KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC: MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM TRONG DẠY HỌC TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 3 DÂN TỘC THIỂU SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC TÔNG LẠNH - THUẬN CHÂU - SƠN LA - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC BÙI THỊ TIỆP

MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM TRONG
DẠY HỌC TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 3 DÂN TỘC
THIỂU SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC TÔNG LẠNH
- THUẬN CHÂU - SƠN LA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC BÙI THỊ TIỆP

Sinh viên thực hiện

Bùi Thị Tiệp
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

GV: giáo viên
HS: học sinh
SGK: sách giáo khoa
SGV: sách giáo viên
HSDTTS: học sinh dân tộc thiểu số
HSDT: học sinh dân tộc
ĐH: Đại học
CĐ: Cao đẳng
TC: Trung cấp
TMĐ: tiếng mẹ đẻ
NXBGD: Nhà xuất bản Giáo dục
DTTS: dân tộc thiểu số
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu 2
4. Nhiệm vụ 3
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
6. Phạm vi nghiên cứu 3
7. Phương pháp nghiên cứu 3
8. Giả thuyết khoa học 4
9. Cấu trúc của đề tài 4
PHẦN II: NỘI DUNG 5

Tiếng Việt 3, tập 2) 39
3.3. Thể nghiệm 39
3.3.1. Mục đích thể nghiệm 39
3.3.2. Đối tượng, thời gian và địa bàn thể nghiệm 40
3.3.3. Cách thức thể nghiệm 40
3.3.4. Nội dung, phương pháp thể nghiệm 40
3.4. Kết quả thể nghiệm 42
3.4.1. Chỉ tiêu đánh giá 42
3.4.2. Kết quả thể nghiệm 42
Tiểu kết chương 3 44
PHẦN KẾT LUẬN 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển của xã hội, tiếng Việt cũng phát triển phong phú và
đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp của xã hội.
Để bắt kịp với công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đòi hỏi
ngành Giáo dục và Đào tạo phải có đổi mới phù hợp. Bên cạnh sự đổi mới
chương trình và nội dung học tập, thì việc đổi mới cách làm của đội ngũ giáo
viên (GV) là rất quan trọng và được xem là khâu cơ bản đối với sự nghiệp giáo
dục của nước ta.
Nghe, nói, đọc, viết là bốn hoạt động ngôn ngữ khác nhau của con người,
trong đó đọc là một hoạt động quan trọng và có ý nghĩa đối với học sinh (HS)
tiểu học và đặc biệt là đối với học sinh dân tộc thiểu số (HSDTTS). Đối với mỗi
người, giao tiếp bằng chữ viết chỉ được thực hiện khi bắt đầu biết đọc. Đó là yêu
cầu cơ bản đầu tiên với mỗi HS bước vào trường tiểu học. Đọc giúp trẻ chiếm
lĩnh được ngôn ngữ để dùng trong hoạt động học tập và giao tiếp. Nó là công cụ
học tập các môn học khác. Nó tạo hứng thú, động cơ học tập, đồng thời nó tạo

dân tộc Kinh những biện pháp này vẫn có tác dụng tích cực.
“Phát triển lời nói cho học sinh tiểu học trên bình diện ngữ âm” (tài liệu đào
tạo GV tiểu học, trình độ đại học), dự án phát triển GV tiểu học của Nguyễn Thị
Xuân Yến – Lê Thị Thanh Nhàn (NXBGD 2007) đã mô tả hệ thống âm chuẩn
trong tiếng Việt hiện đại xác định lỗi phát âm, xác định biến thể phát âm theo các
vùng phương ngữ cho HS tiểu học. Trong cuốn này tác giả đã đưa ra được cơ sở lý
luận một số phương pháp dạy học phát âm ở tiểu học.
“Dạy học tập đọc ở tiểu học” – Lê Phương Nga, đã nghiên cứu đến việc
xác định chuẩn chính âm trong tiếng Việt và hướng đến một trong ba mẫu hình
lý tưởng để luyện phát âm cho HS. Đây là cơ sở quan trọng cho GV vận dụng
dạy phát âm và sửa lỗi phát âm cho tất cả HS nói chung và HSDTTS nói riêng.
“Vui học tiếng Việt (Trần Mạnh Hưởng, NXB Giáo dục 2000). Tài liệu này
đề cập đến những kiến thức tiếng Việt cơ bản giúp HS luyện tập thành thạo các
kỹ năng “đọc, nghe, nói, viết”, các em sẽ suy nghĩ mạch lạc, diễn đạt trong sáng,
có khả năng làm chủ được tiếng nói và ngôn ngữ của dân tộc.
3. Mục đích nghiên cứu
Tập đọc là một phân môn quan trọng trong chương trình tiểu học nói chung
và môn tiếng Việt nói riêng. Qua việc học tập đọc các em nắm, biết được cách
phát âm đúng, chuẩn tiếng Việt, hình thành kỹ năng, kỹ xảo trong quá trình đọc.
Từ đó các em có thói quen phát âm chuẩn chính tả, đọc đúng văn bản, giúp các
em tiếp thu tri thức khoa học. Nhưng trên thực tế, hiện tượng phát âm sai tiếng
Việt vẫn còn tồn tại.

