KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC BIỆN PHÁP SỬA LỖI CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC CHIỀNG PẤC THUẬN CHÂU SƠN LA - Pdf 22


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LÒ THỊ DOAN

BIỆN PHÁP SỬA LỖI CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 2
TRƯỜNG TIỂU HỌC CHIỀNG PẤC -
THUẬN CHÂU - SƠN LA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LÒ THỊ DOAN



Ngƣời thực hiện

LÒ THỊ DOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GV: giáo viên
HS: học sinh
NXB: nhà xuất bản
PPDH: phƣơng pháp dạy học
PP: phƣơng pháp


MỤC LỤC

PHẤN MỞ ĐẦU 1
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3
4. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 3
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
6. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 3
7. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
8. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 4
9. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI 4
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 5
1.1. KHÁI NIỆM CHÍNH TẢ 5
1.2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY HỌC CHÍNH TẢ 5
1.2.1. Cơ sở tâm lí học 5
1.2.2. Cơ sở ngôn ngữ học 6
1.2.2.1. Đặc điểm ngữ âm tiếng Việt 6
1.2.2.2. Đặc điểm chữ viết tiếng Việt 7
1.2.2.3. Đặc điểm ngữ nghĩa tiếng Việt 8
1.2.3. Cơ sở giáo dục 8
1.3. ĐỊNH HƢỚNG ĐỔI MỚI PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC 9
1.4. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CÁCH VIẾT CHỮ VÀ KĨ THUẬT
VIẾT CHỮ 11
TIỂU KẾT 13
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 14
2.1. CHƢƠNG TRÌNH CHÍNH TẢ LỚP 2 14
2.1.1. Nội dung 14
2.1.2. Định hƣớng dạy học bài chính tả lớp 2 16


1
PHẤN MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Những thay đổi quan trọng trong kinh tế, xã hội, giáo dục đã dẫn tới
những yêu cầu mới trong dạy học tiếng Việt nói chung. Để tiếng Việt trở thành
công cụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển giáo dục, việc
dạy tiếng Việt phải nhằm vào cả hai chức năng của ngôn ngữ (nghe, nói, đọc,
viết) phải hƣớng vào sự giao tiếp và phƣơng pháp giao tiếp.
Ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài ngƣời (Lê -
nin). Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ đƣợc thực hiện giữa hai hình thức: giao
tiếp bằng lời nói, giao tiếp bằng chữ viết. Sản phẩm hoạt động giao tiếp của
ngôn ngữ là những lời đƣợc viết ra hoặc nói ra khi chúng ta giao tiếp với nhau.
Dù là ngôn ngữ nói hay viết thì chính tả là yếu tố quan trọng.
1.2. Trong thực tế, chính tả có vai trò quan trọng không chỉ đối với mỗi cá
nhân mà còn đối với cộng đồng xã hội. Việc viết đúng chính tả và thực hiện tốt
kĩ năng viết chữ không chỉ có ý nghĩa trong giao tiếp mà còn thể hiện năng lực
tƣ duy và trình độ văn hóa của mỗi ngƣời. Việc dạy học chính tả không chỉ liên
quan đến kĩ năng giao tiếp mà ở một khía cạnh nào đó còn là vấn đề văn hóa:
"luyện nét chữ - rèn nét ngƣời". Vì vậy, phân môn Chính tả dạy cho học sinh tri
thức và kĩ năng chính tả, phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ ở dạng viết trong
hoạt động giao tiếp.
Không biết chữ hoặc không viết đúng chuẩn, con ngƣời tự hạn chế hoạt
động giao tiếp, làm ảnh hƣởng đến năng lực tƣ duy. Vì thế, dạy chính tả cho học
sinh tiểu học còn giúp cho việc hình thành năng lực tƣ duy, trẻ em đến tuổi học
thƣờng bắt đầu quá trình học tập bằng việc học chữ. Nhờ biết chữ, học sinh mới
có thể tiếp thu các kiến thức khoa học tự nhiên và khoa học xã hội khác. Biết chữ
đƣợc biểu hiện ở góc độ đọc thông viết thạo một ngôn ngữ hay nói cách khác để

