1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
*********
TRẦN THỊ PHƯƠNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO
TRẺ MẪU GIÁO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌCChuyên ngành:
Tiếng Việt Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2011
Sinh viên
Trần Thị Phương
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu, căn cứ, kết quả có trong khóa luận là trung thực. Đề tài này
chưa được công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác.
MỤC LỤC
5MỞ ĐẦU
6
1. Lí do chọn đề tài 6
2. Lịch sử vấn đề 7
3. Mục đích nghiên cứu 9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 10
6. Phương pháp nghiên cứu 10
7. Cấu trúc khóa luận 10
NỘI DUNG
11
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN 11
1.1. Cơ sở tâm sinh lí của trẻ mẫu giáo 11
1.1.1. Đặc điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo 11
1.1.2. Đặc điểm sinh lí của trẻ mẫu giáo 12
1.2. Cơ sở ngôn ngữ học 16
1.2.1. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 16
1.2.2. Đặc điểm của âm tiết tiếng Việt 21
1.3. Một số lỗi phát âm của trẻ 24
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG LỖI PHÁT ÂM CỦA TRẺ MẪU GIÁO 28
2.1. Vài nét khái quát về trường Mầm non Hoa Sen - TP. Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
và trường Mầm non Tiên Dược - Thị trấn Sóc Sơn - Hà Nội 28
2.2. Điều tra thực trạng 30
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân,
nó giữ vai trò nền tảng, đặt nền móng đầu tiên cho việc giáo dục hình thành
và phát triển toàn diện nhân cách của trẻ mầm non. Trẻ em không chỉ là niềm
vui, niềm hạnh phúc của mỗi gia đình mà còn là niềm hạnh phúc, tự hào của
toàn xã hội. Để những mầm non lớn nên khoẻ mạnh, yêu đời, trở thành những
người công dân có ích cho đất nước thì ngay từ bây giờ chúng ta phải luôn
chú trọng tới việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ. Có như vậy trẻ mới
phát triển đúng hướng và toàn diện về nhân cách để phù hợp với mục tiêu
chung của ngành giáo dục mầm non.
Trong mục tiêu chung của Giáo dục mầm non đã đặt ra rất nhiều kế
hoạch nhằm phát triển trẻ về mọi mặt: đạo đức, trí tuệ, ngôn ngữ, thể chất,
thẩm mỹ để trẻ có vốn hiểu biết vững chắc khi rời khỏi trường mầm non và
bước vào môi trường mới đó là các bậc học phổ thông. Từ mục tiêu trên ta
thấy việc giáo dục cho trẻ trước tuổi đi học là vô cùng quan trọng. Nếu trẻ
không được rèn luyện, chăm sóc, giáo dục và tiếp xúc với môi trường mầm
non - xã hội thu nhỏ đầu tiên đối với trẻ thì khi bước vào môi trường xã hội
lớn hơn, đòi hỏi năng lực của trẻ cao hơn, trẻ sẽ không thể đáp ứng được.
Chính vì vậy, Giáo dục mầm non không chỉ chú trọng phát triển nhân cách
cho trẻ mà qua đó còn chuẩn bị cho xã hội những người công dân luôn sẵn
sàng đáp ứng mọi yêu cầu của một xã hội tiên tiến. Với ý nghĩa to lớn ấy,
trong khi lựa chọn nội dung đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã nghĩ đến vai trò
vô cùng quan trọng của việc phát âm đúng của trẻ.
Ngôn ngữ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống con người,
trong sự hình thành và phát triển của xã hội loài người. Thật vậy, như một nhà
văn người Pháp nói: “ Ngôn ngữ là chiếc gương để ta soi mình trong đó”.
Trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non cần hình thành và phát
8
Tác giả Phan Thiều trong cuốn Dạy nói cho trẻ trước tuổi lớp Một
(1979) và tác giả Tạ Thị Ngọc Thanh trong cuốn Dạy phát âm và làm giàu
vốn từ cho trẻ mẫu giáo (1980) đã đưa ra những nội dung và phương pháp
dạy tiếng Việt ở nhà trường. Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu chỉ mới dừng lại
ở sự giải thích, vận dụng các tri thức ngôn ngữ học, các thành tựu ngôn ngữ
về tiếng Việt vào nhà trường.
