Luận văn: Vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài của Liên minh Châu Âu vào Việt Nam trong những năm gần đây - Pdf 12

Trang
1Luận văn
Vấn đề đầu tư trực tiếp
nước ngoài của Liên
minh Châu Âu vào Việt
Nam trong những năm
gần đây
Trang
2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
PHẦN I : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI 6
I. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài 7
1.Những khái niệm chung 7
1.1. Khái niệm về đầu tư nước ngoài 7
1.2. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài 7
2.Nguồn gốc và động lực của đầu tư trực tiếp nước ngoài. 12
2.1. Nguồn gốc đầu tư trực tiếp nước ngoài 12
2.2. Động lực của đầu tư trực tiếp nước ngoài 13
II. Vai trò của FDI trong quá trình phát triển kinh tế 15
1. Đối với nước tiếp nhận vốn đầu tư 15
2. Đối với nước đi đầu tư 21
III.Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI 22
1. Ổn định môi trường kinh tế chính trị 22
2. Các chính sách kinh tế 23
3. Hệ thống pháp luật 24
4. Cơ sở hạ tầng 24

THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀO VIỆT NAM 76
I. Phương hướng thu hút FDI của EU ở Việt Nam giai đoạn 2001-
2010 76
1. Quan điểm của nhà nước Việt Nam về vấn đề thu hút FDI 76
2. Mục tiêu và phương hướng thu hút FDI của EU vào Việt Nam 77
2.1. Những thời cơ và thách thức của Việt Nam đối với việc thu hút FDI
của EU 77
2.2. Mục tiêu và phương hướng thu hút FDI của EU ở Việt Nam giai đoạn
2001- 2010 80
II. Triển vọng hợp tác đầu tư trực tiếp nước ngoài- EU 83
1. Triển vọng về kinh tế Châu Âu 83
2. Đặc điểm của các nhà đầu tư EU 84
3. Triển vọng hợp tác đầu tư nước ngoài Việt Nam- EU 86
III. Một số giải pháp chủ yếu thu hút có hiệu quả đầu tư trực tiếp
nước ngoài của Liên minh Châu Âu vào Việt Nam. 90
1. Những giải pháp chính trị 90
2. Những giải pháp kinh tế 95
KẾT LUẬN 100
Phụ lục I 101
Tài liệu tham khảo 102

Trang
4
LỜI MỞ ĐẦU

Kể từ khi luật đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam ban hành
năm 1987, không ai có thể phủ nhận những đóng góp to lớn mà nguồn
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã đóng góp cho sự phát triển kinh
tế của Việt Nam. nói cách khác Việt Nam không thể thiếu nguồn vố này

hoạch định chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam với các nước trong
Liên minh này.
Theo cách xem xét đó đề tài “Vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài
của Liên minh Châu Âu vào Việt Nam trong những năm gần đây” được
chọn để nghiên cứu.
Đề tài được chia làm 3 phần:
Phần I . Những vấn đề lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Phần II . Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của Liên
minh Châu Âu vào Việt Nam.
Phần III . Triển vọng và một số giải pháp chủ yếu để thúc đẩy hoạt
động đầu tư trực tiếp nước ngoài của liên minh Châu Âu vào Việt Nam.
Trước khi đi vào bài viết, tôi xin trân trọng cảm ơn Thạc sỹ Nguyễn
Hồng Minh, Chuyên viên Lê Việt Anh và các Chuyên viên khác của Vụ
đầu tư nước ngoài đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành tốt bài
viết này.
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng và tâm huyết trong bài viết, song do
điều kiện nghiên cứu và trình độ viết còn hạn chế nên chắc chắn không
tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các
thầy cô giáo và các độc giả quan tâm. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Lomé
FDI Foreign Direc Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
ASEAN Association of South-earth Asian
Nations
Hi
ệp hội các quốc gia Đông Nam Á
NGO Non-Goverment Organization Tổ chức phi chính phủ
GSP
Generalised System of Peferrences
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập

ASEM Asian- European Meeting Hi
ệp hội các quốc gia Đông Nam Á
TNC
S
Trans National Corporation Các công ty xuyên quốc gia
MFN The most Favoured Nation Chế độ đãi ngộ tối huệ quốc
EMU
European Economic and Moneytary
Union
Liên minh kinh tế tiền tệ Châu Âu
EBIC European Busines
s information Cetre
Trung tâm thông tin kinh doanh Châu
Âu
ODA Official Development Viện trợ phát triển chính thức


:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Đầu tư gián tiếp.
- Tín dụng quốc tế.
- Tài trợ phát triển chính thức. 1.2. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang
8
Đây là hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu mà chủ đầu tư của dự án
nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp
sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, thương mại.
Số vốn đóng góp tối thiểu này được quy định tuỳ theo luật của từng
nước. Ví dụ: Luật đầu tư nước ngoài quy định số vốn đóng góp tối thiểu
của phía nước ngoài phải bằng 30% vốn pháp định của dự án đầu tư. Ở
Mỹ tỉ lệ này quy định là 25%. Quyền quản lý, điều hành trong doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào mức độ góp vốn.
Đầu tư trục tiếp nước ngoài có những đặc điểm sau :
- Đây là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân do các chủ đầu tư tự
quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm
về lỗ lãi.Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không
có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền
kinh tế.
- Chủ đầu tư nước ngoài điều hành mọi hoạt động đầu tư nếu là
doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc tham gia điều hành
doanh nghiệp liên doanh tuỳ tỷ lệ vốn góp của mình. Đối với một số nước
trong khu vực, chủ đầu tư chỉ thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài trong một số lĩnh vực nhất định và chỉ được tham gia liên doanh với
số vốn cổ phần nhỏ hơn hoặc bằng 49% phần còn lại do nước chủ nhà

doanh được ký kết giữa hai hay nhiều bên ( gọi các bên hợp tác kinh
doanh ) để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh, trong đó quy
định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia
mà không cần thành lập xí nghiệp liên doanh và pháp nhân. Mỗi bên vẫn
hoạt động với tư cách pháp nhân độc lập của mình và mỗi bên thực hiện
nghĩa vụ của mình ghi trong hợp đồng. Kết quả hoạt động phụ thuộc vào
sự tồn tại và thực hiện nghĩa vụ của mỗi bên hợp doanh.
Luật còn quy định thêm trong quá trình hoạt động kinh doanh, bên
Việt Nam nộp thuế cho doanh nghiệp trong nước, bên nước ngoài nộp
thuế theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh có thể kết thúc trước thời hạn nếu thoả
mãn đủ các điều kiện ghi trong hợp đồng. Hợp đồng cũng có thể được kéo
dài khi có sự đồng ý của Bộ kế hoạch và đầu tư.

1.2.2. Doanh nghiệp liên doanh
Đây là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, qua đó pháp nhân mới
được thành lập gọi là doanh nghiệp liên doanh. Doanh nghiệp mới này do
hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp
đồng liên doanh hoặc hiệp định ký kết giữa chính phủ nước CHXHCH
Việt Nam và chính phủ nước ngoài. Doanh nghiệp liên doanh cũng có thể
được thành lập do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với nhà
Trang
10
đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Nhằm tiến hành các
hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, pháp
nhân mới thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn trong đó
phần góp vốn của nước ngoài không hạn chế mức tối đa, nhưng mức tối
thiểu theo quy định của luật không dưới 30% vốn pháp định.
Mỗi bên tham gia vào doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân
riêng. Nhưng doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân độc lập với các


1.2.4. Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao
Là một phương thức đầu tư trực tiếp được thực hiện trên cơ sở văn
bản được ký kết giữu nhà đầu tư nước ngoài ( có thể là tổ chức, cá nhân
nước ngoài ) với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Việt Nam để xây
dựng kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định,
hết thời hạn, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công
trình đó cho nhà nước Việt Nam.
Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao thường được thực
hiện bằng vốn nước ngoài và phần vốn góp của chính phủ Việt Nam hoặc
tổ chức, cá nhân Việt Nam. Trong hình thức đầu tư này, các nhà đầu tư có
toàn quyền tổ chức xây dựng, kinh doanh một công trình đủ thời gian thu
hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý, sau đó có nghĩa vụ chuyển giao
cho nhà nước Việt Nam mà không thu bất kỳ khoản tiền nào.

1.2.5. Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh
Là phương thức đầu tư dựa trên văn bản ký kết giữa cơ quan nhà
nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây
dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà
đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình cho nhà nước Việt Nam. Nhà
nước Việt Nam sẽ giành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó
trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.

