Sáng kiếân kinh nghiệm
Phần Mở Đầu
1- Lý do chọn đề tài :
1.1 Xuất phát từ yêu cầu dạy học :
Trong chương trình Tiếng Việt ở bậc tiểu học thì phân môn chính tả
có một vò trí rất quan trọng nhằm nâng cao chất lượng của môn học Tiếng
Việt trong nhà trường. Phân môn chính tả cung cấp cho học sinh những quy
tắc sử dụng hệ thống chữ viết làm cho học sinh nắm vững các quy tắc đó
và hình thành kỹ năng viết thông thạo tiếng Việt. Phân môn chính tả còn
là cơ sở của các môn học khác. Trong trường tiểu học, phân môn chính tả
được dạy liên tục từ lớp 1 đến lớp 5 với các loại bài chính tả như : nghe
-viết, bài tập so sánh, nhớ -viết
Do đó giáo viên và học sinh phải dành nhiều thời gian để dạy và học
phân môn này. Song thực tế trong nhà trường tiểu học, học sinh mắc lỗi
chính tả là rất nhiều. Thực trạng đó xảy ra ở tất cả các khối lớp, mặc dù
trong quá trình giảng dạy giáo viên cũng đã rất cố gắng nhưng kết quả vẫn
chưa cao. Một phần không nhỏ giáo viên còn dạy một cách máy móc, rập
khuôn theo sách giáo khoa.
Chính vì vậy mà tôi đã chọn đề tài : "Một số biện pháp sửa lỗi
chính tả phụ âm đầu và phân biệt dấu hỏi - dấu ngã cho học sinh lớp 3"
Trong bài viết này, tôi muốn đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục lỗi
chính tả của học sinh tiểu học, mà cụ thể là học sinh khối lớp 3 trường tôi
để từ đó tìm ra các biện pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh theo đúng quy
ước của xã hội.
1.2 Xuất phát từ thực tiễn dạy học :
Trong quá trình giảng dạy và thao giảng dự giờ các bạn đồng nghiệp
thì thực trạng trong một lớp, đối tượng học sinh cũng khác nhau. Vì vậy
trong quá trình giảng dạy tôi tự rút ra vài kinh nghiệm cho bản thân mình.
Thông qua bài viết này, tôi muốn đóng góp một số giải pháp nhằm khắc
phục một số lỗi chính tả cho học sinh.
1.3 Xuất phát từ nhu cầu nâng cao nghiệp vụ sư phạm :
viết rời, cách biệt nhau.
Ví dụ : Trăm năm trong cõi người ta (6 âm tiết)
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau ( 8 âm tiết)
- Mỗi âm tiết tiếng Việt đều mang một thanh điệu nhất đònh. Khi
viết chữ phải đánh dấu ghi thanh điệu lên âm chính (hoặc bộ phận chính,
đối với âm chính là nguyên âm đôi) của âm tiết.
* Cấu tạo âm tiết của tiếng Việt rất chặt chẽ và ổn đònh. Ở dạng đầy
đủ, âm tiết tiếng Việt có cấu tạo như sau :
Người thực hiện :VỤ THỊ THANH HÀ Trang 2
Sáng kiếân kinh nghiệm
THANH ĐIỆU
Phụ âm đầu
Vần
Âm đệm Âm chính Âm cuối
Trong đó, âm chính và thanh điệu là hai bộ phận không thể thiếu
được trong cấu tạo của bất kỳ âm tiết nào.
* Cách xác đònh ký hiệu ghi âm chính trong chữ : Muốn xác đònh ký
hiệu ghi âm chính trong chữ, ta đặt chữ vào khuôn âm tiết.