Trong cuốn giáo trình Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu
giáo, năm 1997, Nxb Giáo dục, tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã đưa ra những
nhiệm vụ, nội dung của việc dạy nghe và phát âm đúng cho trẻ. Tác giả đề
cập đến một số lỗi phát âm mà trẻ thường mắc phải. Các lỗi phát âm được
trình bày lần lượt theo cấu trúc âm tiết: lỗi thanh điệu, âm chính, âm đầu, âm
đệm, âm cuối. Trong mỗi lỗi tác giả đều đề cập đến nguyên nhân mắc những
lỗi đó ở trẻ, qua đó tác giả cũng đã đưa ra một số trò chơi nhằm luyện cách
phát âm cho trẻ. Đây là cuốn giáo trình đầu tiên đề cập đến các vấn đề khoa
học và thực tiễn của tiếng mẹ đẻ đang được thực hiện vào trong nhà trẻ, mẫu
giáo ở nước ta một cách toàn diện, có hệ thống và sát với nội dung nghiên cứu
trong đề tài này.
Ngoài tác giả Nguyễn Xuân Khoa, trong cuốn Phương pháp phát triển
lời nói cho trẻ, năm 2007, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tác giả Đinh Hồng Thái
cũng chú trọng đến dạy trẻ nói, phát triển ngôn ngữ thông qua các thành phần
của ngữ pháp tiếng Việt, đó là: giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt, hình
thành và phát triển vốn từ, dạy trẻ các mẫu câu tiếng Việt, phát triển lời nói
mạch lạc, phát triển lời nói nghệ thuật cho trẻ qua thơ, truyện để tạo tiền đề
tốt cho trẻ chuẩn bị vào lớp một.
Trong cuốn Giáo dục Mầm non, lí luận và thực tiễn của tác giả Nguyễn
Thị Ánh Tuyết (Nxb ĐHSPHN) đã đề cập tới một lỗi phát âm của trẻ mẫu
giáo, đó là tật nói lắp. Tác giả cho rằng, nói lắp là lỗi phát âm thường gặp ở
10
- Trường Mầm non Tiên Dược - TT. Sóc Sơn - TP. Hà Nội
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài.
- Tìm hiểu thực trạng lỗi phát âm của trẻ mẫu giáo.
- Tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp sửa lỗi phát âm của trẻ.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra (điều tra phỏng vấn, phiếu anket)
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp
7. Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, Nội dung của khóa luận gồm các
chương sau:
Chương 1. Cơ sở lí luận
Chương 2. Thực trạng lỗi phát âm của trẻ mẫu giáo
Chương 3. Nguyên nhân và một số biện pháp sửa lỗi phát âm cho trẻ mẫu giáo. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Cơ sở tâm sinh lí của trẻ mẫu giáo
1.1.1. Đặc điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo
12
Tâm lí của trẻ mẫu giáo phát triển mạnh, dần dần trẻ học cách hành động
của mình. Song trẻ cần có kích thích hấp dẫn, sinh động, có nhiệm vụ rõ ràng,
dễ hiểu.
Nhân cách với các nét tâm lí nhân cách của trẻ cũng bắt đầu hình thành ở
lứa tuổi này, trước tiên là xu hướng cá nhân. Các động cơ hành động mới có
nội dung xã hội được hình thành. Trẻ học cách xem xét hành vi của mình và
của bạn theo yêu cầu do người lớn đề ra và hành động theo yêu cầu đó. Tất
nhiên xu hướng xã hội của trẻ, ngay cả ở lứa tuổi mẫu giáo lớn còn chưa rõ
nét cần được cung cấp và phát triển
Như vậy, các đặc điểm tâm lí chung của tuổi mẫu giáo đang được hình
thành và phát triển mạnh mẽ.