nhau trong hai chƣơng giản yếu về lí thuyết tiếng Việt, mục tiêu, nhiệm vụ của
tiếng Việt thực hành, xác định ngôn ngữ, nội dung cần diễn đạt trong mỗi loại văn
bản khác nhau. Hệ thống bài tập thực hành, để củng cố, phát triển thêm khả năng
học tập tiếng Việt, sử dụng chính tả trong cách hành văn.
Công trình "Vui học Tiếng Việt" Trần Mạnh Hƣởng, tập 1, NXB giáo dục,
2002. Tài liệu này đề cập đến những kiến thức tiếng Việt cơ bản giúp học sinh
luyện tập thành thạo các kĩ năng "nghe, nói, đọc, viết", các em sẽ suy nghĩ mạch lạc
diễn đạt trong sáng, có khả năng làm chủ đƣợc tiếng nói và chữ viết của dân tộc.
Chuyên luận "Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học" Bộ Giáo dục và
Đào tạo (Dự án phát triển giáo viên tiểu học), NXB Hà Nội, năm 2002, tập trung
nghiên cứu những đổi mới trong nội dung và phƣơng pháp dạy phân môn Chính
tả theo chƣơng trình và sách giáo khoa mới. Nắm đƣợc bản chất mà phƣơng
pháp chính tả theo hƣớng tích cực hóa hoạt động của học sinh, vận dụng sáng
tạo, linh hoạt những hiểu biết đã có vào thiết kế kế hoạch bài học để dạy chính tả
theo hƣớng phát huy tính tích cực của từng học sinh.

3
Chuyên luận "Dạy chính tả ở tiểu học" (NXB Giáo dục - 2002) đã cung
cấp những thông tin cụ thể chi tiết về ngữ âm và chữ viết tiếng Việt liên quan tới
chính tả cũng nhƣ các quy tắc chính tả.
Các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã đề cập tới những vấn đề
khác nhau trong dạy học TV nói chung và dạy học chính tả nói riêng. Nhƣng
chƣa có công trình nào khảo sát, thống kê, phân loại, đánh giá thực trạng lỗi
chính tả cho học sinh lớp 2 Trƣờng Tiểu học Chiềng Pấc - Thuận Châu -
Sơn La. Vì thế đây vẫn là khoảng trống để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về dạy học chính tả và sửa lỗi chính
tả cho HS, từ đó xây dựng các biện pháp sửa lỗi chính tả cho HS, nhằm nâng cao
hiệu quả dạy học chính tả cho học sinh lớp 2 Trƣờng Tiểu học Chiềng Pấc -
Thuận Châu - Sơn La.

Thuận Châu - Sơn La.
Tìm ra các phƣơng pháp, đề xuất một số biện pháp sửa lỗi chính tả cho
học sinh.
9. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của khóa luận gồm có 3
chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Cơ sở thực tiễn
Chương 3: Những biện pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh lớp 2.

Chính là chú ý đến việc dạy chính tả bằng con đƣờng có quy tắc và không
có quy tắc (hay là con đƣờng có ý thức và không có ý thức).
Loại chính tả có ý thức là loại chính tả nhằm phát hiện ra các quy tắc
chính tả, mẹo luật chính tả, nghĩa của tiếng/từ Trên cơ sở đó hình thành các kĩ
năng chính tả. Về cơ bản con đƣờng có ý thức sẽ có kết quả một cách nhanh
chóng và vững chắc rút ngắn đƣợc quá trình luyện tập để viết đúng chính tả.

