặc điểm kỹ thuật của hàng hóa và dịch vụ được đấu thầu, Bên mời thầu khi phù
hợp, sẽ:
a) Xác định đặc điểm kỹ thuật liên quan đến các yêu cầu về hiệu suất và vận hành, chứ
không phải đặc điểm thiết kế hay mô tả; và
b) Các đặc điểm kỹ thuật dựa trên cơ sở các tiêu chuẩn quốc tế, nếu có; nếu không thì trên
cơ sở các quy định kỹ thuật quốc gia, các tiêu chuẩn quốc gia được công nhận hoặc xây
dựng các quy tắc.”
24Ví dụ khác là hiệp định EU-CARIFORUM quy định “bên mời thầu sẽ đảm bảo các đặc điểm kỹ
thuật đã hay dự định áp dụng [ ] được nêu trong thông báo, hồ sơ mời thầu”.
25
Trên hết, các
hiệp định này cũng đưa ra các hướng dẫn khá chi tiết cho các bên mời thầu của các Bên ký kết để
thực hiện đấu thầu thông qua đàm phán trong trường hợp ý định đàm phán đã được nêu trước đó
trong thông báo mời thầu và các điều khoản quy định trong các hiệp định này.
26FTA của EUKOR tái khẳng định các cam kết về thủ tục đấu thầu trong điều 9 (1) là: “Đối với tất
cả các mua sắm được điều chỉnh trong chương này, các Bên sẽ áp dụng văn kiện GPA sửa đổi đã
thống nhất”.
Bảng 3 quy định chi tiết cam kết của các đối tác FTA.
23
Giải quyết
tranh chấp
Minh bạch
Mua sắm qua
mạng
EU-CARIFORUM
√
√
√
√
√
28
√
X
EU-Trung Mỹ
√
√
√
√
√
29
√
30
√
34
Một ví dụ khác về năng lực của nhà cung cấp trong FTA của EULA là trong Điều 180
gồm nghĩa vụ rất phù hợp với văn kiện GPA sửa đổi dưới đây.
“1. Bên mời thầu duy trì một danh sách sử dụng nhiều lần về các nhà cung cấp, với điều
kiện là một thông báo mời các nhà cung cấp quan tâm đăng ký để được vào danh sách
được công bố hàng năm, và khi công bố bằng phương tiện điện tử, thì phải được liên tục
đăng trên phương tiện có sẵn phù hợp liệt kê trong Phụ chương III. Một thông báo như
trên sẽ bao gồm thông tin theo quy định tại Phụ chương V.
2. Dù đoạn 1, trong trường hợp danh sách sử dụng nhiều lần có hiệu lực trong ba năm
hay ít hơn, bên mời thầu có thể công bố một thông báo đề cập trong đoạn trên chỉ một
lần, khi bắt đầu danh sách trên có hiệu lực, với điều kiện là thông báo trên nêu thời hạn
có hiệu lực và không có thêm thông báo nào được công bố nữa.
3. Bên mời thầu sẽ cho phép các nhà cung cấp đăng ký vào bất kỳ thời điểm nào để được
tham gia vào danh sách sử dụng nhiều lần và sẽ đưa vào danh sách tất cả các nhà cung
cấp đủ điều kiện trong khoảng thời gian ngắn hợp lý”.
2.2.2.2 Các hình thức đấu thầu
Các hình thức đấu thầu chính được các nước đối tác cam kết trong các hiệp định là đấu thầu rộng
rãi, chọn lọc và hạn chế. Liên quan đến hình thức đấu thầu, các điều kiện đấu thầu phù hợp với
văn kiện GPA sửa đổi.
Theo thủ tục đấu thầu rộng rãi, tất cả các nhà cung cấp quan tâm có thể nộp hồ sơ dự thầu.
