TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIẢO DỤC TIÊU HỌC
LÊ THỊ HƯỜNG
MÔT SỐ BIÊN PHÁP SỬA LỎI PHÁT ÂM
CHO TRE MẨM NON
(KHU v ự c HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHÓ HÀ NỘI)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
•
•
•
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
HÀ NỘI - 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DUC TIÊU HOC
LÊ THỊ HƯỜNG
MÔT SỐ BIÊN PHÁP SỬA LỎI PHÁT ÂM
CHO TRE MẨM NON
(KHU v ự c HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHÓ HÀ NỘI)
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Lê Thị Hường
LỜI CAM ĐOAN
Đe hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, chúng tôi
đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của cô giáo - TS. Lê Thị Lan Anh và các
thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiếu học. Tôi xin cam đoan đây là công
trình nghiên cứu của tôi.
Kết quả nghiên cứu là trung thực và không trùng với kết quả của các
tác giả khác.
Hà Nội, ngày thảng 5 năm 2015
Sinh viên
Lê Thị Hường
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề.............................................................................................. 2
3. Mục đích nghiên CÚ01....................................................................................5
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cún................................................................... 6
5. Nhiệm vụ nghiên cứu...................................................................................6
6. Phương pháp nghiên cún..............................................................................6
3.3.4. Trò chơi “Bắt chước tiếng kêu”..........................................................56
3.3.5. Trò chơi “Thi xem ai tinh ”..................................................................59
3.4. Sửa lỗi phát âm thông qua sử dụng đồ dùng trực quan...........................61
3.5. Sửa lỗi phát âm thông qua đọc thơ, các câu nói có vần, đọc bài đồng
dao, tập cho trẻ nói đúng, nói nhanh........................................................63
KÉT LUẬN...................................................................................................... 69
TÀI LIỆU THAM KHĂO..............................................................................70
MỞ ĐÀU
1. Lí do chọn đề tài
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác Giáo dục và Đào tạo,
xem đây là nhân tố quyết định đến sự phát triển lớn mạnh của đất nước. Trong
đó, Giáo dục Mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân
có nhiệm vụ hình thành và phát triển nhân cách trẻ tạo ra những thế hện người
có ích đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Đe làm được như vậy thì
ngay từ bây giờ chúng ta phải luôn chú trọng đến nuôi dưỡng và chăm sóc,
giáo dục trẻ. Có như vậy trẻ mới phát triển đúng hướng và toàn diện để phù
hợp với mục tiêu chung của ngành giáo dục mầm non.
Trong mục tiêu chung của Giáo dục Mầm non đã đặt ra rất nhiều kế
hoạch nhằm phát triển trẻ về mọi mặt: tư duy, đạo đức, trí tuệ thẩm mĩ, ngôn
ngữ...để trẻ có thể rời trường mầm non, rời cô giáo như người mẹ thứ hai để
có thế tự lập bước vào môi trường mới đó là các bậc học phổ thông. Từ mục
tiêu trên ta thấy việc giáo dục cho trẻ trước tuổi đi học là vô cùng quan trọng.
LN Tônxtôi đã nhận định khi nhấn mạnh ý kiến trước tuổi đi học rằng “Tất cả
những gì mà đứa trẻ cỏ sau này khi trở thành người lớn đều thu nhận trong
thời thơ ấu. Trong quãng đời còn lại, những cải mà nỏ thu nhận được chỉ
đảng 1% những cải đó mà thôi”. Neu ta bỏ mặc trẻ, không giáo dục, không
chăm sóc, không cho trẻ được sống trong môi trường xã hội thì đứa trẻ đó
không thể lớn lên và phát triển bình thường được. Giáo dục Mầm non không
nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo ở trường mầm non. Nhận thức được
tầm quan trọng của vấn đề này nên chúng tôi mạnh dạn chọn và nghiên cứu
đề tài: “Một số biện pháp sửa lỗi phát âm cho trẻ mầm non khu vực huyện
Sóc Sơn thành phố Hà Nội”.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Trên thế giới
Phát triển ngôn ngữ trẻ mầm non được nghiên cứu rất kĩ lưỡng ở Liên
Xô cũ với nhiều nhà sư phạm nổi tiếng. Những công trình này đã được đưa
vào Việt Nam khá sớm. Giáo viên và sinh viên các trường đào tạo giáo viên
2
mầm non đã biết đến E.I. Chikhiêva, một nhà sư phạm Nga - Xô viết như một
tác giả có uy tín nghiên cún về phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo.