6
Đồng thời rèn luyện các thao tác tƣ duy nhƣ phân tích, so sánh, đối chiếu, khái
quát, trừu tƣợng hóa để rút ra các quy tắc chính tả.
Loại chính tả không có ý thức là loại chính tả không cần biết đến các quy
tắc chính tả, không biết đến mối quan hệ giữa ngữ âm và chữ, giữa nghĩa và chữ
mà chỉ cần viết đúng từng trƣờng hợp chính tả cụ thể HS viết đúng là do thói
quen và viết nhiều nên nhớ từng trƣờng hợp chính tả đó đã đƣợc viết nhƣ thế
nào. Có tác dụng củng cố trí nhớ (thích hợp với học sinh giai đoạn đầu bậc tiểu
học cuối lớp 1, đầu lớp 2).
Dạy chính tả tiếng Việt bên cạnh việc coi trọng chính tả có ý thức, cần
phải chú ý đúng mức đến chính tả không có ý thức. Việc hình thành kĩ xảo chính
tả theo con đƣờng này không cần đến sự hỗ trợ của tƣ duy chỉ ở chừng mực nhất
định HS có thể ghi nhớ máy móc. Viết chính tả nhƣ vậy cũng đòi hỏi ngƣời viết
phản ứng nhanh, để lựa chọn hình thức viết phù hợp.
Vì vậy, học sinh phải phát huy đến cao độ khả năng ghi nhớ của mình để
học thuộc. Yêu cầu này không khó nắm đối với học sinh tiểu học, ngay cả học
sinh lớp 2 khi độ tuổi các em đang ghi nhớ nhanh.
Xuất phát từ cơ sở tâm lí học, trong dạy học chính tả GV cần sử dụng các
phƣơng pháp thích hợp có tác dụng khêu gợi và kích thích sự chú ý, tích cực hóa
hoạt động tƣ duy của học sinh, làm cho học sinh nhận thức đƣợc đầy đủ ý nghĩa
thực tiễn của chính tả trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ viết. Ngƣời GV
phải đặc biệt quan tâm đến đặc điểm tâm lí của HS lứa tuổi này để nâng cao chất
lƣợng , hiệu quả dạy học nói chung và chính tả nói riêng.

Ở cấp độ âm tiết, nói chung có sự đối ứng một - một giữa âm và chữ "phát
âm thế nào thì viết thế ấy". Nhƣ vậy, về cơ bản chính tả tiếng Việt là chính tả
ngữ âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với nhau. Trong trƣờng hợp này
học sinh không cần nhớ chỉ cần phát thành tiếng và nhẩm từ cần viết.
Trong thực tế, sự biểu hiện giữa cách đọc (phát âm) và viết (viết chính tả)
lại khá đa dạng, phong phú. Cụ thể, chính tả tiếng Việt không dựa hoàn toàn vào
cách phát âm thực tế của một phƣơng ngữ nhất định nào. Ở mỗi địa phƣơng,
ngƣời dân có thói quen phát âm riêng đều có những sai lệch so với chính âm. Vì
thế để phát huy một cách có ý thức, việc dạy chính tả phải theo sát nguyên tắc
ngữ âm học.
Do đó, việc viết đúng chính tả phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở
của viết đúng. Giữa đọc và viết, giữa tập đọc và viết chính tả có mối quan hệ

Thanh điệu

Phụ âm
đầu
Vần Âm đệm

Âm chính

Âm cuối

8

Nó hiện thực hóa mục tiêu, hình thành thế giới quan khoa học, phát triển tƣ duy
sáng tạo cho học sinh, giáo dục tƣ tƣởng đạo đức, phát triển óc thẩm mĩ giáo dục
lao động.
Trong phƣơng pháp dạy học tiếng Việt nói chung và phƣơng pháp dạy học
Chính tả nói riêng có thể tìm thấy các nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học:

