Một số biện pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh lớp 4 - Pdf 44

I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ở Tiểu học, môn Tiếng Việt là nền tảng, cơ sở giúp học sinh học tập tất
cả các môn học khác. Mục tiêu của môn Tiếng Việt trong chương trình tiểu học
mới là giúp các em phát triển đầy đủ, toàn diện về mọi mặt: đức, trí, thể, mĩ.
Mục tiêu đó đặt ra cho những người thầy, người cô phải luôn suy nghĩ, tìm tòi
để có phương pháp dạy học môn Tiếng Việt sao cho đạt hiệu quả cao nhất.
Trong quá trình dạy môn Tiếng Việt, nhiệm vụ của giáo viên Tiểu học là
hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Một trong
những phân môn góp phần rèn luyện các kĩ năng trên đó là phân môn Chính tả.
Thông qua chữ viết đúng, đẹp, giáo viên còn bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt,
hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt cho các em.
Phân môn Chính tả trong nhà trường có nhiệm vụ giúp học sinh nắm
vững các quy tắc chính tả và hình thành kĩ năng chính tả. Ngoài ra, nó còn rèn
cho học sinh một số phẩm chất như tính cẩn thận, óc thẩm mĩ…
Ngoài việc nắm vững vị trí, nhiệm vụ, tính chất, nội dung, chương trình,
phương pháp giảng dạy phù hợp, giáo viên còn phải nắm vững các nguyên tắc
dạy chính tả Tiếng Việt.
Dạy chính tả theo khu vực phải xuất phát từ tình hình thực tế mắc lỗi
chính tả của học sinh ở từng khu vực, từng vùng miền để hình thành nội dung
giảng dạy, khi xác định được trọng điểm chính tả cần dạy cho học sinh ở từng
khu vực, từng địa phương. Như vậy, trước khi dạy, giáo viên cần tiến hành điều
tra cơ bản để nắm lỗi chính tả phổ biến của học sinh từ đó lựa chọn nội dung
giảng dạy thích hợp với đối tượng học sinh lớp mình dạy.
Chính tả là một trong những phân môn Tiếng Việt ở Tiểu học. Theo định
nghĩa trong một số từ điển, chính tả là viết đúng, hợp với chuẩn và những quy
tắc về cách viết chuyển lời nói sang dạng viết và hoạt động giao tiếp. Nếu tập
viết dạy học sinh biết viết, tức là hoạt động tạo ra chữ, thì chính tả dạy cách tổ
chức, kết hợp các chữ đúng quy ước của xã hội để làm thành hiện thực hoá
ngôn ngữ.
Trẻ em đến tuổi học, thường bắt đầu bằng quá trình học tập bằng chữ viết,

chính tả tại trường. Có kế hoạch, biện pháp rèn kĩ năng viết đúng, viết đẹp cho
học sinh nhằm trang bị cho học sinh kĩ năng viết chữ để học tập và giao tiếp,
tạo điều kiện thuận lợi cho các em học tốt các môn học khác. Góp phần vào
việc nâng cao thành tích học tập cho học.
3. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tài liệu, tìm hiểu thực tế trong công tác giảng dạy, thực hiện
trong các giờ Chính tả học sinh ở lớp 4A, trường Tiểu học Hải Lộc - Hậu Lộc Thanh Hóa năm học 2015 - 2016.
Đề tài có thể áp dụng cho tất cả các lớp của khối 4.

2


4. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận của ngôn ngữ, tầm quan trọng của chữ viết, thực trạng
viết chữ chưa đẹp của học sinh, nguyên nhân của trạng đó.
- Điều tra trực tiếp với học sinh trao đổi với phụ huynh để hiểu rõ mức độ sử
dụng ngôn ngữ của họ.
- Điều tra bài viết của học sinh để thống kê các lỗi sai và tỉ lệ viết chữ chưa
đẹp.
- Quan sát đối tượng để thu thập thông tin về đối tượng qua nhìn nhận đánh
giá một cách khách quan được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu qua
từng giai đoạn viết của học sinh.
- Chấm bài viết của học sinh. Phân đối tượng thành các nhóm bài viết đạt ở
mức độ nào để có biện pháp rèn luyện và động viên kịp thời
- Động viên khuyến khích kịp thời giúp học sinh thêm tự tin yêu thích môn
học có ý thức luyện viết. Nêu gương điển hình để học sinh noi theo.
- Áp dụng linh hoạt một số biện pháp thực nghiệm để vận dụng vào trong
các giờ dạy. Ưu tiên là giờ dạy Chính tả, Tập làm văn.
II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN

chính tả ở đơn vị từ).
Qua học chính tả các em nắm bắt được quy tắc chính tả và hình thành kĩ
năng, kĩ xảo chính tả, từ đó có năng lực và có thói quen viết đúng chính tả
Tiếng Việt. Kĩ năng viết đúng chính tả sẽ tạo điều kiện hình thành nhân cách
cho học sinh.
Như chúng ta đã biết, muốn để cho một ngôn ngữ nào đó hoạt động có
hiệu quả thì người dạy, người học phải làm tốt công tác chính âm, chính tả.
Việc nói, viết đúng chuẩn mực còn là cơ sở để ta đánh giá trình độ văn hoá
về mặt ngôn ngữ của một con người. Làm thế nào để chúng ta giáo dục và rèn
luyện các em để dần có được kỹ năng viết thông, viết đúng theo yêu cầu. Đó là
điều đáng quan tâm. Mặt khác, Hải Lộc là một xã bãi ngang ven biển, dân cư
sống chủ yếu bằng nghề đánh cá, quen với cách sống tự do, ăn sóng nói gió nên
học sinh cũng chịu ảnh hưởng của phương ngữ địa phương rất lớn, đó là các lỗi
như: sai do cẩu thả hoặc chưa nắm vững cấu tạo chữ viết tiếng Việt, chẳng hạn:
“ băn khoăn” viết thành “ băng khoăng”; “ lo lắng” viết thành “ lo nắng ”, “con
trâu” viết thành “con tâu ”…
Với những cơ sở trên, là một giáo viên tôi thấy rõ nhiệm vụ chính, nhiệm
vụ trọng tâm của mình là làm thế nào để học sinh có được kỹ năng viết thông,
viết đúng theo yêu cầu. Đây là điều tôi luôn trăn trở trong suốt thời gian qua.

4


2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Thực trạng
Qua việc giảng dạy thực tế của bản thân, qua việc dự giờ thăm lớp đồng
nghiệp, giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày, tôi thấy có một số thực trang như
sau:
2.1.1: Về phía học sinh: Qua quá trình giảng dạy nhiều nam ở trường Tiểu
học Hải Lộc, tôi nhận thấy học sinh thường mắc các lỗi chính tả sau:

cao hiu qu gi dy chớnh t lp 4 trong vic sa li chớnh t cho hc sinh.
Mong mun cựng bn bố ng nghip gúp ý xõy dng hon thin cựng thc
hin hiu qu trong dy hc Chớnh t cho hc sinh lp 4
b. Kt qu thc trng trờn:
Sau khi nhận lớp và dạy học đợc hai tuần đầu, tôi đã
tiến hành khảo sát chất lợng chữ viết chính tả, kt qu c th
nh sau:
Lp
4A

Tng s Hc sinh
hc sinh vit ỳng
30

5

Sai li
Sai li
ph
vn
õm
12
5

Sai
du

Vit
hoa



- Thống kê trên vở chính tả: vì đây chính là bài tập kiểm tra kết quả viết
đúng của các em qua phần lý thuyết những quy tắc về chính tả mà các em được
tiếp thu.
- Thống kê vở chính tả và ở vở “ tập làm văn” và các văn bản khác như
“giấy xin phép”: vì đây là nơi để các em áp dụng quy tắc hiểu biết về chính tả
vào thực tế.
* Kết quả thống kê: Tổng số học sinh được khảo sát là 14 em (cả nam và
nữ ở 7 bàn ngẫu nhiên)
Học sinh loại A về vở sạch chữ đẹp: 3 em.
Học sinh loại B về vở sạch chữ đẹp: 6 em.
Học sinh loại C về vở sạch chữ đẹp: 5 em.
Khảo sát ở 2 bài:
- Chính tả: “ Mười năm cõng bạn đi học ”
- Tập làm văn: Em hãy kể lại câu chuyện ‘ Sự tích Hồ Ba Bể ” mà em đã
học ở bài Tập đọc tuần 1.
b. Phân loại lỗi:
Việc phân loại lỗi chính tả hết sức cần thiết đối với các giáo viên trực tiếp
giảng dạy, bởi vì giáo viên có nắm được các lỗi học sinh hay mắc phải thì mới
có giải pháp khắc phục lỗi cho học sinh sát đúng. Mặt khác, giáo viên căn cứ
vào đó để phân loại đối tượng để có biện pháp phù hợp theo đối tượng, giúp
các em khắc phục lỗi chính tả một cách tốt nhất.
* Lỗi ở bài chính tả:
Lỗi HS
Số lỗi của HS
Loại A
Lọai B
Loại C