Cuốn sách “Phát triền ngôn ngữ trẻ em dưới tuồi đen trường phố thông ”
của bà đã được dịch từ những năm 70 của thế kỉ trước và được coi như một tài
“liệu giảng dạy chính trong các trường sư phạm mẫu giáo Việt Nam.
Nhiều tác giả Nga khác mà chúng ta biết đến cũng có đóng góp quan
trọng vào việc hình thành chuyên ngành phát triển ngôn ngữ trẻ mầm non ở
nước ta. Có thể kể đến các tác giả: Xôkhin (1979) “Phương pháp phát triển
lời nói trẻ em ”, Nxb Giáo dục Mátxcơva; Barodis A.M (1974) với cuốn
“Phươngpháp phát triền tiếng cho trẻ em”, Nxb Giáo dục Mátxcơva...
2.2. Ở Việt Nam
Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non được rất nhiều nhà nghiên
cứu giáo dục quan tâm và đi sâu tìm hiểu ở các khía cạnh khác nhau.
Ớ Việt Nam, Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, vấn đề này cũng
được quan tâm. Một số hội nghị khoa học ở Trung Ương cũng như các địa
phương đã hướng nội dung vào việc thảo luận nâng cao chất lượng giảng dạy
phát triến ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non.
tác giả Hoàng Thị Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức (2005) Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội tìm hiểu các vấn đề luyện phát âm cho trẻ ở các lứa tuổi.
Trong tạp chí Giáo dục Mầm non, số 1/2006, Đinh Thị Luyên có bài
dịch “Tìm hiêu về chương trình phát triền ngôn ngữ cho trẻ mầm non Hàn
quốc ”, đây là một góc nhìn mở cho nền giáo dục Việt Nam hiện đại.
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa với “Tiếng Việt 1, 2 ” đã cung cấp những
kiến thức cơ bản về tiếng việt giúp giáo viên trong việc phát triển ngôn ngữ
tiếng mẹ đẻ cho trẻ.
Bài viết “Một sổ biện pháp rèn phát âm L - N cho trẻ 5 tuối, trong tạp
chí Giáo dục mầm non số 3/2006, của Đỗ Thị Lương Huệ, trường Mầm non
Đằng Hải, quận Hải An - Hải Phòng. Trong bài viết đã đưa ra một số biện
4
pháp để rèn phát âm ỉ - n cho trẻ như: Tự rèn luyện phát âm chuẩn xác / - n,
sửa lỗi phát âm phụ âm / - n thông qua hoạt động chung cho trẻ làm quen với
chữ cái, rèn cho trẻ phát âm chữ cái ỉ - n thông qua các hoạt động khác,
khuyến khích cho trẻ tự phát hiện và sửa lỗi phát âm cho nhau.
“Tâm lí học trẻ em ỉứa tuổi mầm non ” của tác giả Nguyễn Ánh Tuyết
đã đề cập đến sự phát triển vốn từ của trẻ ở từng giai đoạn lứa tuổi.
Trong tạp chí Giáo dục Mầm non số 1/2014 có bài “Phát triển ngôn
ngữ cho trẻ 3 tuốỉ bang biện pháp sử dụng trò chơi với các con rối ” của tác
giả Dương Thị Giác Vũ, trường Mầm non Vàng Anh, Quận 5, TP. Hồ Chí
Minh. Giáo viên đã sử dụng con rối để giúp cho trẻ tập nghe, hiểu, diễn đạt
câu... nhằm phát triển ngôn ngũ’ cho trẻ, đáp ứng tốt mục tiêu chăm sóc giáo
dục mầm non theo phương châm “chơi mà học, học mà choi”.
Và nhiều cuốn sách, tạp chí khác cũng đề cập đến vần đề này.
Như vậy có rất nhiều tác giả đã đưa ra những công trình nghiên cún về
các phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. Tựu chung lại, các
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc tìm ra một số biện pháp sửa lỗi phát
âm cho trẻ mầm non khu vực huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
- Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân mắc lỗi phát âm của trẻ mầm non.
- Đưa ra một số biện pháp sửa lỗi phát âm cho trẻ mầm non.
6. Phương pháp nghiên cún
Trong đề tài này chúng tôi có sử dụng:
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp phân tích.
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp tổng họp.