9
nguyên tắc phát triển lời nói, nguyên tắc phát triển tƣ duy, nguyên tắc tính đến đặc
điểm của học sinh, nguyên tắc phối hợp phƣơng pháp tích cực với phƣơng pháp
tiêu cực. Chẳng hạn nhƣ nguyên tắc phát triển tƣ duy rèn luyện cho học sinh các
thao tác tƣ duy trong quá trình dạy tiếng đó là: phân tích, tổng hợp, so sánh
Ví dụ: Khi dạy học sinh phân biệt các hình thức ghi âm đầu g và gh. Có
thể hƣớng dẫn học sinh so sánh để tìm ra sự tƣơng đồng về cách phát âm, sự
khác biệt về chữ viết và khái quát hóa từ các hiện tƣợng cụ thể thành các quy tắc
chính tả, làm cho học sinh thông hiểu nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ, hiểu nội
dung điều cần nói, viết và tạo đều kiện để các em thể hiện nội dung đó bằng
phƣơng tiện ngôn ngữ.
Hệ thống bài tập chính tả phong phú về số lƣợng, đa dạng về hình thức
thể hiện. Chính tả là phƣơng tiện rất tốt để khuyến khích học sinh, tạo hứng thú
cho các em tham gia vào hoạt động giao tiếp. Chính những đặc điểm trên đây đã
góp phần bồi dƣỡng năng lực tƣ duy cho học sinh, đáp ứng yêu cầu của nguyên
tắc phát triển lời nói trong dạy học chính tả.
GV phải nắm đƣợc nguyên tắc trong dạy học nói chung để cụ thể hoá
trong dạy học chính tả nhất là trong việc sửa lỗi chính tả cho HS.
1.3. ĐỊNH HƢỚNG ĐỔI MỚI PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
Để học chính tả có hiệu quả thì học sinh phải đổi mới cách học, muốn đổi
mới cách học phải đổi mới cách dạy. Nhƣng đổi mới PPDH không phải là sự
thay thế các PPDH cũ bằng một loạt các PPDH mới mà là đổi mới cách tiến
hành các phƣơng pháp, đổi mới các phƣơng tiện và hình thức triển khai phƣơng
pháp trên cơ sở khai thác triệt để ƣu điểm của phƣơng pháp cũ. Phải làm thế nào

cá nhân. Muốn vậy ngƣời giáo viên cần hƣớng dẫn học sinh phƣơng pháp tự học
sao cho hiệu quả. Ví dụ: nhƣ hƣớng dẫn học sinh tự lực suy nghĩ giải quyết vấn
đề, cách ghi nhớ Nhƣ vậy khả năng tự học đƣợc rèn luyện ngay cả khi trên
lớp và khi ở nhà. GV phải tạo ra những thắc mắc khéo léo, hấp dẫn để HS tự ý
thức tiếp nhận và tìm tòi cách giải đáp.
Đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng kết hợp hoạt động cá nhân với
hoạt động nhóm và phát huy khả năng của cá nhân. Dạy tập thể cho mỗi cá nhân
tạo ra sự ganh đua, nhiều cách suy nghĩ, phƣơng án hành động, có thể hỗ trợ
đóng góp ý kiến riêng vào ý kiến chung. Học sinh sẽ có khả năng hoạt động tập
thể để phát triển từng cá nhân. Chuyển từ thói quen chỉ nghe, ghi nhớ sang hình
thức hoạt động cùng nhau tìm kiếm, hình thành kiến thức bằng trí tuệ chung. GV
phải biết khai thác lợi thế của tập thể để phát triển từng cá nhân và cần chú ý đến
dạy cá nhân.
Đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng tăng cƣờng kĩ năng thực
hành. Mục đích cuối cùng của quá trình dạy học là tạo ra năng lực thực tiễn cho
ngƣời học. Đổi mới theo hƣớng này có nghĩa là học sinh đƣợc thao tác hoạt
động thực tế, học qua tình huống thực tiễn cuộc sống, giải thích đƣợc thực tiễn
bằng lí thuyết đã học, đƣợc thực hành, trao đổi, phối hợp, hợp tác trong nhóm,
rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong nói và viết Đặc biệt phân môn Chính tả mang