Ví dụ :
Chữ cái
Phụ âm
đầu
Vần
Thanh điệu
Âm đầu Âm chính Âm cuối
à
án
oản
toàn
sắc
Khi xác đònh được ký hiệu ghi âm chính trong chữ, ta ghi dấu thanh
điệu lên trên (hoặc dưới) ký hiệu đó : Bàn, toàn, hóa, họa, thuế trong
trường hợp có hai ký hiệu biểu thò âm chính (âm chính là nguyên âm đôi)
+ Ghi dấu thanh điệu lên ký hiệu có dấu phụ : Tiến, chiến, quyển,
yến, suối, suốt, chứa
+ Ghi dấu thanh điệu lên ký hiệu đầu tiên (từ trái sang phải) khi cả
hai ký hiệu không có dấu phụ : Phía, của, múa
+ Ghi dấu thanh điệu lên ký hiệu thứ hai (từ trái sang phải) khi cả
hai ký hiệu đều có dấu phụ : nước, bưởi.
b) Nguyên tắc kết hợp chính tả tiếng Việt :
- Các chữ cái biểu thò các phần của âm tiết
+ Tất cả các chữ cái ghi phụ âm đều có thể làm ký hiệu ghi âm đầu
của âm tiết.
+ Tất cả các chữ cái nguyên âm đều có thể làm ký hiệu ghi âm
chính của âm tiết.
+ Có hai chữ cái để ghi âm đệm là o và u.
Người thực hiện :VỤ THỊ THANH HÀ Trang 3
Sáng kiếân kinh nghiệm
+ Các ký hiệu : p, t, m, n, c, ng (nh), i (y), u (o) biểu thò các âm cuối.
- Tự phân bổ vò trí giữa các ký hiệu cùng biểu thò một âm.
+ k, c, q
+ g, gh, ng, ngh
+ iê, yê, ia, ya
+ ua, uô
+ ưa, ươ
+ o, u làm âm điệu
+ i, y làm âm chính
c) Quy tắc viết hoa hiện hành :
đầu trong tổ hợp từ dùng làm tên.
Ví dụ : Đảng cộng sản Việt Nam
Trường đại học bách khoa Hà Nội
3.1.2- Sai cách phát âm chuẩn :
a) Lỗi viết sai phụ âm đầu
- Lỗi do không phân biệt l và n
- Lỗi do không phân biệt tr và ch
- Lỗi do không phân biệt s và x
- Lỗi do không phân biệt r, gi và d
b) Lỗi viết sai phần vần (viết sai âm cuối)
c) Lỗi viết sai thanh điệu
3.2 Khảo sát thực tế :
Qua khảo sát thực tế ở trường khối lớp mình và qua thao giảng dự
giờ, trao đổi với các bạn đồng nghiệp tôi thấy nhiều lúc giáo viên còn
phân vân, chưa phân biệt thế nào là đúng đồng thời do cách phát âm chưa
chuẩn.
3.3 Khảo sát học sinh :
Kiểm tra vở viết của học sinh để khảo sát trình độ học sinh.
Kiểm tra chất lượng học sinh bằng viết, bằng phiếu học tập.
3.5 Phương pháp kiểm tra đánh giá :
Thông qua nội dung các bài tập, thông qua phiếu học tập của học
sinh để rút ra phương pháp rèn luyện cho học sinh.
Người thực hiện :VỤ THỊ THANH HÀ Trang 5
Sáng kiếân kinh nghiệm
Phần Nội Dung
CHƯƠNG I
ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH
Đầu năm học 2005 -2006, tôi nhận chủ nhiệm lớp 3H Trường Tiểu
học Trần Quốc Toản. Tổng số học sinh là 40 em trong đó có 25 nam và 15
- Đa số cha mẹ các em là nông dân, công nhân nên ít có thời gian
quan tâm theo dõi việc học của con mình.
- Phụ huynh luôn nghó rằng giao phó trách nhiệm cho nhà trường.
- Phần đông các em phát âm không chuẩn theo phương ngữ đòa
phương, nói đọc như thế nào viết như thế đó do đó các em hay mắc lỗi
chính tả.