6
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Ket luận, nội dung khóa luận gồm ba
chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Thực trạng lỗi phát âm của trẻ mầm non và nguyên nhân
Chương 3: Một số biện pháp sửa lỗi phát âm cho trẻ mầm non
7
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. C ơ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Co’ sỏ’ tâm sinh lý của trẻ mầm non
1.1.1. Đặc điếm tâm lý của trẻ mầm non
vật và việc giao tiếp với người lớn tạo ra sự biến đổi đáng kể trong các hình
thức giao tiếp của trẻ ấu nhi. Điều này quyết định sự phát triển ngôn ngữ của
trẻ ở lứa tuổi này. Tuy nhiên, việc phát triển ngôn ngữ của trẻ ở lưa tuổi này
phần lớn phụ thuộc vào sự dạy bảo của người lơn. Những đứa trẻ mà ít giao
tiếp hay ít được thỏa mãn nhu cầu giao tiếp thì thường nói rất chậm. Đe kích
thích trẻ nói người lớn cần đòi hỏi trẻ phải bày tỏ nguyện vọng của mình
bằng lời nói thì mới đáp ứng được nguyện vọng đó.
Trẻ đến độ tuổi mẫu giáo đã nắm được một số vốn từ vựng mà người
lướn cung cấp. Nét tâm lý đặc sắc ở giai đoạn này là sự tò mò, trẻ luôn muốn
được tìm hiểu, được khám phá thế giới xung quanh, trẻ luôn hỏi người lớn “vì
sao”, “tại sao” trước những sự vật, hiện tượng lạ và luôn yêu cầu người lớn
phải giải thích nghĩa của từ đó cho trẻ hiểu. Thêm vào đó nhờ ngôn ngữ mà tư
duy của trẻ mẫu giáo đã phát triển hơn so với trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ.
Tư duy của tre mẫu giáo phát triến trên cơ sở kinh nghiệm cảm tính
ngày càng tăng, trong quá trình giao tiếp với người lớn bằng ngôn ngữ các
hình thức tư duy cũng được hoàn thiện dần khi hiểu biết của trẻ càng mở
rộng. Sự phát triển tư duy của trẻ gắn chặt với phát triến ngôn ngữ và sự tăng
vốn từ.
Tư duy trực quan hình tượng của trẻ mẫu giáo phát triển mạnh mẽ và
chủ yếu. Tuy nhiên ở cuối độ tuổi mẫu giáo thì kiếu tư duy này không đáp
ứng được nhu cầu nhận thức đang phát triển mạnh mẽ ở trẻ mẫu giáo lớn, vì
vậy xuất hiện thêm kiểu tư duy trực - hình tượng mới đó là kiểu tư duy trực
quan - sơ đồ, kiểu tư duy này vẫn giũu mãi tính chất hình tượng song bản thân
hình tượng cũng trở nên khác trước: hình tượng đã bị mất đi những chi tiết
rườm rà mà còn giữ lại những yếu tố chủ yếu giúp trẻ phản ánh một cách
khái quát sự vật chứ không phải là từng sự vật riêng lẻ.
9
10
Chức năng của tất cả các cơ quan trong vỏ đại não, hoạt động hệ thần kinh
cao cấp được phát triển cao hơn. Các phản xạ có điều kiện được hình thành
nhanh chóng trong suốt giai đoạn mẫu giáo theo xu hướng tăng dần. Chức
năng của vỏ bán cầu đại não tăng hơn so với trung khu dưới vỏ, do đó ta thấy
hành vi của trẻ có tính tổ chức hơn. Trong mối quan hệ chức năng thì hẹ thần
kinh mang tính không ổn định nên các quá trình tâm lý diễn ra không đầy đủ.
Trẻ em từ 4 - 6 tuổi, quá trình ức chế tích cực đần phát triển, trẻ đã có khả
năng phân tích, đánh giá, hình thành kĩ năng, kĩ xảo vận động và phân biệt
được các hiện tượng xung quanh. Hệ thần kinh có một tác dụng chi phối và
điều tiết đối với vận động cơ thể cải thiện tính không cân bằng của quá trình
thần kinh. Cần chú ý tới sự luân phiên giữa động và tĩnh trong quá trình vận
động của trẻ.