11
tính chất thực hành các bài tập chính tả thƣờng gắn với việc luyện tập qua đó kết
hợp ôn tập các quy tắc chính tả, GV phải cho HS thƣờng xuyên thực hành.
Đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng đổi mới cả phƣơng pháp kiểm
tra đánh giá kết quả học tập. Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm
mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động của trò mà còn đồng thời
tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. GV
cần tạo điều kiện thuận lợi để HS tham gia đánh giá lẫn nhau, sau mỗi bài viết
chính tả hay bài tập GV cho HS đổi chéo vở dùng bút chì gạch chân lỗi sai và
sửa lỗi cho nhau. Giúp HS biết cách đánh giá và tự đánh giá.

bút và điều khiển bút viết bằng ba ngón (ngón trỏ, ngón cái, ngón giữa) của bàn
tay phải. Đầu ngón trỏ đặt ở phía trên của đầu thân bút, đầu ngón tay cái giữ bên
trái, phía bên phải của đầu bút tựa vào cạnh đốt đầu ngón tay giữa. Ba điểm tựa
này giữ bút và điều khiển ngòi bút dịch chuyển linh hoạt. Ngoài ra, động tác cần
có sự phối hợp cử động của cổ tay, khuỷu tay và cả cánh tay. Vở viết cần đặt
nghiêng so với mép dƣới của bàn tay một góc khoảng 30 độ. Sở dĩ phải đặt nhƣ
vậy vì chiều thuận của vận động tay khi viết chữ tiếng Việt là vận động từ trái
sang phải. Ngồi viết đúng tƣ thế, cầm bút đúng kĩ thuật sẽ tạo nên sự thoải mái
khi viết, chữ viết đẹp hơn và tránh đƣợc cong vẹo cột sống hay cận thị.
Ngƣời ta thƣờng lấy khoảng cách giữa hai dòng kẻ liền nhau làm đơn vị
cự li để viết chữ. Căn cứ vào đơn vị cự li dòng kẻ, ngƣời ta xác định đƣợc kích
thƣớc các chữ.
Độ cao chữ tiếng Việt (bao gồm chữ viết thƣờng, chữ viết hoa và chữ số).
- Mẫu các chữ cái viết thƣờng:
+ Nhóm có độ cao 1 đơn vị (2 li): a, â, e, ê, i, o, ô, u, ƣ, m, n, v, x.
+ Nhóm có độ cao 1,25 đơn vị (2 li rƣỡi): r, s.
+ Riêng chữ t có độ cao 1,5 đơn vị (3 li).
+ Nhóm có độ cao 2 đơn vị (4 li): d, đ, p, q.
+ Nhóm có độ cao 2,5 đơn vị(5 li): b, g, h, k, l, y.
- Mẫu chữ viết hoa:
+ Chiều cao của các chữ viết hoa là 2,5 đơn vị (5 li) riêng hai chữ y và g
đƣợc viết với chiều cao là 4 đơn vị (8 li).
- Mẫu chữ số:
+ Chiều cao của chữ số là 2 đơn vị(4 li).
Khi viết chính tả HS lớp 2 thƣờng viết thiếu li, thừa li để sửa lỗi chính tả
này GV phải nắm đƣợc các kích thƣớc chữ để sửa lỗi chính tả.
Trong mỗi chữ, dấu thanh luôn đặt ở chữ ghi âm chính của vần. Trong
tiếng Việt có 6 thanh trong đó một thanh không dấu là thanh ngang. Các thanh
đều đƣợc đặt trên âm chính, riêng thanh nặng đặt dƣới âm chính. Trong các chữ
ghi tiếng có bán âm đầu (âm đệm) thì dấu thanh cũng đƣợc đặt ở âm chính (dù

