TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
LÊ THỊ HƢỜNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM
CHO TRẺ MẦM NON
(KHU VỰC HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt
HÀ NỘI - 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
LÊ THỊ HƢỜNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM
CHO TRẺ MẦM NON
(KHU VỰC HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. LÊ THỊ LAN ANH
HÀ NỘI, 2015
Lê Thị Hường
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ....................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................... 5
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 6
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................................. 6
6. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 6
7. Cấu trúc của khóa luận ............................................................................................ 7
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN .................................................................... 8
1.1. Cơ sở tâm sinh lý của trẻ mầm non .................................................................. 8
1.1.1. Đặc điểm tâm lý của trẻ mầm non ................................................................ 8
1.1.2. Đặc điểm sinh lý của trẻ mầm non ............................................................. 10
1.2. Cơ sở ngôn ngữ học ........................................................................................... 11
1.2.1. Đặc điểm của âm tiết Tiếng Việt................................................................. 11
1.2.2. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non .................................... 14
1.2.3. Một số lỗi phát âm của trẻ mầm non ......................................................... 26
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG LỖI PHÁT ÂM CỦA TRẺ
MẦM NON VÀ NGUYÊN NHÂN .............................................................. 30
2.1. Thực trạng lỗi phát âm của trẻ mầm non ...................................................... 30
2.1.1. Vài nét khái quát về trường Mầm non Tiên Dược - xã Tiên Dược huyện Sóc Sơn - thành phố Hà Nội và trường Mầm Non Tân Hưng xã Tân Hưng - huyện Sóc Sơn -thành phố Hà Nội ................................. 30
2.1.2. Điều tra thực trạng ......................................................................................... 32
2.1.3. Phân tích kết quả điều tra ............................................................................ 34
2.2. Nguyên nhân mắc lỗi phát âm của trẻ mầm non ......................................... 46
2.2.1. Nguyên nhân chủ quan .................................................................................. 46
ngữ…để trẻ có thể rời trường mầm non, rời cô giáo như người mẹ thứ hai để
có thể tự lập bước vào môi trường mới đó là các bậc học phổ thông. Từ mục
tiêu trên ta thấy việc giáo dục cho trẻ trước tuổi đi học là vô cùng quan trọng.
LN Tônxtôi đã nhận định khi nhấn mạnh ý kiến trước tuổi đi học rằng “Tất cả
những gì mà đứa trẻ có sau này khi trở thành người lớn đều thu nhận trong
thời thơ ấu. Trong quãng đời còn lại, những cái mà nó thu nhận được chỉ
đáng 1% những cái đó mà thôi”. Nếu ta bỏ mặc trẻ, không giáo dục, không
chăm sóc, không cho trẻ được sống trong môi trường xã hội thì đứa trẻ đó
không thể lớn lên và phát triển bình thường được. Giáo dục Mầm non không
chỉ chú trọng phát triển nhân cách cho trẻ mà qua đó còn chuẩn bị cho xã hội
tương lai những người công dân có đầy đủ các phẩm chất, trí tuệ, thể chất,
cũng như đạo đức đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Với ý nghĩa to
lớn ấy, trong khi lựa chọn nội dung đề tài nghiên cứu, chúng tôi không thể
không nghĩ đến vai trò vô cùng quan trọng của việc phát âm đúng của trẻ.
1
V.I.Lênin đã nói:“Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất
của loài người”. Do đó ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống
hàng ngày, không có ngôn ngữ đứa trẻ không thể phát triển thành người một
cách thực thụ, ngôn ngữ là phương tiện để tư duy, nó đóng vai trò rất lớn
trong việc phát triển trí tuệ và các quá trình tâm lí khác.
Trẻ từ 0 - 6 tuổi đang trong giai đoạn học nói, là giai đoạn siêu tốc
trong phát triển ngôn ngữ. Ở giai đoạn này trẻ nói rất nhiều, thường đưa ra
nhiều câu hỏi về nguyên nhân, nguồn gốc sự vật hiện tượng xung quanh trẻ,
và đây cũng là thời kì chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 hình thành những yếu tố tiền
đọc, tiền viết. Cho nên đây là thời điểm tốt nhất để rèn luyện phát âm và phát
triển ngôn ngữ cho trẻ. Nếu biết tận dụng thời cơ này thì sẽ đạt được hiệu quả
cao mà không tốn sức.
Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non được rất nhiều nhà nghiên
cứu giáo dục quan tâm và đi sâu tìm hiểu ở các khía cạnh khác nhau.