1.2. Cơ sở ngôn ngữ học
1.2.1. Đặc điếm của âm tiết tiếng Việt
Mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt có 5 thành phần và được sắp xếp
theo sơ đồ sau:
Thanh điệu (5)
Vân
Âm đầu (1)
•
Âm đệm (2)
Âm chính (3)
Thanh điệu
Bậc 2:
Phần vần
Ảm đẩu
Âm tiết
Âm đệm
Âm chính
Âm cuối
• Thanh điệu là sự thay đổi độ cao những âm tiết: la, lá, lã đối lập với là,
lả, lạ. Các âm tiết trước đều được phát âm với cao độ cao, các âm tiết sau phát
âm với cao độ thấp.
• Thanh điệu là sự thay đổi về âm điệu, trong những âm tiết trên thì
những âm tiết cùng thuộc độ cao lại đối lập nhau về sự biến thiên của độ cao,
12
trong thời gian âm tiết “la” được phát âm với cao độ hoàn toàn bằng phẳng;
còn “lã” với đường nét biến thiên, cao độ không bằng phang; âm điện là
những đường nét biến thiên về cao độ.
• Nguyên âm trong tiếng Việt được coi là âm chính, nguyên âm là khi nói
âm phát ra luồng hơi đi tự do không có gì cản trở. Trong tiếng Việt có 16
nguyên âm, bao gồm 13 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi.
13
1.2.2.
Đặc điếm phát triển ngôn ngũ' của trẻ mầm non
1.2.2.1. Đặc điếm vốn từ của trẻ mầm non
1.2.2.1.1.
Đăc điểm vốn từ của trẻ từ 0 - 3 tuồi
• Trẻ tù’ 0 - 1 tuổi
- Trẻ sơ sinh chưa hiểu được ngôn ngữ cảu người lớn. Ở giai đoạn này
trẻ mới bắt đầu cảm nhận ngữ điệu trong giọng nói của người mẹ.
- Khi trẻ được 7- 8 tháng tuổi trẻ bắt đầu biết tên của mình.
- Đen 10-11 tháng, trẻ bắt đầu hiểu một số từ chỉ các sự vật, người mà
trẻ thường xuyên tiếp xúc.
Ví du: mẹ, bà, gà....
- Đến cuối năm thứ nhất trẻ bắt đầu có từ chủ động. Đó là những từ
đơn có cấu tạo âm thanh đơn giản.
Ví dụ: đi, bà, mẹ, gà...
- Trẻ ở lứa tuổi này có khoảng 5 - 1 0 từ, chủ yếu là danh từ, chỉ có 1 2 động từ.
Ví du: đi, chạy, bế...
Trong vốn từ của trẻ chưa có tính từ và các loại từ khác.
• Trẻ từ 1 - 2 tuổi
- So với năm thứ nhất, đầu năm thứ hai môi trường tiếp xúc của trẻ
rộng hơn, trẻ được làm quen với nhiều sự vật hiện tượng hơn nên vốn từ của
trẻ tăng lên rõ rệt. Trẻ không chỉ hiểu những từ chỉ sự vật cụ thể mà trẻ còn
hiểu những từ chỉ tính chất hành động của sự vật.
Cây: táo, bưởi, mít...
Cái: bàn, ghế, bát, thìa....
Nhưng do khả năng phân tích tổng hợp còn hạn chế, nên trẻ sử dụng
những từ loại thể nhiều khi còn lẫn lộn.
Ví du: Miếng chân, cái dép...
Trẻ ở lứa tuổi này chưa biết sử dụng danh từ chỉ địa điểm, thời gian
như: Trước, sau, trên, dưới, buổi sáng, buổi chiều, hôm nay, ngày mai.
+
về động từ: Số lượng động tù’ tăng, nhất là những động từ chỉ hành
động của bản thân trẻ.
Ngoài ra, trẻ còn sử dụng những động từ chỉ trạng thái, hành động của
các sự vật khác. Nhưng nhiều khi trẻ còn sử dụng lẫn lộn. Vì chưa phân biệt
15
được nên trẻ thường gắn những hành động của bản thân mình cho hành động
của các sự vật khác.
Ví du: Ghế ngã, mẹ rửa tất...
+ v ề tính từ: Chủ yếu là những từ chỉ đặc điểmbên ngoài
của sự vật.
Ví du: Xanh, đỏ, to, nhỏ, nóng, lạnh...