3
Vì vậy thực hiện khóa luận, tác giả mong đề xuất được các biện pháp có
hiệu quả trong việc sửa lỗi và rèn kỹ năng phát âm chuẩn cho HS tiểu học nói
chung, nâng cao hiệu quả dạy học tập đọc cho HS lớp 3 dân tộc thiểu số (DTTS)
Trường Tiểu học Tông Lạnh nói riêng.
4. Nhiệm vụ
Tìm hiểu cơ sở lý luận của dạy học phát âm chuẩn tiếng Việt và thực trạng

HSDT, góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hiện nay.
Khóa luận là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên Khoa Tiểu học.
9. Cấu trúc của đề tài
Chương 1. Gồm hai nội dung chính. Nội dung thứ nhất tác giả đi vào tìm
hiểu cơ sở tâm sinh lý, cơ sở ngôn ngữ học, vị trí, tính chất, nhiệm vụ của việc
dạy học phát âm trong phân môn Tập đọc làm căn cứ cho vấn đề nghiên cứu;
Nội dung thứ hai tiến hành khảo sát nội dung chương trình tập đọc lớp 3, thực
trạng dạy và học, chỉ ra thực trạng mắc lỗi của HSDTTS, chỉ ra các lỗi thường
gặp, phân loại lỗi dựa trên quá trình điều tra, khảo sát, tìm hiểu những nguyên
nhân mắc lỗi phát âm của HS từ đó đề xuất một số biện pháp sửa lỗi phát âm
cho HS ở chương 2.
Chương 2. Tác giả đề xuất một số biện pháp sửa lỗi phát âm cho HS như:
Biện pháp luyện tập theo mẫu, biện pháp phân tích cách phát âm, biện pháp
luyện tập tổng hợp, biện pháp trò chơi học tập để sửa lỗi phát âm cho HS,
biện pháp mở rộng môi trường giao tiếp bằng tiếng Việt trong nhà trường và
cộng đồng, biện pháp thường xuyên luyện đọc từ khó trong giờ tập đọc, biện
pháp vận dụng thiết bị dạy học để sửa lỗi phát âm trong dạy học tập đọc nhằm
khắc phục lỗi phát âm giúp các em HSDTTS có cách học hiệu quả nhất và
hạn chế được lỗi phát âm.
Chương 3. Dựa trên sự nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, tác giả
đề xuất một số biện pháp nhằm sửa lỗi phát âm cho HS lớp 3 DTTS các chương
trước đó. Chương 3 tác giả đã thiết kế mẫu ứng dụng của bài tập đọc, từ đó đánh
giá tính khả thi của vấn đề nghiên cứu.