Ở Việt Nam, Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, vấn đề này cũng
được quan tâm. Một số hội nghị khoa học ở Trung Ương cũng như các địa
phương đã hướng nội dung vào việc thảo luận nâng cao chất lượng giảng dạy
phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non.
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn giáo trình “Phương pháp phát
triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” (1997), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
Đây là cuốn giáo trình đầu tiên đề cập đến một cách toàn diện, có hệ
thống các vấn đề khoa học và thực tiễn của tiếng mẹ đẻ đang được thực hiện
trong các lớp nhà trẻ, mẫu giáo ở nước ta. Đây là sản phẩm của niềm say mê
hứng thú nghiên cứu, hướng dẫn sinh viên từ thực hành, thực tập trên trẻ, làm
khóa luận, luận văn về phát triển tiếng mẹ đẻ cho trẻ mẫu giáo. Trong cuốn giáo
trình này tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã đưa ra những nhiệm vụ, nội dung của
việc dạy nghe và phát âm đúng cho trẻ. Tác giả đề cập đến một số lỗi phát âm
mà trẻ thường mắc phải. Các lỗi phát âm đó được trình bày lần lượt theo cấu
3
trúc của âm tiết: lỗi về thanh điệu, âm chính, âm đầu, âm đệm, âm cuối. Trong
mỗi lỗi tác giả đều đề cập đến nguyên nhân mắc lỗi ở trẻ, qua đó Nguyễn Xuân
Khoa cũng đưa ra một số trò chơi nhằm luyện cách phát âm cho trẻ.
Trong cuốn “Giáo trình phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm
non” của tác giả Đinh Hồng Thái (2006), Nxb Đại học Sư phạm cũng chú
trọng tới việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non: giáo dục chuẩn mực ngữ
âm tiếng việt, hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo, dạy trẻ các
mẫu câu tiếng việt, phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo, phát triển
ngôn ngữ nghệ thuật cho trẻ mẫu giáo qua thơ và truyện để tạo tiền đề tốt cho
trẻ bước vào lớp 1.
Minh. Giáo viên đã sử dụng con rối để giúp cho trẻ tập nghe, hiểu, diễn đạt
câu… nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đáp ứng tốt mục tiêu chăm sóc giáo
dục mầm non theo phương châm “chơi mà học, học mà chơi”.
Và nhiều cuốn sách, tạp chí khác cũng đề cập đến vần đề này.
Như vậy có rất nhiều tác giả đã đưa ra những công trình nghiên cứu về
các phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. Tựu chung lại, các
nhà khoa học đều hướng tới mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đưa ra các
lỗi phát âm ở trẻ, tìm ra nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp khắc phục,
nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của ngành giáo dục mầm non nói riêng
và nền giáo dục của đất nước ta nói chung. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này
theo nhận định của chúng tôi, chưa có một ai hay chưa một công trình khoa
học nào đưa ra được những biện pháp tối ưu nhất, mang tính thực tiễn nhất để
sửa lỗi phát âm cho trẻ. Chính vì lí do này, chúng tôi đã chọn đề tài: “Một số
biện pháp sửa lỗi phát âm cho trẻ mầm non khu vực huyện Sóc Sơn, thành
phố Hà Nội”.
3. Mục đích nghiên cứu
Đưa ra các biện pháp khắc phục, sửa lỗi phát âm cho trẻ mầm non khu
vực huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
5
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Một số lỗi phát âm của trẻ mầm non, nguyên nhân và các biện pháp
khắc phục.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi đi vào thực tế tìm hiểu một số lỗi phát âm
thường gặp ở trẻ mẫu giáo nhưng do thời gian và điều kiện không cho phép
nên chúng tôi chỉ có thể điều tra thực tế lỗi phát âm ở hai trường Mầm non
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Cơ sở tâm sinh lý của trẻ mầm non
1.1.1. Đặc điểm tâm lý của trẻ mầm non
Trong năm thứ nhất, ngoài sự tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ về thể
chất thì tâm lí của trẻ mầm non cũng có sự thay đổi rõ rệt và nhanh chóng.
Ngay từ thuở lọt lòng, trẻ đã được tiếp xúc với những lời “ầu, ơ”,
những câu nựng của bà của mẹ. Tất cả đã ngấm sâu trong tiềm thức non nớt
của chúng. Lớn hơn một chút, khi nhu cầu cần được giao tiếp của trẻ phát
triển, trẻ biết hóng chuyện thì mẹ là người trò chuyện, tâm sự với trẻ. Khi giao
tiếp trẻ bắt chước những âm thanh trong lời nói của những người xung quanh.