+ v ề đại tù’: Trẻ sử dụng được hầu hết các loại đại tù’: chỉ định, nhân
xưng, sở hữu. Nhung do khả năng nhận thức về bản thân và việc tách bản thân ra
khỏi sự vật, hiện tượng xung quanh còn hạn chế, cho nên trẻ chưa sử dụng chính
xác đại tù' nhân xung chỉ bản thân (ngôi số ít). Trẻ thường dùng tên mình thay
những từ chỉ hành động của các sự vật khác nhau, kể cả những từ có ý nghĩa
khái quát.
Ví du: Khen, phạt, phê bình...
- về tính từ: Số lượng tăng, ngoài những tính từ chỉ đặc điểm tính chất
của các sự vật hiện tượng, còn có những từ chỉ mức độ, đặc điểm tính chất
của chúng.
Ví du: Sáng trang, tối om, đo đỏ...
Do trẻ còn đánh giá sự vật hiện tượng thông qua những biểu hiện bên
ngoài, cho nên nội dung ý nghĩa của tính từ còn rất hẹp, cụ thể và chưa thật
chính xác.
Ví du: Tốt: Do có áo (mũ...) đẹp
Xấu: Do có giầy, dép xấu...
- về số từ: Trẻ hiểu và sử dụng được các từ: “ít”, “nhiều”, “một”, “hai”.
Còn có các số từ 3 trở lên trẻ sử dụng không chính xác.
- về đại từ: Trẻ ở lứa tuổi này sử dụng được tất cả các loại đại từ, kể
cả đại từ nghi vấn.
- về hư tù': Trẻ biết sử dụng các loại hư tù’ như: Phó tù’, trợ tù’, quan
hệ từ, thán từ.
1.2.2.1.2. Đăc điểm vốn từ của trẻ từ 3- 6 tuồi
Nhà tâm lí học người Nga đã nghiên CÚ11 đặc điểm phát triển vốn tù’ của
trẻ mẫu giáo và ông đã chỉ rõ rằng: Trong vốn tù' của trẻ mẫu giáo đầu tiên trẻ
em phản ánh những đặc trưng của sự vật, hiện tượng, càng lớn trẻ càng có
nhiều vốn tù' thể hiện đặc điểm của sự vật, hiện tượng một cách chính xác bằng
17
từ ngữ. Tư duy trực quan hành động giải thích việc trẻ mẫu giáo bé và đầu mẫu
động tù’và tính từ, các loại từ khác xuất hiện muộn hơn.
Đen 3 - 4 tuổi về cơ bản trong vốn tù' của trẻ đã có đủ các loại từ. Tuy
nhiên tỉ lệ danh từ và tính từ cao hơn nhiều so với các loại khác: danh từ
chiếm 38%; động từ chiếm 32%; tính từ chiếm 6,8%; đại từ chiếm 3,1%; phó
từ chiếm 7,8%; tình thái từ 4,8%; quan hệ từ và số từ còn ít xuất hiện (số từ
chiếm 2,5%; quan hệ từ chiếm 1,7%)
Giai đoạn 5 - 6 tuổi là giai đoạn hoàn thiện một bước cơ cấu từ loại
trong vốn tù’ của trẻ. Tỉ lệ danh tù’, động tù' giảm đi (còn khoảng 50%) nhường
chỗ cho tính từ và các loại từ khác tăng lên. Tính từ đạt tới 15%; quan hệ từ
lên đến 5,7%; còn lại là các loại tù’ khác.
• Khả năng hiểu nghĩa từ của trẻ:
Đối với trẻ mầm non khi ở tuổi nhà trẻ, trẻ hiểu được nghĩa biểu danh.
Theo Federenko (Nga) ở trẻ em có 5 mức độ hiếu nghĩa khái quát của từ như
sau:
- Mức độ zero (mức độ không): Mọi sự vật có tên gọi gắn với nó, trẻ
hiểu được ý nghĩa tên này: mẹ, bố, bàn, ghế.. .(nghĩa biếu danh).
- Mức độ 1: Ý nghĩa biểu niệm ở mức độ thấp, tên gọi chung của các
vật cùng loại.
Ví du: Tất cả các đồ vật gì có hình tròn trẻ đều cho là quả bóng
Tất cả đồ chơi có hình người là búp bê...
- Mức độ 2: Khái quát hơn
Ví dụ: + Quả (cam, táo, xoài...)
+ Xe (xe đạp, xe máy, ô tô...)
+ Con (con gà, con chó, con mèo...)
- Mức độ 3: Ớ mức độ cao hơn mà trẻ 5 - 6 tuổi nắm được
19