1.1.2. Đặc điểm sinh lí của trẻ mẫu giáo
Trẻ em là một thực thể tự nhiên đang phát triển. Trẻ càng nhỏ thì tốc độ
phát triển càng nhanh, các cơ quan dần được hoàn thiện về cấu tạo và chức
năng, chúng ta có thể quan sát thấy trẻ khôn lớn từng ngày. Tuy nhiên không
phải là luôn luôn giống nhau và trùng nhau về mức độ phát triển mà còn tuỳ
thuộc vào từng cơ quan, hệ cơ quan và các giai đoạn phát triển. Quá trình hình
thành, phát triển và hoàn thiện của các cơ quan, hệ cơ quan có tác động lớn
đến tất cả các quá trình tâm lí của trẻ. Vì vậy tính thích nghi và khả năng hoạt
động khác của trẻ dễ bị thay đổi dưới những tác động khác nhau.
1.1.2.1. Đặc điểm hệ thần kinh của trẻ
Hệ thần kinh điều khiển sự hoạt động của các cơ quan trong cơ thể, phối
hợp và điều hoà sự hoạt động của các cơ quan làm cho cơ thể thích nghi được
sự thay đổi thường xuyên của môi trường và có thể cải tạo nó. Nhờ có hệ thần
kinh mà con người có tư duy và có tâm lý. Vỏ não là cơ sở vật chất của toàn
bộ hoạt động tâm lý của con người.
14
Ngay từ lúc sinh ra, hệ thần kinh của trẻ chưa phát triển hoàn thiện nên
chưa đủ khả năng để thực hiện chức năng của mình. Khi ra đời, não bộ của trẻ
tính vững chắc của khớp tương đối kém.
Hệ cơ của trẻ phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ, mảnh,
thành phần nước trong cơ tương đối nhiều nên sức mạnh cơ bắp còn yếu, cơ
nhanh mệt mỏi.
1.1.2.3. Đặc điểm hệ tuần hoàn
Hệ tim mạch của trẻ bắt đầu hoạt động sớm hơn các hệ khác và các mạch
máu của trẻ rộng hơn so với người lớn (về tỉ lệ) nên áp lực của máu vào thành
mạch yếu, để bù vào đó tần số co bóp của tim lại nhanh. Tim trẻ 5 tuổi nặng
gấp 4 - 5 lần trẻ sơ sinh. Hệ thống điều khiển hoạt động của tim vẫn tiếp tục
phát triển mạnh, mạch đập có chậm hơn trẻ 1 - 2 tuổi những vẫn còn nhanh
hơn người lớn rất nhiều. Mạch đập của trẻ 3 - 4 tuổi là 100 - 110 lần/phút, trẻ
5 - 6 tuổi là 90 - 100 lần /phút. Huyết áp tăng, số lượng hồng cầu trong máu
tăng, tỉ lệ huyết sắc tố trong máu tăng rõ nét. Sự điều hoà thần kinh tim còn
chưa hoàn thiện nên nhịp co bóp dễ mất ổn định và cơ tim rất nhanh mệt mỏi.
Tuy vậy khi thay đổi hoạt động theo xu hướng giảm dần thì tim trẻ lại phục
hồi rất nhanh.
1.1.2.4. Đặc điểm hệ hô hấp
Đường hô hấp của trẻ em tương đối hẹp, niêm mạc đường hô hấp mềm
mại, mao mạch phong phú dễ phát sinh nhiễm cảm. Khí quản của trẻ em nhỏ,
không khí đưa vào ít, trẻ thở nông nên khả năng trao đổi không khí phổi kém.
Bộ máy hô hấp của trẻ còn nhỏ, không chịu được những vận động quá sức
kéo dài liên tục. Tần số hô hấp của trẻ ở lứa tuổi này thường là 26 - 28 lần/phút.
1.1.2.5. Đặc điểm bộ máy phát âm
16
Phát âm của trẻ phụ thuộc vào sự hoàn thiện của bộ máy phát âm cũng
như khả năng điều khiển hoạt động của bộ máy này. Do đó đặc điểm của bộ
máy phát âm ở trẻ em đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát âm của trẻ.