14
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.1. CHƢƠNG TRÌNH CHÍNH TẢ LỚP 2
Bảng 2: Chƣơng trình nội dung phân môn Chính tả lớp 2
STT
Hình thức chính tả
Số bài
Số tiết
Kĩ năng chính tả
cần luyện
1
Tập - chép
22
22
Rèn kĩ năng sửa lỗi chính tả
và trình bày bài chính tả đúng
quy định, chép lại chính xác

chính tả này, hình thức của các kí hiệu
Đây là kiểu bài thể hiện đặc trƣng
riêng của phân môn Chính tả.
Hình thức chính tả nghe đọc thể
hiện rõ nhất đặc trƣng của chính tả
tiếng Việt: là chính tả ngữ âm, giữa âm
và chữ (đọc và viết) có mối quan hệ
mật thiết - đọc thế nào viết thế ấy.
Dạng bài chính tả Nghe - viết yêu
cầu học sinh nghe từng từ, cụm từ, câu
do giáo viên đọc và viết lại một cách
chính xác, đúng chính tả những điều
nghe đƣợc theo đúng tốc độ quy định.
Muốn viết đƣợc các bài chính tả
Nghe - viết, học sinh phải có năng lực

15
văn tự (mặt chữ) sẽ dần dần định hình
trong nhận thức của học sinh, đi vào
tiềm thức của các em.

chuyển ngôn ngữ âm thanh thành
ngôn ngữ viết, phải nhớ mặt chữ và các
quy tắc chính tả tiếng Việt.
Bên cạnh đó, vì chính tả tiếng Việt
là chính tả ngữ nghĩa, muốn viết đúng
chính tả, học sinh còn phải hiểu nội
dung của tiếng, từ, câu hay của bài viết.
Để các kĩ năng chính tả đƣợc hình
thành một cách nhanh chóng ở học

bài viết.
Hƣớng dẫn HS nhận xét những hiện tƣợng chính tả trong bài (theo hƣớng
dẫn trong SGK và hƣớng dẫn của GV).
Luyện viết những tiếng khó hoặc dễ lẫn.
b. Đọc bài chính tả cho HS viết.
Đọc toàn bài một lƣợt cho HS trƣớc khi viết: khi đọc GV cần phát âm rõ
ràng, tốc độ vừa phải, tạo điều kiện cho HS chú ý đến những hiện tƣợng chính tả
cần viết đúng.
Đọc cho HS nghe - viết từng câu ngắn hay từng cụm từ: mỗi câu hoặc
cụm từ đƣợc đọc 3 lần, đọc lƣợt đầu chậm rãi cho HS nghe, đọc nhắc lại 2 lần
cho HS kịp viết theo tốc độ viết quy định ở lớp 2.
Đọc toàn bài lần cuối cho HS soát lại.
c. Chấm và chữa bài chính tả
Mỗi giờ chính tả, GV chọn chấm một số bài của HS (những HS đến lƣợt
chấm bài, hay mắc lỗi).
Sau khi HS viết xong, GV giúp HS tự kiểm tra và chữa lỗi trong bài theo
những cách sau: HS đối chiếu bài chính tả của mình với đoạn văn trong SGK
hay với bài GV viết trên bảng, GV đọc từng câu, có chỉ dẫn cách viết những chữ
dễ sai chính tả.
d. Hƣớng dẫn HS làm bài tập chính tả âm, vần
Giúp HS nắm vững yêu cầu bài tập (bằng câu hỏi, lời giải thích).
Giúp HS chữa một phần của bài tập làm mẫu (một HS chữa mẫu trên bảng
lớp hoặc cả lớp làm bài vào bảng con).
Cho HS làm bài vào bảng con hoặc vào vở. GV uốn nắn.
Chữa toàn bộ bài tập.
Theo chƣơng trình đổi mới SGK nội dung chính tả gắn bó chặt chẽ với
phân môn Tập đọc và chủ điểm của từng phần học, có thêm nhiều bài học mới
đa dạng, phong phú nhiều mẩu chuyện vui đƣợc làm vật liệu cho bài tập chính
tả. Bên cạnh bài tập chính tả bắt buộc, còn có kiểu bài tập lựa chọn đƣa ra nhiều
phƣơng án lựa chọn khác nhau để GV và HS lựa chọn theo đặc điểm phát âm địa

Qua khảo sát các phƣơng pháp dạy học của GV vẫn còn nhiều PPDH mà
GV ít sử dụng và không sử dụng cụ thể đƣợc thể hiện ở bảng sau.