Thiếu


1

2

0

0

0

2

5

7

7

2

1

3

6

10

5

Viết sai
Chiên Hoá
năn
tuyên
sinh
gềnh
niệt
quan

Viết chuẩn
sinh
cõng
Hạnh
Nhờ
suối
dài
hành

Viết sai
sin
cong
hạnh
nhờ
xuối
rài
hàn

khuỷu

khuỷ


Viết hoa
11
Viết hoa
2
9
9

Phụ âm
đầu
9
Phụ âm
đầu
2
8
9

Nguyên
âm
5
Nguyên
âm
0
5
6

Phụ âm Thanh
cuối
điệu
3

hồ
suất
ngài
lệ

Viết chuẩn
Ba
Ba Bể
xảy
điều
nhỏ

Viết sai
3
Ba bể
sảy
đều
nhõ

Từ việc thống kê, phân loại được lỗi chính tả học sinh mắc phải, đặc biệt là
các lỗi phổ biến như sai phụ âm đầu (l,n, ch,tr,s,x,g,gh,d,r,gi); Lỗi cá biệt là
thiếu nét và phụ âm cuối (m,uyu.) do học sinh tuỳ tiện, cẩu thả ; Lỗi phụ âm

8


đầu chủ yếu là do phát âm chưa chuẩn...tôi căn cứ vào đó để chuẩn bị bài dạy
trước khi lên lớp.
3.2. Chuẩn bị bài trước khi lên lớp:
Chuản bị bài chu đáo là việc làm tối ưu của mỗi giáo viên trước khi lên

9


việc khảo sát, nắm bắt thông qua dạy học cũng như đặc điểm vùng miền sát với
học sinh, giúp các em có kết quả học tốt.
3. 3: Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học
3.3.1: Sử dụng phương pháp trực quan:
Việc sử dụng đồ dùng dạy học nhằm mục đích giúp học sinh khắc sâu
những biểu tượng về chữ, có ý thức viết đúng chữ và tạo không khí sôi nổi,
phấn chấn trong quá trình dạy chữ viết theo hướng “đổi mới phương pháp dạy
học .“ Đồ dùng trực quan có thể sử dụng dạy bài mới, luyện tập hoặc củng cố
bài học.
Khi sử dụng phương pháp này, GV có thể thực hiện theo các bước sau:
- GV phát âm mẫu, viết mẫu
- GV hướng dẫn HS tỉ mỉ từng thao tác cụ thể như: cách lấy hơi, điểm đặt
lưỡi, cách bật hơi, độ mở của miệng… Hướng dẫn phân tích cấu tạo tiếng.
Ví dụ: Khi dạy âm R giáo viên mô tả như sau: uốn đầu lưỡi về phía vòm,
hơi thoát ra xát, có tiếng thanh.
- Học sinh quan sát sau đó thực hành phát âm; viết theo sự hướng dẫn của
giáo viên.
Ví dụ: Khi dạy bài Chính tả tuần 4 Tiếng việt 4 tập 1 trong phần ghi nhớ
tiếng từ khó viết.
* Để học sinh biết phân biệt khi nào viết “truyện/chuyện” giáo viên chuẩn bị
một quyển truyện để học sinh quan sát và hướng dẫn học sinh như sau:
+ Viết “truyện” trong trường hợp có nghĩa là một tác phầm văn học do các nhà
văn sáng tác: quyển truyện, đọc truyện, truyện tranh, phim truyện...
+ Viết là “chuyện” trong nghĩa dùng lời nói để thể hiện: nói chuyện, kể chuyện,
hỏi chuyện, chuyện trò,...
* Đối với các bài tập chính tả tôi chuẩn bị các phiếu bài tập và bảng phụ để
học sinh được thực hành nhiều hơn, ghi nhớ tốt hơn.