Theo thủ tục đấu thầu chọn lọc chỉ những nhà thầu nào được bên mời thầu mời mới có thể nộp
hồ sơ dự thầu. Văn kiện quy định rằng bất cứ nhà cung cấp nào đáp ứng điều kiện phải được
công nhận là nhà cung cấp “trừ phi bên mời thầu nêu trong thông báo về đấu thầu dự kiến bất cứ 27
“Miễn là thủ tục đấu thầu không dùng để lẩn tránh cạnh tranh hoặc để bảo vệ các nhà cung cấp
trong nước, bên mời thầu có thể trao hợp đồng thông qua đấu thầu hạn chế hoặc các thủ tục đấu
thầu tương đương khác trong các trường hợp sau đây:
(a) trong trường hợp,
(i) không hồ sơ dự thầu nào được nộp, hoặc không có nhà cung cấp nào tham
dự;
(ii) không hồ sơ dự thầu nào tuân thủ các yêu cầu thiết yếu của hồ sơ mời thầu
được nộp;
(iii) không nhà cung cấp nào thỏa mãn các điều kiện tham gia; hoặc
(iv) Hồ sơ dự thầu được nộp đã thông thầu; miễn là các yêu cầu của hồ sơ thầu
không được sửa đổi nhiều.”
Đàm phán: Các văn kiện FTA cho phép các thực thể tổ chức đàm phán với các nhà cung cấp dự
thầu, miễn là trong thông báo mời thầu ban đầu hay đánh giá thầu cho thấy có thể tổ chức đàm
phán. Đánh giá với trách nhiệm cao nhất nên được tuân thủ để không nhà thầu nào có lợi thế
nhất và tuân theo các biện pháp phòng ngừa nhằm đảm bảo các đàm phán đó không phân biệt đối
xử giữa các nhà cung cấp. Như nêu trong hiệp định EUCA trong điều 219: 2:
“Bên mời thầu sẽ:
a) Đảm bảo rằng việc loại bỏ nhà cung cấp tham gia đàm phán được thực hiện tuân
theo các tiêu chí đánh giá nêu trong thông báo hoặc hồ sơ mời thầu; và
b) Nếu đàm phán kết thúc, đưa ra một thời hạn chung cho các nhà cung cấp còn lại
để nộp bất cứ hồ sơ dự thầu mới hay sửa đổi nào.” 2.2.2.3 Thời hạn
Văn kiện GPA sửa đổi quy định rằng “Bên mời thầu sẽ, theo nhu cầu hợp lý của mình, cho các
38
về
các tiêu chí đánh giá cụ thể nêu trong thông báo hay hồ sơ mời thầu.
2.2.3 Chế tài pháp luật
Quy trình rà soát trong nước và giải quyết tranh chấp được đưa từ văn kiện GPA và GPA sửa đổi
vào FTA.
2.2.3.1 Giải quyết kiến nghị, khiếu nại trong đấu thầu và rà soát trong nước
Tất cả các FTA quy định thủ tục rà soát không phân biệt đối xử, và toàn diện nhằm tạo điều kiện
cho các nhà cung cấp được giải quyết kiến nghị, khiếu nại trong đấu thầu trong trường hợp vi
phạm luật lệ. Mức độ quy định khác nhau giữa các hiệp định khác nhau. Tất cả các FTA không
có ngoại lệ nào quy định về việc thành lập một cơ quan quản lý công bằng vô tư để rà soát kiến
nghị, khiếu nại các gói thầu.
Cụ thể, các hiệp định EUCA và EULA quy định chi tiết và cung cấp thông tin về các hình thức
giải quyết kiến nghị, khiếu nại trong đấu thầu.
39
Mặt khác, EU-CARIFORUM khá mơ hồ và
không quy định thời hạn chính xác nộp kiến nghị, khiếu nại và các điều khoản liên quan quy
định: ‘[ ] khi cơ sở kiến nghị, khiếu nại được làm rõ và hợp lý thì có thể trở thành nhà cung
cấp’.
40
Ngoài ra, hiệp định không quy định các biện pháp cụ thể phải thực hiện để sửa chữa các
vi phạm và bồi thường cho bên bị vi phạm.