Sau 3 tháng, một đứa trẻ bình thường có thể phát ra những âm thanh nhỏ “gừ
gừ”; thỉnh thoảng ta có thể bắt gặp những âm thanh “ô, a” trong mồm đứa trẻ
theo nhịp điệu “à ơi” hay “ầu ơ” trong lời ru của người lớn.
Đến độ tuổi hài nhi, trẻ hình thnahf những tiền đề của sự lĩnh hội ngôn
ngữ. Lúc này thì giao tiếp xúc cảm trực tiếp với người lớn là hoạt động chủ
đạo của trẻ hài nhi. Tất nhiên trẻ chỉ sẵn sàng giao tiếp với người lớn khi nó
thấy an toàn và thoải mái về tình cảm. Càng về cuối năm thứ nhất thì trẻ lại
càng thích giao tiếp với người lớn bằng những âm bập bẹ của mình. Âm bập
bẹ này có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển ngôn ngữ sau này. Như
vậy trong quá trình tiếp xúc trực tiếp với người lớn, sự thông hiểu ngôn ngữ
của trẻ dần dần mang tính tích cực hơn và trở thành một trong những phương
tiện quan trọng để mở rộng khả năng giao tiếp của trẻ với những người xung
quanh. Có thể nói giao tiếp với người lớn được coi là điều kiện tiên quyết để
trẻ lớn lên thành người.
8
Như vậy, các đặc điểm tâm lý chung của trẻ mầm non đang được hình
thành và phát triển mạnh mẽ song lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của sự phát triển
ngôn ngữ. Sự lĩnh hội ngôn ngữ của độ tuổi này góp phần thúc đẩy sự phát
triển ngôn ngữ. Sự lĩnh hội ngôn ngữ của độ tuổi này góp phần thúc đẩy sự
phát triển cả thể chất lẫn tâm lí của trẻ, bước đầu hình thành những yếu tố đầu
tiên của nhân cách con người mới.
1.1.2. Đặc điểm sinh lý của trẻ mầm non
Trẻ em là một thực thê tự nhiên đang phát triển. Trẻ càng nhỏ thì tốc độ
phát triển càng nhanh, các cơ quan dần được hoàn thiện về cấu tạo và chức
năng, chúng ta có thể quan sát thấy trẻ khôn lớn từng ngày. Tuy nhiên, không
phải là luôn luôn giống nhau và trùng nhau về mức độ phát triển mà còn tùy
thuộc vào từng cơ quan, hệ sơ quan và các giai đoạn phát triển. Quá trình hình
thành, phát triển và hoàn thiện cảu các cơ quan hệ cơ quan có tác động lớn
đến tất cả các quá trình tâm lí của trẻ. Vì vậy, tính thích nghi và khả năng hoạt
dộng khác của trẻ dễ bị thay đổi dưới những tác động khác nhau.
Đặc điểm hệ thần kinh của trẻ
Hệ thần kinh điều khiển sự hoạt động của các cơ quan làm cho cơ thể
thích nghi được sự thay đổi thường xuyên của môi trường và có thể cải tạo
nó. Nhờ có hệ thần kinh mà con người có tư duy, có tâm lý. Vỏ não là cơ sở
vật chất của toàn bộ hoạt động tâm lý của con người.
Ngay từ lúc sinh ra, hệ thần kinh của trẻ chưa phát triển hoàn thiện nên
chưa đủ khả năng để thực hiện chức năng của mình. Khi ra đời, não bộ của trẻ
chưa phát triển đầy đủ, mặc dù cấu tạo và hình thái không khác người lớn,
trọng lượng lúc sơ sinh là 370 - 392 gam, khi được 6 tháng trọng lượng tăng
gấp đôi, 3 tuổi tăng gấp 3 và 9 tuổi thì nặng 1300 gam. Sự phát triển các
đường dẫn truyền diễn ra rất mạnh và tăng lên theo từng lứa tuổi. Vì vậy sự
phát triển hệ thần kinh của trẻ mẫu giáo cao hơn so với trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ.
10
- Thanh ngang: Trên chữ không ghi dấu khi viết.
- Thanh huyền: ( \ )
- Thanh sắc: ( / )
- Thanh nặng: (.)
- Thanh hỏi: (?)
11
- Thanh ngã: ( ~ )
Thành phần ở vị trí 1 là âm đầu do các phụ âm đảm nhiệm.
Thành phần ở vị trí 2 là âm đệm có hai con chữ thể hiện là o và u, ví dụ:
toàn, tuân.
Thành phần ở vị trí 3 là âm chính do các nguyên âm đảm nhiệm. Âm
chính là hạt nhân của âm tiết.