hai vòng thi đội nào tìm được hàng dọc, đọc đúng từ và dấu được 10 bông hoa
màu xanh và cả lớp tăng những lời nhận xét và một tràng pháo tay khen ngợi.
3. 3.3: Sử dụng phương pháp thực hành luyện tập:
Tôi chuẩn bị các dạng bài tập khác nhau để hướng dẫn học sinh làm. Được
làm nhiều học sinh sẽ ghi nhớ chữ và viết đúng. Để làm đúng các dạng bài tập
này, GV cần phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu yêu cầu, tổ chức ch học sinh làm
bài, có thể giải nghĩa từ để điền cho đúng.
* Ví dụ về các dạng bài tập:
- Điền vào chỗ trống l/n
Lung… inh ;
…ằng nhằng
cấy …úa ;
nỉ …on
- Điền vào chỗ trống s / x.
….anh ….anh bãi mía bờ dâu

11


Ngô khoai biêng biếc bên bờ ….ông
Đứng bên này ….ông ….ao nhớ tiếc
….ao ….ót ….a như rụng bàn tay
- Tìm tiếng có vần iên / uyên thích hợp với mỗi chỗ trống dưới đây.
Chỉ có …………..mới hiểu
………… mênh mông nhường nào
Chỉ có ………… mới biết
………….. đi đâu về đâu.
- Điền vào chỗ trống r , d hay gi.
…..ây mơ ….ễ má
…..ấy trắng mực đen

3 nguyên âm đôi:- iê, yê, ia, ya; uô, uâ; uơ, ưa
17 phụ âm: b, c, g, h, l, m, n, p, q, r, s, t, v, x, y
Viết đúng các phụ âm kép: ch; tr; th; qu; nh; ngh; kh; gh; ngh; gi.
4.1. Quy luật xuất hiện của một số phụ âm đầu:
-Âm p: khi phát âm dễ biến thành “b”. ví du: patê -> batê, đèn pin -> đèn
bin
Giáo viên hướng dẫn học sinh khi phát âm cần mím môi chặt hơn.
-Trường hợp một âm nhiều chữ viết thì các con chữ đó đều có quy luật
xuất hiện của nó và ít gây ra sự nhầm lẫn.
Ví dụ:
+ Viết là: “gh” “ngh” khi tiếp sau nó là các nguyên âm: i,e, ê, iê. Viết là “g”
“ng” trong các trường hợp còn lại.
+ Về trường hợp âm “cờ” sẽ viết là “k” khi đứng trước i, e, ê, iê như kia,
kem, kiến. Viết là “q” khi đứng trước bán âm “u” như: quần, quân. Viết là chữ
“c” khi đứng trước các ngưyên âm còn lại như: can, cưng…
+ Trường hợp con chữ “gi” xuất hiện ở các chữ như:
“gì” lẽ ra phải đọc là “gờ -i”
“giễu” lẽ ra phải đọc là “gỡ-iêu”
“giếng” lẽ ra phải đọc là “gờ- iêng”
Giáo viên cần lý giải cho học sinh hiểu là người ta đã thể hiện được sự tinh
lược, bỏ bớt con chữ ( i )
- Các trường hợp học sinh nhầm lẫn giữa các phụ âm đầu như; l/n; ch/tr;
s/x; r/d/gi. Giáo viên cần ra bài tập cho học sinh làm. Rút ra một số tiếng có
phụ âm đầu đó rồi tiến hành so sánh, việc làm này sẽ giúp học sinh ghi nhớ mặt
chữ để không viết sai để tránh nhầm lẫn sau. Chẳng hạn
Tre: cây tre, tre luồng,…
Che: che chở, che phủ,..
Lo: lo toan, lo lắng,lo nghi…
No: no đói, no tròn, ăn no,……..
Sông: Sông Hồng, sông sâu…

- Trong quan hệ với âm cuối, 14 nguyên âm nếu có trường độ bình
thường, thì đều có thể xuất hiện để tạo thành âm tiết cho dù sau nó có hay
không có âm cuối. Tuy nhiên hai trường hợp âm “ă” và âm “â” chúng bắt buộc
phải xuất hiện cùng âm cuối.
Ví dụ: Tiếng Việt có các mô hình như: hạ, hè,…mà không thể có: hắ, hấ…
Ngoài các lỗi phổ biến cần khắc phục như trên, ở từng địa phương còn có
những biến thể khác khi phát âm.
Chính vì vậy mà lỗi là một trong những vấn đề nan giải của chính tả Tiếng
Việt.
4.3. Quy tắc kết hợp giữa các âm cuối:
Tiếng việt có các âm vị cuối sau: m, n, nh, ch, p, t, c, u (gồm u và o),i (gồm
i và y) (u và i là hai bán nguyên âm).