5
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
Lỗi phát âm là những sai lệch trong cách phát âm so với cách phát âm

6
Để sửa lỗi phát âm và rèn kỹ năng phát âm chuẩn trong dạy học tập đọc
cho HS lớp 3 DTTS ngoài việc nắm được các lỗi mà các em thường mắc dẫn
đến việc phát âm sai, chưa chuẩn, nắm được bản chất hay nguyên nhân mắc lỗi
phát âm chúng ta cần hiểu được đặc điểm tâm sinh lý các em HS.
Việc sửa lỗi phát âm trong dạy học tập đọc cho HS lớp 3 DTTS phụ thuộc
rất nhiều vào yếu tố tâm lý của HS. Ở giai đoạn này các em đã có bước chuyển
mới từ hoạt động chủ đạo là vui chơi sang hoạt động chủ đạo là học tập và hầu
hết các em đã biết đọc, biết viết. Tuy nhiên, nhận thức của các em vẫn là nhận
thức chưa có chủ định và đối tượng là HSDTTS có thói quen phát âm của ngôn
ngữ TMĐ nên ảnh hưởng nhiều đến việc học tập đọc. Do đó GV phải nắm được
tâm lý HS, từ đó có những định hướng sửa lỗi phát âm trong dạy học phân môn
Tập đọc cho thích hợp, để HS có kết quả học tập khả quan hơn.
Ở giai đoạn tiểu học, do các cơ quan cảm giác chưa phát triển hoàn thiện nên
bộ máy phát âm của các em chưa chuẩn các em thường đọc lẫn l/n, b/v, l/đ…hoặc
đọc các từ khó còn lệch lạc như khúc khuỷu, ngoằn ngoèo…hay những khiếm
khuyết nào đấy trong bộ máy phát âm sẽ là nguyên nhân trực tiếp gây ra lỗi phát
âm. Ví dụ người có lưỡi hơi ngắn sẽ khó phát âm chính xác các chữ như n, ch,
r…người có lưỡi dài thường phát âm không tròn vành rõ tiếng, người hở hàm ếch,
răng thưa, lưỡi gà ngắn thường khó phát âm các âm gió, âm sát, âm họng. Ngoài ra
cấu tạo vòm họng, dây thanh ảnh hưởng rất lớn đến việc phát âm.
Ảnh hưởng của cách phát âm TMĐ đã trở thành thói quen với HSDTTS nói
chung và HS lớp 3 DTTS Trường Tiểu học Tông Lạnh nói riêng, khi học một
ngôn ngữ mới các em khó làm quen với thao tác phát âm mới, nhất là những âm
khó, những âm không có trong TMĐ, bởi vậy khi các em sử dụng tiếng Việt vẫn
còn mang dấu ấn của TMĐ ở đâu đó trong âm sắc ngữ điệu. Cụ thể: Dân tộc
Thái không phân biệt được phụ âm l/đ, th/ t…vần ênh/êênh, ôc/ôôc…dân tộc
Mường không phân biệt được phụ âm b/v, vần ong/oong, ong/ông…dân tộc Tày
không phân biệt được phụ âm r/l
HS lớp 3 DTTS của Trường Tiểu học Tông Lạnh có điều kiện sống và hoàn

Do đó, GV phải xác định chuẩn chính âm khi dạy học tập đọc cho
HSDTTS để sửa lỗi, rèn kỹ năng phát âm chuẩn và đọc chuẩn cho HS.
*Vấn đề thanh điệu trong tiếng Việt
Thanh điệu là một loại đơn vị siêu đoạn tính bao trùm lên toàn bộ âm tiết
và có chức năng thay đổi đơn vị cao của âm tiết. Đối với các ngôn ngữ Đông
Nam Á trong đó có tiếng Việt thì thanh điệu có chức năng âm vị học tức là có
chức năng khu biệt nghĩa.

8
Hệ thống thanh điệu gồm sáu thanh: Ngang (-), huyền (/), hỏi (?), sắc (/),
nặng (.) được chia làm hai nhóm cao (sắc, ngã, không) và thấp (ngang, huyền);
nếu xét về âm vực được chia là bằng phẳng (ngang, huyền), không bằng phẳng
(hỏi, ngã, sắc, nặng); nếu xét về âm điệu.
Bảng 1: Phân loại thanh điệu theo âm điệu
Âm điệu
Âm vực
Bằng phẳng
Không bằng phẳng
Gẫy
Không gẫy
Cao
Ngang
Ngã
Sắc
Thấp
Huyền
Hỏi
Nặng
Các thanh điệu dễ hòa nhập với nhau đó là nặng với ngã, sắc với hỏi; điều
này cộng với tính chất dễ thay đổi âm vực của các thanh điệu hai chiều như hỏi,