- Một phần không nhỏ phụ huynh không biết chữ nên việc dạy rèn
cho các em còn hạn chế.
- Đa số là con em gia đình nghèo nên ý thức việc học của con em
mình chưa cao nhất là phần các em tự học ở nhà.
Người thực hiện :VỤ THỊ THANH HÀ Trang 7
Sáng kiếân kinh nghiệm
CHƯƠNG II
CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Qua trao đổi, dự giờ các bạn đồng nghiệp cùng khối ; thông qua việc
nghiên cứu sách giáo khoa tiếng Việt và kết quả học tập của học sinh ta có
thể nhìn nhận chung tình trạng dạy học chính tả hiện nay hiệu quả đạt
được chưa cao, cụ thể là :
- Qua kết quả học tập của học sinh, học sinh mắc rất nhiều lỗi chính
tả, tình trạng này có cả nguyên nhân ở nội dung và phương pháp dạy học
của phân môn này.
- Từ thực tiễn dự giờ tôi thấy giáo viên chuẩn bò bài giảng rất chu
đáo, tận tâm giảng dạy rất tỉ mỉ cho học sinh cách viết từng chữ, từng câu
nhưng cuối cùng vẫn có không ít học sinh viết sai cả những từ giáo viên
mới vừa phân tích hướng dẫn xong.
- Nguyên nhân dẫn đến cái sai là do cách phát âm không chuẩn. Nói
- đọc như thế nào viết như thế đó, học sinh phân biệt chưa rõ cách đọc nhất
là l và n, tr và ch, s và x ; thường hay lẫn lộn về sai thanh điệu do sự phát
âm không phân biệt giữa thanh hỏi và thanh ngã.
kiểm tra. Qua 2 tiết chỉ có 40 bài là không mắc lỗi nào, tỷ lệ các em viết
đúng là rất thấp.
2.4 Nguyên nhân dẫn đến việc sai lỗi chính tả :
- Do kiến thức, nhận thức của các em về quy tắc chính tả, mẹo chính
tả chưa được nắm chắc nên hay viết sai.
- Do thói quen phát âm không chuẩn nên các em nói đọc thế nào
viết thế đó.
- Do học sinh chưa thấy rõ được tầm quan trọng của việc viết đúng
chính tả.
- Do học sinh phải học nhiều môn nên thời gian dành cho môn chính
tả chưa nhiều.
- Do học sinh mãi chơi, chưa tự giác học.
- Do học sinh chú trọng học các môn khác mà không chú trọng đến
phân môn chính tả.
- Do giáo viên thường chú trọng vào việc nâng cao chất lượng các
môn học khác mà chưa thật sự rèn chữ viết cho học sinh.
- Do việc phát âm của giáo viên từng miền, từng vùng có khác nhau
nên học sinh chưa hiểu rõ dẫn đến việc viết sai chính tả.
Xuất phát từ tình hình thực tế đòa phương, tình trạng học sinh mắc lỗi
chính tả nhiều như hiện nay là hết sức lo ngại ; việc tìm ra các giải pháp
phù hợp là vấn đề hết sức cấp bách đối với những ai làm công tác giáo
dục, nó góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy.
Người thực hiện :VỤ THỊ THANH HÀ Trang 9
Sáng kiếân kinh nghiệm
Qua thực tế giảng dạy lớp mình bằng cách kiểm tra vở viết của học
sinh, kiểm tra bài viết học sinh, phiếu học tập ; qua thao giảng dự giờ các
bạn đồng nghiệp, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến việc viết sai chính tả của
học sinh từ đó đề ra các phương pháp dạy học chủ yếu nhằm khắc phục lỗi
chính tả cho học sinh.
Nghó (nghó ngợi) - Thanh ngã
Ngoài ra ta cho học sinh hiểu nếu tạo ra một từ ngữ có ý nghóa và
nắm được nghóa và hình thức chữ viết của từ.