14


Các phụ âm cuối đều có thể đứng sau bất kì nguyên âm chính nào ngoại trừ
một số trường hợp:
- Âm m và p không xuất hiện sau âm “ư”. tức là không có hai vần: ưm, ứp
- Âm c và ng không xuất hiện sau âm chính “ơ” tức là không có hai vần:
ơng và ơc.
- Bán nguyên âm “i” chỉ xuất hiện sau các nguyên âm chính là : ư, ơ, u, ô,
chứ không xuất hiện ở các nguyên âm còn lại
Ví dụ: lâu, reo, béo, rao
- Các âm cuối: m, u, i khi đứng sau các nguyên âm đôi: yê, ươ thì sẽ làm
học sinh biến đổi các nguyên âm đôi này thành i, ư
Ví dụ: tươi; gươm -> gưm; yêu -> iu
- Các âm cuối: p khi đứng sau các nguyên âm đôi: iê; ươ thì sẽ làm học
sinh làm biến đổi các nguyên âm đôi này thành i, ư
Ví dụ: cướp -> cứp, tiếp -> típ

khắc phục như sau:
- Đối với giáo viên:
+ Khi dạy chính tả tôi đã cung cấp các quy tắc chính tả cho học sinh. Có
thể lồng ghép vào các môn học khác.
+ Khi dạy cụ thể từng bài, tôi nghiên cứu kĩ nội dung bài, dự kiến những
tíếng khó trong bài cần giảng, đi xuống tận từng em để theo dõi giúp đỡ thêm,
nhất là những em thường mắc lỗi.
+ Đối với những tiếng, từ học sinh viết sai, tôi cho học sinh phân tích cụ
thể cấu tạo tiếng, từ đó.
+ Cho học sinh tìm thêm ví du minh họa.
+ Khi chấm bài, giáo viên chữa sai bằng mực đỏ ( có gạch chân cụ thể
tiếng hoặc từ sai) và chữa đúng ở dưới hoặc ngoài lề vở.
Tôi đã thực hiện biện pháp này ngay từ đầu năm học để tập cho học sinh
có một thói quen tốt trong giờ chính tả, giáo viên không phải nhắc nhở nhiều.
- Đối với học sinh
+ Chép trước bài chính tả vào vở luyện viết và tập đọc nhiều lần ở nhà
nhằm phát âm đúng, hạn chế lỗi chính tả sau viết, đồng thời còn rèn luyện chữ
viết (có sự kiểm tra chặt chẽ của giáo viên)
+ Tự tìm và gạch chân tiếng , từ khó trong bài chính tả để nhớ kĩ hơn.
* Điều quan trọng nhất khi dạy chính tả hoặc bất kì phân môn nào, giáo
viên phải đọc rõ ràng, phát âm chuẩn, chính xác, giọng đọc của giáo viên có vai
trò rất quan trọng trong việc định hướng chữ viết cho học sinh. Mặt khác, tôi
hướng dẫn cho các em cách trình bày chính tả cụ thể đối với từng dạng bài cụ
thể, chẳng hạn như

16


+ Đối với bài thơ
* Ở thể thơ lục bát các em cần chú ý cách trình bày dòng thơ trên 6 dưới 8,

nét khuyết cho đẹp hơn.

17


+ Hỏa Phương Uyên : Bài viết đúng chính tả, trình bày đúng thể loại bài văn,
trình bày bài viết rõ ràng, tuy nhiên nét chữ chưa ổn định, cần luyện các chữ
viết hoa nhiều hơn………..
Thường xuyên kiểm tra, đánh giá xếp loại cho học sinh có tác dụng kịp
thời trong việc uốn nắn, động viên khích lệ học sinh tiến bộ. Việc kiểm tra, xếp
loại, đánh giá học sinh lớp tôi được tiến hành hàng ngày, hàng tuần, hàng
tháng, hàng kỳ. Tôi thường có lời nhận xét cụ thể rõ ràng để giúp các em tiến
bộ. Đặc biệt tôi ghi nhận lời nhận xét khuyến khích các em có chiều hướng tiến
bộ để tạo tâm lí thoải mái, niềm tin và kích thích sự hăng hái, sự tiến bộ vươn
lên trong các em. Chính vì vậy, các em trong lớp rất phấn chấn khi được tôi
chấm chữa bài, chất lượng học tập của các em càng được khăng định trong các
tiết hoc, trong các bài làm của các em. Cụ thể như :
+ Bài viết của em viết đúng chính tả, đúng kích cỡ chữ, các nét chữ ổn
định……
+ Hôm nay em trình bày bài viết rất đẹp, chữ viết rõ ràng, có nhiều tiến bộ,
cô khen ngợi em….