Tác giả tiến hành khảo sát giờ dạy tập đọc của GV Trường Tiểu học Tông
Lạnh, từ đó xác định những khó khăn chủ yếu mà GV gặp phải khi dạy tập đọc
cho HSDT và đưa ra biện pháp khắc phục. Đồng thời tác giả tìm hiểu hoàn cảnh,
tâm sinh lý HS lớp 3, khảo sát thực trạng phát âm trong giờ tập đọc để thấy được
những lỗi phát âm mà các em thường mắc phải, tiến hành phân loại lỗi để nắm
được thực trạng mắc lỗi. Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp khắc phục lỗi phát
âm nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học tập đọc.
1.2.1.2. Nội dung khảo sát
Khóa luận tiến hành khảo sát trên những nội dung sau:
1. Tìm hiểu về sách giáo khoa (SGK), sách giáo viên (SGV) lớp 3 – phân
môn Tập đọc
2. Thực trạng phát âm của HS
3. Thực trạng sửa lỗi phát âm của GV đối với HS
1.2.1.3. Địa điểm và thời gian khảo sát
+ Thời gian khảo sát: Bắt đầu từ ngày 20/12/2012 đến ngày 25/12/2012
+ Địa điểm khảo sát: Tại Trường Tiểu học Tông Lạnh
1.2.1.4. Cách thức khảo sát
Để đánh giá thực trạng phát âm cho các em HS lớp 3 DTTS Trường Tiểu
học Tông Lạnh, tác giả dùng phương pháp dự giờ trực tiếp, phương pháp điều

10
tra bằng phiếu, trao đổi với GV về chương trình tập đọc lớp 3 và các phương
pháp sửa lỗi phát âm cho HS.
1.2.2. Kết quả khảo sát
Sau một thời gian tiến hành khảo sát thực tế tại Trường Tiểu học Tông
Lạnh tác giả thu được kết quả như sau:
1.2.2.1. Nghiên cứu về SGK và SGV Tiếng Việt 3
a. SGK Tiếng Việt 3
SGK Tiếng Việt 3 gồm có hai tập (tập 1+ tập 2) gồm 15 chủ điểm, các chủ
điểm được học trong hai hoặc ba tuần.

Tiểu học Tông Lạnh khả năng phát âm của nhiều em HS chưa cao, chính vì vậy
SGK là công cụ chủ yếu sửa lỗi phát âm để nâng cao hiệu quả dạy – học đọc cho
GV và HS.
b. SGV và các tài liệu khác
* SGV:
SGV Tiếng Việt 3 cũng có cấu tạo hai tập (tập 1+ tập 2) tương ứng với
SGK. Nội dung SGV cũng gồm hai phần:
+ Phần I: Hướng dẫn chung
Phần này trình bày mục tiêu, quan điểm dạy học, cách biên soạn bài giảng,
nội dung, phương pháp dạy học tiếng Việt và hướng dẫn dạy từng phân môn cụ
thể, trong đó có phân môn Tập đọc.
+ Phần II: Hướng dẫn cụ thể
Phần này hướng dẫn GV những nội dung chính, những chuẩn kiến thức để
GV có định hướng soạn bài tương ứng với các bài đọc trong SGK.
* Sách thiết kế bài giảng là tài liệu tham khảo hữu ích để GV biên soạn bài
giảng theo chuẩn kiến thức, chuẩn kỹ năng.