Người thực hiện :VỤ THỊ THANH HÀ Trang
11
Sáng kiếân kinh nghiệm
Ví dụ : Deo dai, em thử điền dấu hỏi ( û) sẽ thành Dẻo dai. Dẻo dai là
từ có nghóa chỉ sự bền bỉ không giảm của sức lực, vậy ta điền dấu hỏi ( û).
Nếu điền dấu ngã sẽ thành Dẽo dai, dẽo dai không có nghóa vậy không thể
điền dấu ngã.
- Đối với những từ Hán -Việt phát âm không phân biệt dấu hỏi, dấu
ngã. Gặp những từ bắt đầu bằng một trong các phụ âm : m, n, nh, v, l, d, ng
thì đánh dấu ngã.
Ví dụ : Mó mãn, truy nã, nhã nhặn, vũ lực, vãng lai, phụ lão, dã man,
ngôn ngữ, tín ngưỡng Trừ "ngải" trong "ngải cứu", còn những từ bắt đầu
bằng các phụ âm khác, hoặc không có phụ âm đầu thì đánh dấu hỏi.
Ví dụ : Khi dạy bài chính tả so sánh phân biệt : g, gh, ng, ngh. Học
sinh tự tìm ra những từ có âm đầu là : g, gh, ng, ngh.
Qua các ví dụ cụ thể, học sinh so sánh rút ra luật chính tả hình thành
quy tắc phân biệt chính tả.
* Viết phụ âm đầu : g, gh viết trước các ký hiệu ghi nguyên âm (bộ
phận nguyên âm đôi) a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư.
Ví dụ : Nga, ngăn, go, gô, ngơ, gù, ngưng
* Viết phụ âm đầu : gh, ngh viết trước các ký hiệu ghi nguyên âm
(bộ phận nguyên âm đôi) ơ, ê, i.
Ví dụ : nghe, ghế, nghiên
(Tiếng Việt thực hành)
Ví dụ : Khi dạy bài chính tả phân biệt k / q / c. Học sinh tự tìm ra
những từ có âm đầu là k / q/ c, từ các ví dụ cụ thể mà học sinh nắm lại
sinh viết lại cho đúng chính tả.
Ví dụ : Trong bài "Một cuộc thi nhạc". Hàng lăm, giáo sư Vàng Anh
thường tỗ chức một cuộc thi nhạc đễ tuyễn chọn học sinh giõi. Họa mi, vòt,
gà, ve sầu lô lức về dự thi. Đến nượt vòt nên trình diễn, vòt chửng chạc
và nghiêm trang nên bục cúi đầu chào thính giả :
- Tôi xin trình bày bản nhạc "Họ nhà" vòt lói.
Qua bài viết trên giáo viên cho học sinh tự sửa lỗi chính tả, cụ thể là
n viết là l, ngược lại l viết là n. Dấu hỏi viết dấu ngã, dấu ngã viết dấu
hỏi.
Từ những cách trên giúp học sinh dần dần quen với cách phát hiện
ra lỗi và tự sửa lỗi, dần dần học sinh sẽ nhớ cách viết đúng, thấy được các
từ viết sai để tránh.
3.3 Giáo viên cần phải phát âm chuẩn và rèn cho học sinh kỹ năng đọc:
- Ở phân môn chính tả, học sinh tiểu học là lứa tuổi trẻ thơ vì vậy
các em nhất nhất làm theo thầy cô giáo của mình. Thầy cô giáo "chuẩn
Người thực hiện :VỤ THỊ THANH HÀ Trang
13
Sáng kiếân kinh nghiệm
mực" thì học sinh bắt chước làm theo. Ở tỉnh thành tôi còn nhiều người
phát âm không phân biệt phụ âm đầu : l / n (ví dụ : là - nà, nón - lón) -
d / v (ví dụ : dề - về) - gi và d / r (ví dụ : gia - da - ra), không phân biệt
thanh hỏi - thanh ngã (ví dụ : sợ hãi - sợ hải).