4. Hiệu quả của sáng kiến:
Sau khi vận dụng những giải pháp trên vào giảng dạy ở lớp 4A, tôi đã
khảo sát lại lớp qua 2 bài chính tả và tập làm văn.
Chính tả (nghe - viết): bài “ Nghe lời chim nói. ”
Tập làm văn: Hãy tả một cây đào vào mùa xuân.
Kết quả của học sinh qua 2 môn như sau:
Lớp


đúng khoảng
cách kích cỡ

0

Qua thời gian giảng dạy tôi thực hiện các giải pháp trên, tôi nhận thấy
các em viết chính tả có tiến bộ hẳn. Chữ viết của nhiều em viết đúng và đẹp, rõ
ràng, trình bày sạch sẽ, ít sai lỗi. Các em có ý thức trau dồi chữ viết, trong lớp
đã dấy lên phong trào thi đua viết đúng chính tả và giữ gìn sách vở. Trường
hợp còn lại có nhiều em chậm tiến, học trước quên sau như phụ huynh các em
vẫn phàn nàn. Tôi vẫn tiếp tục tìm tòi, học hỏi, tìm hiểu thêm ở sách báo, bạn
bè, đồng nghiệp để tìm ra biện pháp khắc phục, vì học tập là nhiệm vụ hàng
18


đầu của học sinh trong trường, cũng là nhiệm vụ trọng tâm của mỗi giáo viên
giảng dạy trong trường Tiểu học.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

1.Kết luận :
Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng góp phần giúp cho
học sinh đọc thông viết thạo, sử dụng ngôn ngữ nói, viết trong học tập và giao
tiếp, tạo cơ sở cho các em học tiếp ở các lớp trên . Trong đó phân môn chính tả
ngoài việc giúp học sinh rèn các kĩ năng viết, nghe, đọc còn cung cấp cho các
em vốn từ, vốn hiểu biết về các mảng khác nhau của đời sống .
Như vậy, phân môn chính tả là một trong những phân môn có vai trò rất
quan trọng ở bậc tiểu học. Phân môn này góp phần dạy cho học sinh viết đúng
kích cỡ, cự ly, đúng ý nghĩa mình muốn diễn đạt, tức là hình thành cho các em
một trong 4 kỹ năng cơ bản của môn Tiếng việt: "Nghe, nói, đọc, viết". Có viết
đúng chính tả học sinh mới có điều kiện để học tốt các môn học khác.

rèn chữ khi ở nhà cho học sinh để chúng tôi nghiên cứu, áp dụng sáng kiến vào
giảng dạy đạt hiệu quả..
* Đối với bản thân giáo viên: Không ngừng học tập, nghiên cứu rèn chữ
viết, luyện phát âm chuẩn, tận tâm, tận lực, kiên trì, tỉ mỉ trong quá trình truyền
thụ tri thức và rèn chữ viết cho học sinh.
Trên đây là những vấn đề tôi đã nghiên cứu và thực hiện trong quá trình
giảng dạy ở lớp 4. Tôi rất mong nhận được sự góp ý bổ sung để kinh nghiệm
giảng dạy của tôi được hoàn thiện hơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Nguyễn Văn Sỹ

Hậu Lộc, ngày 10 tháng 5 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là KSKN
của mình viết, không sao chép của
người khác

Lê Thị Hương

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Tiếng Việt 4- tập 1, tập 2- NXB Giáo dục.
2. Sách giáo viên Tiếng Việt 4- tập 1, tập 2 - NXB Giáo dục.
20


3.Chữa lỗi Chính tả cho học sinh – Phan Ngọc -NXB Giáo dục 1982
4. Từ điển giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học- NXB Giáo dục 1992.
5. Dạy học Chính tả ở Tiểu học theo đặc điểm phương ngữ - Trương Thị Thu
Vân - NXB Giáo dục 2010.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status