Thành phần ở vị trí 4 là âm cuối do 6 phụ âm là /m/, /n/, /p/, /t/, /k/ và hai
bán âm
Các thành phần ở vị trí 2, 3, 4 ghép lại với nhau thành một bộ phận gọi là
phần vần. Âm bao giờ cũng phải có âm chính và thanh điệu, vị trí còn lại có
thể có hoặc không.
- Âm tiết của tiếng Việt có cấu trúc chia làm hai bậc:
Âm tiết
Bậc 1:
Thanh điệu
Bậc 2:
Âm đầu
+ 9 nguyên âm dài: a, ơ, u, e, ê, o, ô, i, ư
+ 4 nguyên âm ngắn:
- Nguyên âm đôi là gồm hai nguyên âm ghép lại liền nhau. Khi phát âm
thì đọc nhanh, đọc lướt từ âm này sang âm kia, lúc đầu mạnh, sau yếu hơn, do
đó âm sắc chủ yếu của các nguyên âm đôi là do âm đầu quyết định.
Phụ âm: Các âm vị đảm nhiệm thành phần âm đầu của âm tiết tiếng Việt
bao giờ cũng là các phụ âm. Phụ âm là âm vị khi phát âm luồng hơi đi ra bị
cản ở chỗ nào đó trong bộ máy phát âm, phụ âm có loại bị cản ở môi, có loại
bị cản ở răng, có loại bị cản ở thanh hầu. Về phương thức phát âm người ta
chia phụ âm thành:
- Phụ âm tắc: Hơi bị cản lại sau thoát ra đường miệng vào mũi: b, d, t, s,
c, k, m,r, ng.
- Phụ âm sát: Hơi đi qua kẽ hở miệng: p, v, s, z, l, x, y, h.
- Phụ âm vang: Hơi thoát ra đầu lưỡi và bên lưỡi: m, n, nh.
- Phụ âm ồn: Hơi thoát ra đằng miệng có tiếng ồn: b, d, t, c, k, p, x, v, z, y, h.
- Phụ âm hữu thanh, vô thanh trong các âm ồn: Căn cứ vào chỗ dây thanh
có rung hay không rung người ta chia ra :
Phụ âm hữu thanh: Dây thanh rung (d, v, y).
Phụ âm vô thanh: Dây thanh không rung (t, k, c, b, s, x, h).
13
1.2.2. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non
1.2.2.1. Đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non
1.2.2.1.1. Đặc điểm vốn từ của trẻ từ 0 - 3 tuổi
Trẻ từ 0 - 1 tuổi
- Trẻ sơ sinh chưa hiểu được ngôn ngữ cảu người lớn. Ở giai đoạn này
trẻ mới bắt đầu cảm nhận ngữ điệu trong giọng nói của người mẹ.
- Khi trẻ được 7- 8 tháng tuổi trẻ bắt đầu biết tên của mình.
Vốn từ chủ động của trẻ tăng rất nhanh, khoảng 300 - 400 từ. Trẻ hiểu
đúng nghĩa của từ nên trẻ sử dụng chính xác hơn những từ chỉ sự vật, hiện
tượng cụ thể.
- Trẻ cuối năm thứ hai có đầy đủ các loại từ: danh từ, động từ, tính từ,
đại phó từ.
+ Về danh từ: trẻ sử dụng tương đối chính xác những danh từ chỉ sự
vật, hiện tượng cụ thể, gần gũi trẻ. Xuất hiện những danh từ chỉ sự vật.
Ví dụ: Con: chó, gà, mèo…
Cây: táo, bưởi, mít…
Cái: bàn, ghế, bát, thìa….
Nhưng do khả năng phân tích tổng hợp còn hạn chế, nên trẻ sử dụng
những từ loại thể nhiều khi còn lẫn lộn.
Ví dụ: Miếng chân, cái dép…
Trẻ ở lứa tuổi này chưa biết sử dụng danh từ chỉ địa điểm, thời gian
như: Trước, sau, trên, dưới, buổi sáng, buổi chiều, hôm nay, ngày mai.
+ Về động từ: Số lượng động từ tăng, nhất là những động từ chỉ hành
động của bản thân trẻ.
Ngoài ra, trẻ còn sử dụng những động từ chỉ trạng thái, hành động của
các sự vật khác. Nhưng nhiều khi trẻ còn sử dụng lẫn lộn. Vì chưa phân biệt
15
được nên trẻ thường gắn những hành động của bản thân mình cho hành động
của các sự vật khác.