1.2.6. Hợp đồng xây dựng – chuyển giao
Là một phương thức đầu tư nước ngoài trên cơ sở văn bản ký kết
giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước
ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà
đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam,
chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự
án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.

Đến những năm 1950, vai trò của đầu tư trực tiếp gần như bị quên
lãng. Vào những năm sau đó, Chính phủ nhiều nước bắt đầu lo lắng đến
ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tình hình kinh tế, chính trị
trong nước cho nên đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giảm đi rõ rệt. Trong
giai đoạn này lượng vốn lượng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp gần như
bằng nhau.
Trong suốt những năm 90, đầu tư trực tiếp nước ngoài thay đổi cả về
số lượng và cơ cấu. Hầu hết đầu tư trực tiếp nước ngoài thay đổi cả về số
Trang
13
lượng và cơ cấu. Hầu hết đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung vào những
nước phát triển. Các nước Anh, Mỹ, Canada, Italia, có vai trò ngày càng
to lớn trong khi đầu tư trực tiếp của Nhật, Đức giảm đi rõ rệt. Chỉ có gần
20% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giành cho các nước đang phát triển.
Trong đó Châu Á nhận được nhiều nhất.
Những luồng vốn đầu tư trên toàn thế giới như vậy phản ánh quá
trình quốc tế hoá là một tất yếu khách quan của lịch sử. Điều đáng lưu ý là
quá trình này càng được phát triển cùng với sự ra đời của các công ty đa
quốc gia. Các công ty này thường là các phương tiện cho việc đi vay và
cho vay quốc tế, chiếm 70% từ FDI quốc tế. Công ty mẹ thường chuyển
giao vốn của mình qua các công ty chi nhánh ở nước ngoài. Vì vậy, FDI
gắn liền với các công ty đa quốc gia không chỉ là sự chuyển giao nguồn
lực mà còn là sự mở rộng thị trường, mở rộng sự kiểm soát và quản lý.

2.2. Động lực của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Động cơ chung nhất của các nhà đầu tư nước ngoài là tìm kiếm thị
truờng đầu tư hấp dẫn, thuận lợi và an toàn nhằm thu lợi nhuận cao và sự
thịnh vượng lâu dài của doanh nghiệp. Tuy nhiên, động cơ cụ thể của chủ
đầu tư trong từng dự án lại rất khác nhau tuỳ thuộc vào chiến lược phát
triển của doanh nghiệp và mục tiêu của nó ở thị trường nước ngoài, tuỳ

Ngoài ra, việc đầu tư ra nước ngoài còn nhằm tránh các hàng rào
thuế quan và những hạn chế khác mà nước chủ nhà áp dụng trong nhập
khẩu hoặc ngược lại có một số nước tạo điều kiện thuận lợi nhằm khuyến
khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào địa phương họ muốn.
Động lực của đầu tư trực tiếp nước ngoài còn nhằm ra nhập thị
trường không độc quyền (Oligopolistic market ) để chia sẻ quyền lực hoặc
để mua một công ty nào đó có nhiều hứa hẹn nhằm tránh được sự cạnh
tranh trong tương lai có thể mất thị trường xuất khẩu. Hoặc có một lý do
khác là chỉ có các công ty đa quốc gia của nước ngoài mới đạt được mức
độ độc quyền cần thiết về tài chính để xâm nhập thị trường nước chủ nhà.
Xét một khía cạnh khác, đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra theo hai chiều
có thể được giải thích là do công nghệ tiên tiến ở một quốc gia A nào đó
thúc đẩy việc đầu tư vào một quốc gia B, ví dụ công nghệ máy tính của
Mỹ đầu tư trực tiếp vào Châu Âu. Còn các nghành công nghệ khác bị ảnh
hưởng bởi nước B lại thúc đẩy việc đầu tư ngược lại vào nước A, ví dụ
công nghệ xe hơi của Tây Âu và Nhật Bản đầu tư vào Mỹ.
Hiện nay hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có nhiều thuận lợi
hơn nhờ hệ thống lưu thông hiện đại, hệ thống thông tin liên lạc tiên tiến
Các phương tiện này phát triển mạnh từ sau chiến tranh thế giới lần thứ
hai. Hiện nay các trụ sở chính của các công ty đa quốc gia có thể điều
Trang
15
khiển trực tiếp hoạt động kinh doanh khắp thế giới trong thời gian ngắn.
Chính những phương tiện này đã tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho
việc đầu tư trực tiếp ra nưóc ngoài phát triển.