12
* Vở bài tập Tiếng Việt và các tài liệu khác giúp HS luyện tập, thực hành
các kỹ năng nghe – nói – đọc – viết phục vụ cho quá trình học tập của các em.
1.2.2.2. Thực trạng mắc lỗi phát âm của HSDTTS
a. Một số lỗi phát âm thường gặp của HS lớp 3 DTTS Trường Tiểu học
Tông Lạnh
Khi học tiếng Việt, HSDT có những xu hướng chuyển những chuẩn mực và
thói quen phát âm TMĐ tới quá trình phát âm tiếng Việt. Cơ quan phát âm của
các em đã quen với những thao tác khi phát âm tiếng dân tộc khó tránh khỏi
những sai lệch khi phát âm tiếng Việt.
Qua thực tế khảo sát trong giờ học tập đọc, qua việc trò chuyện với HS lớp
3 Trường Tiểu học Tông Lạnh, bản thân tác giả thấy các em mắc khá nhiều lỗi
phát âm, thống kê số lỗi phát âm, tác giả thấy có hai loại lỗi cơ bản sau:

HS
khảo
sát
Các lỗi phát âm thường mắc
Phát âm sai phụ
âm đầu: b/v, l/đ,
r/gi, r/l…
Phát âm sai phần
vần: ay/ây,
ươu/iêu, ong/ông,
ôc/ôôc…
Phát âm sai về
thanh điệu:
ngã/sắc
Số HS
mắc lỗi
Tỉ lệ HS
mắc
lỗi(%)
Số HS
mắc lỗi
Tỉ lệ
HS
mắc
lỗi(%)
Số HS
mắc lỗi
Tỉ lệ
HS
mắc

âm tiết kết thúc bằng các âm tắc vô thanh, đây cũng là dạng lỗi phổ biến của
HSDT H'Mông.
Trong tiếng Việt có nhiều ngôn ngữ dân tộc không có thanh điệu (tiếng Ê
Đê, Ba-Na, Gia rai…). Hay có một số ngôn ngữ có thanh điệu nhưng số lượng
và tính chất các thanh không hoàn toàn tương ứng số lượng và tính chất các
thanh trong tiếng Việt (tiếng Thái, H’Mông, Dao…) bởi vậy mà hiện tượng phát
âm không đúng thanh điệu cũng khá phổ biến ở HSDTTS.
Nhận xét: Qua bảng số liệu thống kê trên cho thấy HSDTTS của Trường
Tiểu học Tông Lạnh đều mắc lỗi phát âm tương đối nhiều. Cụ thể là:
Thứ nhất: Về phụ âm

14
Số lượng HS mắc lỗi về phụ âm chiếm tỉ lệ lớn. Tập trung nhiều ở trường
hợp phân biệt l/đ, b/v, r/l, r/gi. Trong đó lớp 3A là 21/30 em (chiếm 70%), lớp
3B là 22/30 em (chiếm 73%), lớp 3C chiếm tỉ lệ lớn nhất 24/30 em (chiếm 80%)
Ví dụ trong phiếu điều tra số 1 có các từ như:
“Đau bụng” HS phát âm thành “đau vụng’’
“Kiểm lâm” HS phát âm thành “ kiểm đâm”
“Ra ngoài” HS phát âm thành “la ngoài”
Thứ hai: Về phần vần
So với số lượng HS mắc lỗi về phụ âm thì tỉ lệ HS mắc lỗi phần vần về cơ bản
cũng có phần giảm hơn. Tuy nhiên số lượng HS mắc lỗi về phần vần vẫn chiếm tỉ lệ
tương đối cao trong đó lớp 3A có 13/30 em mắc lỗi (chiếm 43%), lớp 3B có 13/30
em mắc lỗi (chiếm 43%), lớp 3C chiếm tỉ lệ lớn nhất 16/30 em (chiếm 53%). Do HS
lớp 3 lại là con em DTTS nên chưa được tiếp xúc nhiều với vốn từ, đặc biệt là với
những từ HS ít biết đến và thường hay bị nhầm lẫn với các từ khác.
Ví dụ trong phiếu điều tra số 2: “cây xanh” các em phát âm là “cay xanh”,
“con hươu” phát âm là “con hiêu”, “nước chảy” phát âm thành “nước chải”…
Thứ ba: Về thanh điệu
Lỗi sai do thanh điệu thì đa số các em thường nhầm lẫn giữa hai thanh đó là