- Trong quá trình giảng dạy phân môn chính tả cho học sinh, giáo
viên phải rèn kỹ năng đọc chuẩn cho các em, hình thành cho các em tư duy
cụ thể về nghóa, từ, tiếng ; về cách viết, dạy cho học sinh nghe đúng, nói
đúng, phát âm đúng.
Ví dụ : Khi đọc âm r rèn cho học sinh đọc cong lưỡi lên khác với
đọc âm d. Khi đọc âm gi rèn cho học sinh đọc kéo dài giọng, giọng đọc
nặng hơn.
- Giáo viên cần tổ chức cho học sinh học theo tổ nhóm hoặc phân
thành đôi bạn học tập để các em hướng dẫn lẫn nhau (giáo viên cho các
em, em nào cũng phải có một quyển vỡ rèn chính tả).
Ví dụ : Mỗi tuần ngày thứ ba có tiết chính tả thì ngày thứ năm hoặc
ngày thứ sáu các nhóm học tập hoặc đôi bạn học tập sẽ đọc trước phần
viết đúng rồi đọc toàn bài viết. Qua đó học sinh đọc để hiểu được nội dung
bài và nghóa của từ cần ghi nhớ.
- Học sinh sau khi nắm được nội dung bài và các từ cần ghi nhớ, các
em lấy "Quyển vở rèn chính tả" ra viết vào, tiếp theo là đổi bài kiểm tra
lẫn nhau.
- Vào ngày thứ hai trong lúc truy bài đầu giờ các em sẽ tiến hành
viết và kiểm tra chéo nhau lần nữa, củng cố lại những từ còn viết sai.
Vậy trong một tiết các em đã được mắt nhìn, tay viết các chữ khó rất
nhiều lần, từ đó hạn chế được các lỗi sai ở học sinh.
Người thực hiện :VỤ THỊ THANH HÀ Trang
15
Sáng kiếân kinh nghiệm
CHƯƠNG IV
GIÁO ÁN
PHÂN BIỆT DẤU HỎI ( û) - DẤU NGÃ (~)
Bài viết :
Đối đáp với vua
I. MỤC TIÊU :
- Nghe - viết đúng chính tả, trình bày đúng một đoạn truyện "Đối
đáp với vua".
- Tìm đúng, viết đúng các từ chứa tiếng có thanh hỏi, thanh ngã theo
nghóa đã cho.
II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC :
- Bốn tờ giấy khổ to và bút dạ.
- Giáo viên đọc đoạn văn 1 lần (giọng
đọc rõ ràng, phát âm chuẩn)
GV gọi 1 HS đọc lại.
Giáo viên hỏi : Vì sao vua bắt Cao Bá
Quát đối ?
- Hãy đọc lại câu đối của vua và vế
đối lại của Cao Bá Quát.
b. Hướng dẫn cách trình bày :
Giáo viên hỏi :
- Đoạn văn có mấy câu ?
- Trong đoạn văn những chữ nào phải
viết hoa ? Vì sao ?
- Học sinh theo dõi giáo viên đọc
- 1 học sinh đọc.
- Vì nghe nói cậu là học trò.
- Nước trong leo lẻo cá đớp cá
Trời nắng chang chang người
trói người.
- Đoạn văn có 5 câu
- Những chữ đầu câu : Thấy, nhìn,
nước, chẳng, trời và tên tiêng Cao
Bá Quát.
- Viết cách lề 2 ô.
Người thực hiện :VỤ THỊ THANH HÀ Trang
17
Sáng kiếân kinh nghiệm
- Hai vế đối trong đoạn văn cần viết
như thế nào cho đẹp ?
c. Hướng dẫn viết từ khó :
- Giáo viên xóa từng từ trên bảng và
đọc lại từ đó cho học sinh viết
- Giáo viên chỉnh sửa lỗi chính tả cho
học sinh.
d. Giáo viên đọc cho học sinh viết
(đọc với tốc độ vừa phải)
e. Giáo viên đọc cho học sinh soát
lỗi.
g. Giáo viên thu bài chấm (từ 7 đến
10 bài)
3.3) Hướng dẫn làm bài tập chính tả
- Giáo viên gọi 1 học sinh đọc yêu cầu
bài tập 2b.