II. Vai trò của FDI trong quá trình phát triển kinh tế
1. Đối với nước tiếp nhận vốn đầu tư
1.1. Chuyển giao công nghệ
Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủ đầu tư không chỉ chuyển vào

thuộc lẫn nhau. Hoạt động FDI là kết quả trực tiếp của quá trình trên. Nó
tuân theo quy luật của quá trình phân công lao động quốc tế.
Chuyển giao công nghệ cũng là yêu cầu tất yếu của sự phát triển
khoa học kỹ thuật. Bất kỳ một tổ chức nào muốn thay thế kỹ thuật công
nghệ mới thì cũng phải tìm nơi thải những công nghệ cũ. Việc thải những
công nghệ cũ này dễ dàng được nhiều nơi chấp nhận. Và chính sự “ lan
toả” những thành tựu khoa học kỹ thuật của nhân loại thường xuyên như
thế này đã tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng của
khoa học kỹ thuật.

1.2.Chuyển giao vốn.
Đối với những nước lạc hậu, trình độ sản xuất thấp kém, năng lực
sản xuất chưa được phát huy kèm với cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn
thì việc tiếp thu được một nguồn vốn lớn là điều hết sức cần thiết. Ở các
nước này có nhiều tiềm năng về lao động, tài nguyên thiên nhiên nhưng
do trình độ sản xuất còn thấp kém, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu,
chưa có điều kiện để khai thác tiềm năng ấy. Các nước này chỉ có thể
thoát ra cái vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói bằng cách tăng cường đầu tư
phát triển sản xuất, tạo ra mức tăng trưởng kinh tế cao và ổn định. Để
thực hiện điều này các nước đang phát triển phải cần nhiều vốn đầu tư.
Trong điều kiện hiện nay, khi mà trên thế giới, một số nước nắm trong tay
một khối lượng vốn khổng lồ và có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài thì đó là
cơ hội để các nước đang phát triển có thể tranh thủ nguồn vốn đầu tư
nước ngoài vào việc phát triển kinh tế.
Tại nhiều nước đang phát triển, vốn FDI chiếm tỷ lệ đáng kể trong
tổng vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế, trong đó có một số nước hoàn
toàn dựa vào vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là giai đoạn đầu của sự phát
triển kinh tế. Để đánh giá vai trò của vốn đầu tư nước ngoài trên tổng sản
phẩm quốc dân (FDI/GDP) ở một số nước thực hiện khá thành công
chiến lược thu hút FDI trung bình trên 10% như : Braxin 11.1%,

thể hiện qua bảng sau:

Năm Các nước đang phát
triển (%)
các nước phát
triển (%)
Toàn bộ trên thế
giới ( tr USD)
1983- 1987 25,7 74,26 71,1
1988- 1992 20,76 79,24 177,3
1993 35,16 64,84 207,9
1994 38,55 61,45 225,7
1995 31,66 68,34 314,9
Trang
18
1996 34,44 65,56 356,8

Nguồn : World Investment Report 1997.
Bên cạnh đó, điều quan trọng của FDI đối với phát triển kinh tế là
vai trò của nó đối với nguồn tiết kiệm. Về cơ bản FDI có thể khuyến
khích tăng nguồn tiết kiệm đặc biệt đối với nước nhận đầu tư. Quá trình
này có thể dễ dàng xảy ra vì FDI có thể tạo thêm việc làm trong nước và
tạo ra thu nhập, do đó nó có thể làm cho nguồn tiết kiệm tăng lên ở nước
sở tại. Ngoài tiền lương mà các nhà đầu tư nước ngoài trả những khoản
thu nhập mà những nhà cung cấp địa phương kiếm được thì các nhà đầu
tư nước ngoài cũng có ảnh hưởng tích cực đến tiết kiệm. Cùng với thời
gian các nhà đầu tư nước ngoài có thể làm tăng tiết kiệm trong nước bằng
những cách khác nhau như xây dựng các kế hoạch trả lương, chi trả vào
các khoản tiết kiệm.
Ngoài ra, FDI còn đóng một vai trò quan trọng trong việc đáp ứng