được rèn luyện về cách phát âm tiếng Việt của các em chưa cao. Đó là một khó
khăn trong quá trình phát âm tiếng Việt của các em, đặc biệt với HSDTTS.
Cách phát âm của HSDTTS còn chưa đúng, chưa chuẩn, các em thường
phát âm nhầm giữa một số phụ âm đầu, âm vần, thanh điệu của các tiếng, từ
tiếng Việt; khi giao tiếp bằng tiếng Việt mặc dù đã có ý thức hơn song việc nhận
thức của các em để được một cuộc giao tiếp đạt hiệu quả thì rất khó.
b.2. HS coi Tập đọc như một môn học bắt buộc phải học
Không chỉ riêng gì với HS lớp 3 DTTS Trường Tiểu học Tông Lạnh –
Thuận Châu – Sơn La mà hầu hết các dân tộc khác và ngay cả các cấp học cao
hơn vẫn nhìn nhận Tập đọc là một môn học “phụ”, bổ chợ cho kỹ năng sử dụng
tiếng Việt trong ngôn ngữ nói. Với quan niệm trên, nếu chỉ dừng lại ở mức độ học
cho biết, cho xong thì người Việt Nam không ai là không mắc lỗi phát âm. Phát âm
là một phân môn nhỏ nhưng nó góp phần khá lớn vào việc hình thành kỹ năng sử
dụng đúng và chuẩn ngôn ngữ tiếng Việt, đồng thời còn là cơ sở cho việc sử dụng
ngôn ngữ để học tập các môn học khác. HS lớp 3 DTTS Trường Tiểu học Tông
Lạnh hầu hết cũng chỉ quan tâm đến phát âm trong dạy học tập đọc ở góc độ học

16
cho biết đọc cái chữ, chứ chưa thực sự quan tâm đến các lỗi sai mà mình mắc phải
hay việc phát âm, sử dụng ngôn ngữ trong khi nói sao cho đúng, cho chuẩn.
Phát âm lệch chuẩn tiếng Việt ngay ở các lớp đầu cấp sẽ hình thành thói quen
và ảnh hưởng không nhỏ đến sau này; phát âm không chỉ là công cụ giúp HS chiếm
lĩnh văn hóa, trau dồi kiến thức, tư duy để học tập mà còn tạo điều kiện ban đầu
trong hành trang ngôn ngữ cả đời người trong các em. Với ý nghĩa quan trọng như
vậy, phân môn Tập đọc phải là môn học được coi trọng trong nhà trường; thế
nhưng trên thực tế lại không như vậy, không riêng gì với HSDTTS Trường Tiểu
học Tông Lạnh mà hầu hết các em HS vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng
của môn Tập đọc và chỉ nhìn nhận môn học này là một môn học “phụ” hỗ trợ cho
kỹ năng sử dụng tiếng, nói tiếng Việt. Điều đó được thể hiện cụ thể: theo thống kê
phiếu điều tra khảo sát HS của Trường Tiểu học Tông Lạnh –Thuận Châu – Sơn