- GV cho HS đọc thầm yêu cầu của bài
và làm bài.
- Học sinh nghe giáo viên đọc -
viết
- Học sinh viết bài
- Học sinh dùng bút chì soát lỗi
- 1 HS đọc yêu cầu trong sách
giáo khoa.
- HS đọc thầm rồi làm bài cá
nhau.
Người thực hiện :VỤ THỊ THANH HÀ Trang
18
Sáng kiếân kinh nghiệm
- GV mời 4 em lên bảng thi viết nhanh
lời giải.
- Cả lớp và giáo viên nhận xét. GV
I. MỤC TIÊU :
- Nghe - viết chính xác đoạn tóm tắt truyện "Cuộc chạy đua trong
rừng".
- Làm đúng các bài tập chính tả phân biệt l - n hoặc dấu hỏi - dấu
ngã.
II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC :
- Bảng phụ viết sẵn bài tập 2a.
Người thực hiện :VỤ THỊ THANH HÀ Trang
19
Sáng kiếân kinh nghiệm
III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ YẾU :
HOẠT ĐỘNG DẠY HOẠT ĐỘNG HỌC
1. Ổn đònh :
- Giáo viên cho học sinh cả lớp hát.
2. Kiểm tra bài cũ :
- Giáo viên gọi 2 học sinh lên bảng viết,
học sinh dưới lớp viết vào nháp.
- Giáo viên đọc cho học sinh viết
+ Quả dâu, rễ cây, giày dép.
+ Bến bờ, rên rỉ, mệnh lệnh.
- Giáo viên gọi học sinh dưới lớp nhận xét.
- Giáo viên nhận xét, cho điểm học sinh
3. Dạy học bài mới :
1) Giới thiệu bài :
Giờ chính tả hôm nay các em sẽ nghe -
viết đoạn văn tóm tắt truyện "Cuộc chạy
đua trong rừng" và làm bài tập chính tả
phân biệt l - n .
- Học sinh cả lớp hát.
Sáng kiếân kinh nghiệm
câu trong đoạn tìm những từ có âm
đầu là l / n.
- Giáo viên cho học sinh đọc lại từng
câu trong đoạn tìm ra từ khó.
+ Câu 1 học sinh nêu, giáo viên ghi
bảng
+ Câu 2 và câu 3 giáo viên cũng ghi
bảng sau khi học sinh nêu từ khó.
- Giáo viên phân tích âm, vần từng từ
khó cho học sinh rõ.
- Giáo viên cho học sinh viết bảng con
- Giáo viên gọi 1 học sinh lên viết
bảng lớp, các em dưới lớp viết bảng
con.
- Giáo viên xóa từng từ trên bảng và
đọc lại từ đó cho học sinh viết.
- Giáo viên chỉnh sửa lỗi chính tả cho
học sinh.
d. Giáo viên đọc cho học sinh viết
(đọc với tốc độ vừa phải)
e. Giáo viên đọc cho học sinh soát
lỗi.
g. Giáo viên thu bài chấm (từ 7 đến
10 bài)
- Học sinh đọc câu 2 có từ : nên,
lời, lại.
- Học sinh đọc nêu ra từng từ khó
trong các câu.
+ Câu 1 : Chuẩn, tham gia
cho bắt đầu.
Người thực hiện :VỤ THỊ THANH HÀ Trang
21
Sáng kiếân kinh nghiệm
viết (trong vòng 1 phút).
- Giáo viên cho đại diện nhóm 1 em
đọc lại bài tập.