41
43
Hiệp định EUCA , Điều 317
18
Tương tự, hiệp định EUCA quy định giải quyết tranh chấp trong Mục XII một cách ngắn gọn
nhưng lại quy định vấn đề này trong một phần mở rộng trong Mục X của hiệp định, dựa trên
phương thức giải quyết tranh chấp nhằm tránh giải quyết bất cứ tranh chấp giữa các bên về cách
diễn giải hay áp dụng phần 4 của Hiệp định này.
44Hiệp định Đối tác kinh tế (EPA) giữa EU-CARIFORUM quy định hướng dẫn giải quyết tranh
chấp trong phần III của Hiệp định.
45
Cơ chế giải quyết tranh chấp áp dụng đối với bất cứ tranh
chấp nào liên quan đến cách diễn giải và áp dụng EPA.
46
Các điều khoản liệt kê chi tiết hướng
dẫn các hình thức đệ trình yêu cầu tham vấn sau khi thành lập ban trọng tài và thủ tục trong
trường hợp tranh chấp không được giải quyết hay phán quyết không được tuân thủ.
47
Phân tích
hiệp định EU-CARIFORUM cho thấy tính hiệu lực của các điều khoản bị suy giảm do khuôn
khổ kiến nghị, khiếu nại thầu yếu và không rõ ràng.
482.2.4 Các cam kết bổ sung
44
Hiệp định EUCA , Điều 308
45
EU-CARIFORUM EPA, Điều 202
46
Nt, Điều 203 : 1
47
Nt, Điều 209-221
48
K. Dawar và S. Evenett ‘Nghiên cứu tình huống về chủ nghĩa khu vực: Đối tác Kinh tế EC-CARFORUM’ trong
S. Arrowsmith và Robert D. Anderson (eds.) Cơ chế của WTO về Mua sắm của Chính phủ: Thách thức và Cải cách
(Cambridge University Press 2011) Chương 21
49
Hiệp định EUCA , Điều 221
19
tuyến tại cấp khu vực, chỉ là giả định là ở cấp khu vực, mặc dù chưa rõ ràng.
50
Các nghiên cứu
cho thấy việc cung cấp hỗ trợ kỹ thuật còn hơi yếu trong hiệp định được cho là có tinh thần hỗ
trợ phát triển.
512.2.4.4 Hỗ trợ tổ chức
Ủy ban Thương mại và Phát triển CARIFORUM được yêu cầu rà soát việc thực hiện các điều
khoản về đấu thầu sau ba năm và đưa ra khuyến nghị cho Ủy ban Liên hợp.
89.8
57
92
58
104.6
59
Tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm (%)
8.48
6.2
5.3
6.78
Tổng số hợp đồng mua sắm được trao
33,891
69,051
80,202
95,069
Tổng giá trị trao hợp đồng
(tỉ VND)
90,150
290,297
388,985
334,097
Tổng giá trị trao hợp đồng
(tỉ US$)
60
của Chính phủ, Có trên
<
57
‘Báo cáo tình hình kinh tế xã hội 2008’ Cổng thông tin điện tử của Chính phủ, Có trên
<
58
‘Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế xã hội 2009’ Tổng cục Thống kê, Có trên
<
59
‘Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế xã hội 2010’ Tổng cục Thống kê, Có trên
<
60
Xem báo cáo Bộ KHĐT, chú thích 52.
20
Nguồn: Báo cáo thường niên về Mua sắm công của Việt Nam, Bộ Kế hoạch Đầu tư, 2007 - 2010 Tổng giá trị mua sắm công của Việt Nam tăng gấp ba lần, từ gần 9% lên đến 22% GDP trong
giai đoạn 2007-2010. Tổng giá trị hợp đồng được trao cũng cho thấy sự gia tăng đáng kể, từ 90 tỉ
VND lên đến 334 tỉ VND trong giai đoạn này. Với tốc độ tăng trưởng ngày càng tăng của Việt
Nam và tỷ trọng mua sắm công cũng tăng, rõ ràng tự do hóa thị trường đấu thầu của Việt Nam
đầy triển vọng.
3.2 Khuôn khổ pháp lý về Mua sắm Chính phủ của Việt Nam
Luật Đầu thầu ban hành năm 2005, là pháp luật cơ bản, cốt lõi.