trình độ Đại học (ĐH) là 4 năm, còn thời gian đào tạo GV trình độ Trung cấp
(TC) và Cao đẳng (CĐ) chỉ là 2-3 năm. 2-3 năm để hoàn thành một chương trình
đào tạo khổng lồ như thế và cũng khoảng thời gian ấy mỗi người GV trang bị
được cho mình một hành trang vững vàng cả về mặt kiến thức và năng lực sư
phạm để đảm bảo yêu cầu một người GV chuẩn bị khi ra trường thì quả là một
khó khăn lớn. Do đó, với đội ngũ GV được đào tạo như trên khi ra trường sẽ dẫn
tới một thực trạng đó là trình độ, năng lực còn hạn chế, cụ thể nó được thể hiện
ở phương pháp giảng dạy, việc tổ chức dạy và học trong một giờ học còn có
những hạn chế nhất định. Ở trường tiểu học hiện nay nói chung, trình độ của đội
ngũ GV không đồng đều nhất là trong các trường tiểu học của một số tỉnh miền
núi như Sơn La. Trường Tiểu học Tông Lạnh ở huyện Thuận Châu là điển hình.
Qua thực tế khảo sát trình độ của GV dạy khối lớp 3 ở Trường Tiểu học Tông
Lạnh mà tác giả tiến hành nghiên cứu cho thấy: có 3 GV dạy khối lớp 3 thì có 1
GV trình độ CĐ (chiếm 33%) và 2 GV trình độ đào tạo là TC (chiếm 66%)
không có GV ở trình độ ĐH. Đây là một thực tế ảnh hưởng trực tiếp đến việc
dạy – học trong trường nói chung và chất lượng phát âm của HS nói riêng.
b. Trong các giờ học tiếng Việt đôi khi chưa được quan tâm đúng mức
Hiện nay, trong khi cả nước đang tiến hành đổi mới phương pháp và cách
thức dạy học phù hợp với trình độ, khả năng nhận thức và đặc điểm tâm sinh lý
của HS. Thì một số bộ phận GV vẫn duy trì và dập khuôn theo cách dạy học
truyền thống. Đó là sử dụng hình thức dạy học lấy GV làm trung tâm, GV là
người tổ chức tất cả các hoạt động trên lớp của HS, toàn bộ mạch kiến thức hầu
như được GV giới thiệu, xem xét, đánh giá và kết luận, còn HS thì thụ động tiếp
thu kiến thức của bài học, không tự mình tìm tòi, khám phá ra cái mới. Do đó
việc truyền thụ kiến thức còn chưa thực sự quan tâm đến đối tượng HS, và việc
lĩnh hội tri thức của HS bị phụ thuộc nặng nề vào bài giảng của GV. HS không
chịu khó suy nghĩ, ỷ lại, thụ động. Mà ít có cơ hội bộc lộ năng lực bản thân đặc
biệt đối với HSDTTS khi trình độ nhận thức còn chưa cao, khả năng tư duy
kém, việc tiếp thu kiến thức bài học một cách thụ động như vậy có thể ngay lúc


trọng để các em học tập tốt hơn, nâng cao việc tiếp thu tri thức khoa học để trở
thành người có ích cho xã hội góp phần xây dựng quê hương miền núi ngày
càng tươi đẹp hơn tiến kịp với miền xuôi. 19
e. Nguyên nhân mắc lỗi phát âm của HS
Trong cuộc sống, hình thức giao tiếp quan trọng giữa người với người là
tiếng nói. Muốn cho người giao tiếp hiểu được tiếng nói của mình thì yêu cầu
người nói phải phát âm đúng, rõ ràng, lưu loát. Nếu phát âm sai sẽ làm cho
người nghe hiểu sai hoặc không hiểu được nghĩa của tiếng mình phát ra.
Như vậy phát âm đóng vai trò quan trọng trong hoạt động giao tiếp và học
tập. Tuy nhiên trên thực tế khảo sát điều tra cho thấy HSDT nói chung và đặc
biệt là HSDT lớp 3 Trường Tiểu học Tông Lạnh nói riêng còn phát âm sai nhiều.
Trong đó có rất nhiều nguyên nhân gây ra lỗi phát âm và một trong những
nguyên nhân chính phải kể đến trước hết là do chính HS, sau đó là GV – những
người hướng dẫn trực tiếp, tiếp xúc với HS trong quá trình học tập.
Về phía HS
Thứ nhất: Do môi trường sử dụng tiếng Việt của HS
Các em HSDTTS được được sinh ra trong những bản làng – nơi quần tụ
chính của dân tộc mình và ngôn ngữ sử dụng chủ yếu là TMĐ; các em bị hạn
chế sử dụng tiếng Việt cả khi giao tiếp; hầu hết các em chỉ nói tiếng Việt khi đến
trường, đến lớp còn khi về nhà cả cộng đồng dân tộc các em đều sử dụng TMĐ,
coi trọng TMĐ và đó cũng là bản sắc không thể đánh mất được.
Sự phát âm địa phương cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát âm và luyện
đọc của HS tiểu học trong những năm đầu cấp. Ở lớp thầy cô có thể uốn nắn sửa
sai nhưng về nhà với thói quen nói tiếng dân tộc lại không ý thức được, bố mẹ
nói tiếng Việt chưa rõ, chưa chuẩn, chưa có kinh nghiệm để dạy con mình; hơn
nữa việc học tập cũng không đưa ra một mục đích rõ rệt, ít quan tâm đến việc
viết và phát âm của các em; ngoài buổi lên lớp, về nhà các em phải đi làm để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status