- Giáo viên nhận xét về chính tả, tốc
độ làm bài - Kết luận nhóm thắng
cuộc.
4) Củng cố - dặn dò :
- Giáo viên nhận xét tiết học.
- Dặn dò học sinh chuẩn bò tiết sau.
- Đại diện 2 em trong 2 nhóm
đọc. Học sinh dưới lớp nhận xét.
- Nghe GV nhận xét, dặn dò.
CHƯƠNG V
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯC
Qua một học kỳ tôi đã áp dụng những biện pháp trên vào việc dạy
lớp. Tôi nhận thấy phân môn chính tả của lớp tôi phụ trách có nhiều tiến
bộ rõ rệt, đặc biệt là các tiếng có phụ âm đầu l / n, tr / ch, s / x, r / gi /d,
dấu thanh hỏi và dấu thanh ngã so với đầu năm 68,5% học sinh dưới trung
bình môn chính tả.
Người thực hiện :VỤ THỊ THANH HÀ Trang
22
Sáng kiếân kinh nghiệm
Sau khi thi học kỳ I xong, kết quả trong kiểm tra đònh kỳ môn chính
tả như sau :
viết đúng chính tả trong giao tiếp cũng như trong giảng dạy. Giáo viên
phải là người có lòng tâm huyết với nghề nghiệp, tận tụy với học sinh.
Giáo viên cần phải đầu tư thời gian, có kế hoạch hướng dẫn rèn chữ
cho học sinh, thường xuyên theo dõi và phát hiện kòp thời các hiện tượng
mắc lỗi chính tả ở học sinh để đưa ra biện pháp sửa chữa đúng lúc. Giáo
viên cần lập cho học sinh mỗi em một quyển vở rèn chính tả kiểm tra
thường xuyên, đánh giá học sinh qua từng thời gian cụ thể, động viên các
em học sinh có tiến bộ trong quá trình học tập.
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần cung cấp cho học sinh các
quy tắc chính tả, đưa ra một số phụ âm đầu và dấu thanh mà học sinh dễ
lẫn lộn trong khi viết để học sinh so sánh phân biệt và qua đó các em nắm
vững nghóa của từ ở mặt chữ viết. Trong quá trình giảng dạy chính tả, giáo
viên luôn chú ý đến các nguyên tắc chính tả, tra cứu tự điển. Dạy chính tả
phải dựa trên quy tắc chính tả, chú ý sửa các lỗi mà học sinh mắc nhiều
chứ không chữa chung chung ; lỗi chính tả nào mà học sinh mắc nhiều thì
phải đầu tư nhiều thời gian, công sức để luyện tập nhiều.
Ngoài ra giáo viên phải luôn học hỏi kinh nghiệm các bạn đồng
nghiệp, bồi dưỡng chuyên môn để bổ sung cho vốn kinh nghiệm của bản
thân.
Qua thời gian nghiên cứu áp dụng các biện pháp đó vào quá trình
giảng dạy của mình, tôi nhận thấy bước đầu đạt được kết quả khả quan.
Học sinh viết đúng và viết đẹp, hiểu được nội dung bài ; qua đó hình thành
ở học sinh những phẩm chất đạo đức, tính cẩn thận kiên trì và tạo cho học
sinh niềm vui hứng thú trong học tập, chăm chỉ viết bài. Qua đó tôi nhận
thấy rằng việc sửa lỗi chính tả cho học sinh không phải là khó, chỉ cần
chúng ta yêu nghề mến trẻ, tận tâm trong giảng dạy luôn khắc phục khó
khăn tìm hiểu nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm thì trong giảng dạy chắc
chắn học sinh sẽ tiến bộ tốt. Bên cạnh đó giáo viên phải phát huy tính chủ
động sáng tạo, tính tích cực ở học sinh ; cần động viên khen ngợi kòp thời,
tạo không khí giờ học thoải mái, gây hứng thú học tập.