61
Luật quy định tất cả các hoạt
; Xăng 61
Xem Luật số 61 /2005/QH11 do Quốc hội nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành vào Khóa XI, phiên thứ 8
(sau đây gọi là Luật Đấu thầu 2005).
62
DNNN được định nghĩa là ‘doanh nghiệp có 50% tổng số vốn do Nhà nước sở hữu’. Xem Luật số 60/2005/QH11
do Quốc hội nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành vào Khóa XI, phiên thứ 8, gọi là Luật Doanh nghiệp 2005,
Điều 4: 22.
63
Xem Luật Đấu thầu, chú thích 61, Điều 1.
64
Nghị định 85/2009/ND-CP ngày 15 tháng 10 năm 2009 “Hướng dẫn thi hành luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu
xây dựng theo Luật Xây dựng”.
65
Hợp đồng BOT (Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao) là hợp đồng được ký kết giữa Cơ quan nhà
nước có thẩm quyền và nhà đầu tư xây dựng và kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định;
khi thời hạn hết, nhà đầu tư sẽ chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam. Xem Nghị định
108/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 11, năm 2009, Điều 2: 1.
66
Hợp đồng BTO (Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh) là hợp đồng được ký kết giữa Cơ quan nhà
nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư
chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó
trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận. Xem Nghị định 108/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 11
năm 2009, của Chính phủ về ‘đầu tư theo hình thức Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (BOT), Hợp
đồng Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (BTO) và Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao (BT)’ Điều 2: 2.
67
Hợp đồng BT (Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao) là hợp đồng được ký kết giữa Cơ quan nhà nước có thẩm
quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình
. Các
quyết định trên cung cấp thông tin về hình thức chấp thuận tài liệu liên quan đến đấu thầu trong
các cơ quan và tỉnh cũng như quy định rõ quyền và trách nhiệm của người có thẩm quyền
78
, chủ
đầu tư
79
và bên mời thầu
80
.
Một tiến triển đáng chú ý trong khuôn khổ đấu thầu hiện hành là dự án thí điểm đấu thầu điện
tử.
81
Theo hệ thống này, đấu thầu điện tử đã được thực hiện thử nghiệm tại Ủy ban Nhân dân Hà
Nội, Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông Việt Nam, và Tập đoàn Điện lực Việt Nam.
82
Hệ thống
đấu thầu điện tử theo mô hình hệ thống đấu thầu điện tử trực tuyến của Hàn Quốc, có tên là
Koneps.
83Các luật và quy định liên quan đến đấu thầu, khuôn khổ áp dụng luật chung bao gồm:
a) Luật Phòng, chống tham nhũng (2005)
84
/>ails=1
78
“Người có thẩm quyền là người được quyền quyết định dự án theo quy định của pháp luật.” (Luật Đấu thầu 2005,
chú thích 61, Điều 4: 8)
79
“Chủ đầu tư là người sở hữu vốn hoặc được giao trách nhiệm thay mặt chủ sỡ hữu, người vay vốn trực tiếp quản
lý và thực hiện dự án […].”(Xem Luật Đấu thầu 2005, chú thích 61, Điều 4: 9)
80
“Bên mời thầu” là chủ đầu tư hoặc tổ chức chuyên môn có đủ năng lực và kinh nghiệm được chủ đầu tư sử dụng
để tổ chức đấu thầu theo các quy định của pháp luật về đấu thầu (Xem Luật Đấu thầu 2005, chú thích 61, Điều 4:
10).
81
Xem Luật Đấu thầu, chú thích 61, Điều 58.
82
Truy cập đấu thầu điện tử qua cổng điện tử
83
Việt Nam Business News ‘E-bidding makes public procurement transparent’. Online access <
http://Việtnambusiness.asia/e-bidding-makes-public-procurement-transparent/>
84
Xem Luật Phòng, chống tham nhũng 2005. Có trên
<ệtlaw.gov.vn/LAWNET/docView.do?docid=18968&type=html>