Các bộ phận chính yếu của bộ máy phát âm gồm:
Là miệng với các hoạt động của môi, răng, lưỡi, hàm dưới, vòm mềm
(hàm ếch mềm, cúa mềm, ngạc mềm). Chúng ta nhận ra giọng nói với ý nghĩa
của nó là nhờ vào hoạt động của các cơ quan trên. Ở trẻ, do sự hoạt động của
lưỡi, môi, hàm dưới, vòm mềm chưa linh động và răng phát triển chưa đủ nên
phát âm chưa chuẩn, chưa rõ ràng. Đối với những trẻ mắc các dị tật bẩm sinh
ở những cơ quan trên sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát âm và càng
khó khăn hơn để có thể phát âm chuẩn, đúng.
1.1.2.5.5. Bộ phận dội âm
Gồm tất cả các khoảng trống trong thân thể, chủ yếu là các khoảng trống
trên đầu, trên mặt, gọi là xoang cộng minh (cộng hưởng). Ngoài khoang họng
và khoang miệng vừa tăng âm vừa dội âm, thì các xoang mũi, xoang vòm
mặt, xoang trán v.v chủ yếu có tính chất dội âm, tức là làm cho âm thanh
được cộng hưởng, âm vang và phát ra ngoài.
1.2. Cơ sở ngôn ngữ học
1.2.1. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ
1.2.1.1. Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo
Nhà tâm lí học người Nga đã nghiên cứu đặc điểm phát triển vốn từ của
trẻ mẫu giáo và ông đã chỉ rõ rằng: Trong vốn từ của trẻ mẫu giáo đầu tiên trẻ
em phản ánh những đặc trưng của sự vật hiện tượng, càng lớn trẻ càng có
nhiều vốn từ thể hiện đặc điểm của sự vật hiện tượng một cách chính xác
bằng từ ngữ. Tư duy trực quan hành động giải thích việc trẻ mẫu giáo bé và
mẫu giáo nhỡ chủ yếu có vốn từ biểu danh. Tư duy trừu tượng và tư duy logic
18
xuất hiện ở lứa tuổi thứ 5, cho phép trẻ em lĩnh hội những khái niệm như gia
súc, gia cầm, đồ dùng gia đình…
Vốn từ ngữ phong phú, chính xác giúp cho trẻ dễ dàng định hướng trong
không gian.
Trẻ có 3 loại vốn từ:
2,5%; quan hệ từ chiếm 1,7%).
Giai đoạn từ 5 - 6 tuổi cũng là giai đoạn hoàn thiện một bước cơ cấu từ
loại trong vốn từ của trẻ. Tỉ lệ danh từ, động từ giảm đi (còn khoảng 50%)
nhường chỗ cho tính từ và các loại từ khác tăng lên. Tính từ đạt tới 15%; quan
hệ từ lên đến 5,7%; còn lại là các loại từ khác.
Khả năng hiểu nghĩa từ của trẻ mẫu giáo:
Đối với trẻ mầm non khi ở tuổi nhà trẻ, trẻ hiểu được nghĩa biểu danh.
Theo FederenKhông (Nga) ở trẻ em có 5 mức độ hiểu nghĩa khái quát của từ
như sau:
- Mức độ zero (mức độ không): Mọi sự vật có tên gọi gắn với nó, trẻ
hiểu được ý nghĩa tên này: mẹ, bố, bàn, ghế…(nghĩa biểu danh).
- Mức độ 1: Ý nghĩa biểu niệm ở mức độ thấp, tên gọi chung của các sự
vật cùng loại: bóng, cốc, búp bê, nhà…
- Mức độ 2: Khái quát hơn: quả (quả cam,quả chuối, quả táo,…), xe (xe
đạp, xe máy, xe ô tô,…), con (con gà, con chó, con mèo,…)
- Mức độ 3: Ở mức độ cao hơn mà trẻ 5 - 6 tuổi nắm được: phương tiện
giao thông: ô tô, tàu thuỷ, xe máy; đồ vật: đồ chơi, đồ nấu bếp, đồ dùng học
tập,…
- Mức độ 4: Khái quát tối đa những khái niệm trừu tượng: số lượng,
chất lượng, hành động…(học ở cấp phổ thông).
Trẻ ở tuổi nhà trẻ hiểu được nghĩa biểu danh (mức độ zero và mức độ 1).
Mức độ 2 và 3 chỉ dành cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn.