ngoài, biết tranh thủ và phát huy tác dụng của các nhân tố bên ngoài, biến
nó thành các nhân tố bên trong thì quốc gia đó tạo ra được tốc độ tăng
trưởng cao. Các nước mới công nghiệp hoá ( NICs ) đã chứng minh thêm
cho nhận định trên. Rõ ràng là hoạt động FDI đã góp phần tích cực thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế ở những nước đang phát triển. Nó là tiền đề, là
chỗ dựa để khai thác những tiềm năng to lớn ở trong nước nhằm phát triển
kinh tế.
Mức tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển thường do nhân
tố tăng đầu tư là chủ yếu. Nhờ đó các nhân tố khác như tổng số lao động
được sử dụng, năng suất lao động cũng tăng theo. Vì vậy có thể thông qua
đầu tư để đánh giá sự tăng trưởng một cách tương đối của một nước.

1.4. Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Với chính sách thu hút FDI theo các ngành nghề định hướng hợp lý,
nguồn vốn FDI sẽ góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chẳng hạn, vốn FDI đầu tư
vào Thái Lan có trên 80% tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và ở Việt
Nam hiện nay theo tỷ lệ này khoảng 66%.
FDI là một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại,
thông qua đó các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình phân
công lao động quốc tế.Để hội nhập vào nền kinh té thế giới và tham gia
tích cực vào quá trình liên kết giữa các nước trên thế giới, đòi hỏi mỗi
quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế cho phù hợp với sự phân công lao
động quốc tế. Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phù hợp
với trình độ phát triển chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
Trang
20
hoạt động FDI. Ngược lại thì chính FDI lại góp phần thúc đẩy nhanh quá
trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế bởi vì :
- Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm xuất hiện nhiều lĩnh


Trang
21
2. Đối với nước đi đầu tư
Có thể nói đầu tư cũng là một hình thức mở rộng thị trường cho một
quốc gia hay một tập đoàn kinh tế. Việc mở rộng này có ý nghĩa nhiều
mặt đối với nước đi đầu tư.

2.1. Đứng trên góc độ vĩ mô
Thông qua các hoạt động FDI, các nước có thể mở rộng và nâng cao
mối qua hệ với nhau. Hơn thế nữa, các nước đi đầu tư thường có nhiều thế
mạnh so với nước nhận đầu tư, điều này có thể tạo nên những sự can thiệp
bất lợi vào nền chính trị của các nước này. Hoạt động FDI cũng làm cho
sự lưu thông kinh tế giữa các nước trở nên dễ dàng hơn, uy tín của các
nước đó cũng ngày một năng cao trên thị trường quốc tế. Giữa các quốc
gia sẽ tồn tại một vấn đề cơ bản là có những nước thừa mặt hàng này
nhưng cũng mặt hàng đó ở nước khác lại đang rất thiếu và ngược lại. Các
nhà đầu tư có thể chủ động để điều chỉnh sự thừa thiếu này. Họ có thể tiêu
thụ những mặt hàng đã cũ, lạc hậu hoặc nhu cầu trong nước đã giảm.
Bên cạnh đó, hoạt động FDI sẽ đem về nước những khoản lợi nhuận
hàng hoá, nguồn nguyên liệu nước này không có hoặc đã cạn kiệt Các
nước đi đầu tư sẽ dễ dàng tìm kiếm lợi nhuận hơn khi họ được thừa hưởng
những chính sách ưu đãi về thuế, khai thác tài nguyên thiên nhiên, nguồn
lao động rẻ, dồi dào, lợi dụng những kẽ hở về pháp luật, môi trường, trình
độ quản lý yếu kém

2.2. Đứng trên góc độ vi mô
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, mục đích cuối cùng là tối đa
hoá lợi nhuận. Khi thị trường trong nước đã trở nên nhỏ bé và thừa thãi
thì bắt buộc họ phải đầu tư ra nước ngoài để mở rộng thị trường tiêu thụ