Ví dụ: Ghế ngã, mẹ rửa tất…
+ Về tính từ: Chủ yếu là những từ chỉ đặc điểm bên ngoài của sự vật.
Ví dụ: Xanh, đỏ, to, nhỏ, nóng, lạnh…
+ Về đại từ: Trẻ sử dụng được hầu hết các loại đại từ: chỉ định, nhân
xưng, sở hữu. Nhưng do khả năng nhận thức về bản thân và việc tách bản thân ra
Ví dụ: Khen, phạt, phê bình…
Về tính từ: Số lượng tăng, ngoài những tính từ chỉ đặc điểm tính chất
của các sự vật hiện tượng, còn có những từ chỉ mức độ, đặc điểm tính chất
của chúng.
Ví dụ: Sáng trưng, tối om, đo đỏ…
Do trẻ còn đánh giá sự vật hiện tượng thông qua những biểu hiện bên
ngoài, cho nên nội dung ý nghĩa của tính từ còn rất hẹp, cụ thể và chưa thật
chính xác.
Ví dụ: Tốt: Do có áo (mũ…) đẹp
Xấu: Do có giầy, dép xấu…
- Về số từ: Trẻ hiểu và sử dụng được các từ: “ít”, “nhiều”, “một”, “hai”.
Còn có các số từ 3 trở lên trẻ sử dụng không chính xác.
- Về đại từ: Trẻ ở lứa tuổi này sử dụng được tất cả các loại đại từ, kể
cả đại từ nghi vấn.
- Về hư từ: Trẻ biết sử dụng các loại hư từ như: Phó từ, trợ từ, quan
hệ từ, thán từ.
1.2.2.1.2. Đặc điểm vốn từ của trẻ từ 3- 6 tuổi
Nhà tâm lí học người Nga đã nghiên cứu đặc điểm phát triển vốn từ của
trẻ mẫu giáo và ông đã chỉ rõ rằng: Trong vốn từ của trẻ mẫu giáo đầu tiên trẻ
em phản ánh những đặc trưng của sự vật, hiện tượng, càng lớn trẻ càng có
nhiều vốn từ thể hiện đặc điểm của sự vật, hiện tượng một cách chính xác bằng
17
từ ngữ. Tư duy trực quan hành động giải thích việc trẻ mẫu giáo bé và đầu mẫu
giáo nhỡ chủ yếu có vốn từ biểu danh. Tư duy trừu tượng, tư duy lôgic xuất
hiện ở lứa tuổi thứ 5, cho phép trẻ em lĩnh hội những kinh nghiệm đầu tiên. Đó
là những kĩ năng về sự vật hiện tượng gần gũi xung quanh. Vốn từ ngữ phong
phú, chính xác giúp cho trẻ dễ dàng định hướng trong không gian.
chiếm 38%; động từ chiếm 32%; tính từ chiếm 6,8%; đại từ chiếm 3,1%; phó
từ chiếm 7,8%; tình thái từ 4,8%; quan hệ từ và số từ còn ít xuất hiện (số từ
chiếm 2,5%; quan hệ từ chiếm 1,7%)
Giai đoạn 5 - 6 tuổi là giai đoạn hoàn thiện một bước cơ cấu từ loại
trong vốn từ của trẻ. Tỉ lệ danh từ, động từ giảm đi (còn khoảng 50%) nhường
chỗ cho tính từ và các loại từ khác tăng lên. Tính từ đạt tới 15%; quan hệ từ
lên đến 5,7%; còn lại là các loại từ khác.
Khả năng hiểu nghĩa từ của trẻ:
Đối với trẻ mầm non khi ở tuổi nhà trẻ, trẻ hiểu được nghĩa biểu danh.
Theo Federenko (Nga) ở trẻ em có 5 mức độ hiểu nghĩa khái quát của từ như
sau:
- Mức độ zero (mức độ không): Mọi sự vật có tên gọi gắn với nó, trẻ
hiểu được ý nghĩa tên này: mẹ, bố, bàn, ghế…(nghĩa biểu danh).
- Mức độ 1: Ý nghĩa biểu niệm ở mức độ thấp, tên gọi chung của các
vật cùng loại.
Ví dụ: Tất cả các đồ vật gì có hình tròn trẻ đều cho là quả bóng
Tất cả đồ chơi có hình người là búp bê…
- Mức độ 2: Khái quát hơn
Ví dụ: + Quả (cam, táo, xoài…)
+ Xe (xe đạp, xe máy, ô tô…)
+ Con (con gà, con chó, con mèo…)
- Mức độ 3: Ở mức độ cao hơn mà trẻ 5 – 6 tuổi nắm được
19