18
Bảng 4: Các phƣơng pháp sửa lỗi cho HS thƣờng đƣợc sử dụng
STT
Số lƣợng
GV
Tên phƣơng pháp
Sử dụng
nhiều
Sử dụng
ít
Không sử
dụng
1
4
PP trực quan
4
(100%)
0
(0%)
0
(0%)

2
(50%)
1
(25%)
1
(25%)

Nhìn vào bảng số liệu trên có thể thấy nhiều GV đã sử dụng các PPDH
nhƣ PP trực quan, PP phân tích ngôn ngữ, PP trò chơi, PP đàm thoại. Đặc biệt là
PP trò chơi đã đƣợc các GV sử dụng nhiều trong dạy học chính tả. Tuy nhiên
vẫn còn GV không sử dụng hay ít sử dụng một số PPDH nhƣ là PP trực quan,
PP phân tích ngôn ngữ do tốn nhiều thơi gian GV phải chuẩn bị nhiều Đòi hỏi
GV trong quá trình dạy học nói chung và dạy học chính tả nói riêng cần sử dụng
các PPDH không nên chỉ tập trung vào một PP cần sử dụng kết hợp các PPDH.
Qua các tiết dự giờ tham khảo, hầu hết các tiết dạy chƣa đƣợc giáo viên
đầu tƣ cao, môn Chính tả chƣa đƣợc coi trọng mà chủ yếu là dựa vào sách giáo
khoa và sách giáo viên là chính.
Một số giáo viên chƣa chú ý đến đặc điểm phƣơng ngữ vùng miền đang ở,
không xác định rõ các lỗi chính tả cơ bản của học sinh nên việc rèn chính tả
không đi vào trọng điểm, giáo viên ít củng cố và khắc sâu cho học sinh các quy
tắc, mẹo luật chính tả qua bài viết hoặc qua bài tập.
Hơn nữa việc phát âm của giáo viên chƣa đƣợc chuẩn, có giáo viên vẫn
còn ngọng do phƣơng ngữ nơi giáo viên sống ảnh hƣởng đến việc dạy và hƣớng
dẫn học sinh học. Vì yêu cầu đối với giáo viên là phải viết đúng, đẹp đặc biệt là
giáo viên Tiểu học.
Bên cạnh đó, còn tồn tại một thực trạng phổ biến: nhiều giáo viên chƣa
nghiên cứu kĩ về chính tả cho bản thân mình và cho học sinh trong giờ dạy các
môn học khác: Lịch sử - Địa lý, Tự nhiên - xã hội , Hầu hết giáo viên chỉ phát
âm đúng trong giờ Tập đọc, Chính tả.


20em
66.7%
4em
13.3%
6em
20%
2A2
30
18em
60%
2em
6.7%
10em
33.3%
2A3
30
16em
53.3%
3em
10.3%
11em
38%
Từ bảng số liệu tƣơng đối trên ta thấy học sinh thƣờng viết sai phụ âm
đầu là lớn nhất, cụ thể là phân biệt các phụ âm đầu dễ lẫn nhƣ: tr/ ch, r/d/i, l/đ,
l/n, b/v, Chẳng hạn: len lỏi->đen đỏi; đói bụng-> đói vụng; Ngoài các lỗi về
phụ âm đầu HS còn mắc các lỗi về phần vần và các lỗi về dấu thanh, đặc biệt là
thanh ngã ( ~ ) và thanh sắc (/) nhƣ: Thoải mái->thoải mãi, con muỗi->con
muối Đây là những lỗi chính tả cơ bản đặc trƣng nhất mà các em học sinh
mắc phải trong khi viết cũng nhƣ khi phát âm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status