hàng hoá chắc chắn, cung ứng hàng hoá, dịch vụ và nhân lực bị phá vỡ.
Sự ổn định kinh tế là điều kiện tiên quyết của mọi ý định và hành vi
đầu tư. Đối với vốn nước ngoài điều này càng có ý nghĩa quan trọng hơn
bao giờ hết. Để thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài, nền kinh tế nội địa
phải là nơi đảm bảo sự vận động an toàn của đồng vốn, sau đó là nơi có
năng lực sinh lợi cao hơn những nơi khác. Sự an toàn của vốn đòi hỏi môi
trường kinh tế ổn định, không gặp những rủi ro do yếu tố xã hội gây ra.
Một nền kinh tế ổn định vững chắc nhưng không phải và không thể là sự
ổn định bất động, tức là sự ổn định hàm chứa trong nó khả năng trì trệ kéo
dài và dẫn tới khủng hoảng. Một sự ổn định có thể coi là vững chắc nhưng
có thể là sự ổn định ngắn hạn. Trong dài hạn, loại ổn định này tiềm chứa
trong nó khả năng gây bất ổn định. Bởi vì sự ổn định không đồng nhất với
sự trì trệ, mà bản chất của sự ổn định kinh tế gắn liền với năng lực tăng
Trang
23
trưởng, nhất là các nỗ lực tăng trưởng nhanh, lâu bền. Theo cách hiểu
thông thường thì tăng trưởng tức là phá thể ổn định cũ, nhưng nếu quá
trình tăng trưởng được kiểm soát sao cho có thể chủ động tái lập được thế
cân mới thì quá trình đó cũng đồng thời là việc tạo ra cơ sở cho sự ổn
định vững chắc và lâu bền.

2. Các chính sách kinh tế
Chính sách kinh tế trực tiếp giải quyết vốn đầu tư ví dụ như các quy
định về hạn chế sở hữu tài sản hay chuyển giao lợi nhuận, các chính sách
khác của nước chủ nhà, các chính sách thương mại có ảnh hưởng tới FDI.
Chính sách thương mại và đầu tư có khả năng nhập khẩu các thiết bị máy
móc, nguyên liệu sản xuất và do đó trở thành mối quan tâm của tất cả các
nghành đặc biệt là xuất khẩu, thị trường muốn có chi phí thấp để tăng tính
cạnh tranh. Để ổn định tiền tệ các quốc gia phải sử dụng các chính sách
như : lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, các công cụ của thi trường mở và

- Quy về pháp lý của việc phân chia lợi nhuận, quyền hồi hương lợi
nhuận đối với các hình thức vận động của vốn nước ngoài tại nước sở tại.
- Các quy định về thuế, các mức thuế các loại.
Nếu như các quy định về mặt pháp lý đảm bảo về vốn của nhà đầu tư
không bị quốc hữu hoá khi hoạt động đầu tư đó không phương hại đến an
ninh quốc gia, bảo đảm mức lợi nhuận cao và mức di chuyển lợi nhuận về
nước dễ dàng thì khả năng hấp dẫn, thu hút FDI ngày càng cao.
Nhìn chung, hệ thống pháp luật là thành phần quan trọng của môi
trường đầu tư vì nó xác định mức lợi nhuận của các nhà đầu tư và quyết
định của họ khi thanh lý tài sản đầu tư tạo ra bằng một hệ thống đồng bộ
các biện pháp kinh tế xã hội cao trong điều kiện cụ thể xác định trên cơ sở
vận dụng sáng tạo những quy luật kinh tế khách quan nói chung và những
quy luật vận động đặc thù nói riêng.

4. Cơ sở hạ tầng
Một trong những trở ngại lớn nhất đối với quá trình đầu tư là sự
nghèo nàn và lạc hậu của hệ thống cơ sở hạ tầng. Kết cấu hạ tầng có ảnh
hưởng quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, trong đó đáng kể là
ảnh hưởng tới tốc độ chu chuyển vốn. Đây là vấn đề quan tâm hàng đầu
của nhà đầu tư trước khi ra quyết định đầu tư. Hệ thống cơ sở hạ tầng bao
gồm cả hệ thống giao thông, hệ thống thông tin liên lạc và các cơ sở dịch
vụ tài chính ngân hàng. Trình độ của các nhân tố này cũng phản ánh trình
độ phát triển của mỗi quốc gia, nó tạo ra bộ mặt của đất nước và môi
trường cho hoạt động đầu tư.
Trang
25

5. Cải cách thủ tục hành chính
Theo các nhà đầu tư nước ngoài thì lực cản lớn nhất hiện nay đối với
nguồn vốn FDI chính là thủ tục hành chính. Vì vậy nếu không giải quyết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status