20
1.2.1.2. Đặc điểm ngữ pháp của ngôn ngữ trẻ em
Đặc điểm ngữ pháp trong lời nói của trẻ em cũng thay đổi và phát triển
theo từng độ tuổi.
Trẻ từ 1 - 3 tuổi:
- Từ sau 12 tháng tuổi thì nhu cầu giao tiếp của trẻ với thế giới xung
Trẻ đã sử dụng đa dạng các loại câu, tuy nhiên vẫn còn những hạn chế
như: các hình thức câu ghép còn nghèo nàn, trẻ hay mắc lỗi khi có những câu
ghép có cấu trúc phức tạp; trẻ hay mắc lỗi khi gặp những đoạn đối thoại làm
cho nội dung của truyện không được rõ ràng và tính biểu cảm không cao.
Những phương tiện liên kết trong câu chuyện còn ít gặp làm cho chuyện
kể thiếu sự liên kết. Trẻ hay dùng các từ chêm xen như: xong, xong là, thì
là,… một cách tuỳ tiện làm cho câu chuyện thiếu hẳn mạch lạc. Vì vậy giáo
dục ngôn ngữ cho trẻ cần chú ý động viên trẻ nói những câu đơn giản mở
rộng, nói về một hoạt động, trạng thái, dạy trẻ nói các hình thức câu ghép
khác nhau giúp trẻ hiểu đúng quan hệ đẳng lập, quan hệ chính phụ, cách sử
dụng các từ liên kết.
1.2.1.3. Những đặc trưng của lời nói mạch lạc
Lời nói của trẻ mang tính tình huống, chủ yếu diễn đạt một cách vội
vàng. Ngôn ngữ lói nói mạch lạc đầu tiên của trẻ được cấu tạo từ 2 - 3 câu.
Trong lứa tuổi mẫu giáo nhỡ sự phát triển lời nói mạch lạc chịu ảnh hưởng
lớn của việc tích cực hoá vốn từ, lời nói của trẻ trở nên mở rộng hơn, có trật
tự hơn mặc dù cấu trúc còn chưa hoàn thiện. Ở độ tuổi này diễn ra sự phát
triển mạnh mẽ lời nói văn cảnh. Ở trẻ mẫu giáo lớn, lời nói mạch lạc đã đạt
được trình độ khá cao, trẻ sử dụng câu tương đối chính xác, ngắn gọn và khi
cần thiết mở rộng để trả lời câu hỏi. Kỹ năng nhận xét lời nói và câu trả lời
của các bạn, bổ sung và sửa chữa các câu trả lời đó phát triển. 6 tuổi trẻ có thể
22
đặt các câu miêu tả hay theo một chủ đề nào đó cho trước một cách tương đối
tuần tự và rõ ràng nhưng trẻ vẫn cần đến mẫu lời nói của cô giáo. Kỹ năng
truyền đạt trong lời kể, thái độ xúc cảm của mình với các sự vật, hiện tượng
trong câu chuyện của trẻ vẫn chưa phát triển đầy đủ.
1.2.2. Đặc điểm của âm tiết tiếng Việt
Là tính phân tiết cao, mỗi âm tiết đứng độc lập. Mỗi âm tiết bao giờ cũng
23
- Thanh nặng ( . )
- Thanh hỏi (
)
- Thanh ngã ( ~ )
Thành phần ở vị trí 1 là âm đầu do các phụ âm đảm nhiệm
Thành phần ở vị trí 2 là âm đệm / u / có hai con chữ thể hiện là o và u,
chẳng hạn: Toan, Tuân
Thành phần ở vị trí 3 là âm chính do các nguyên âm đảm nhiệm. Âm
chính là hạt nhân của âm tiết.
Thành phần ở vị trí 4 là âm cuối do 6 phụ âm là /m/, /n/, /
/, /p/, /t/, /k/ và
2 bán âm là / i /, / u / đảm nhiệm.
Các thành phần ở vị trí 2, 3, 4 ghép lại với nhau thành một bộ phận gọi là
phần vần. Âm bao giờ cũng phải có âm chính và thanh điệu, vị trí còn lại có
thể có hoặc không.
- Âm tiết của tiếng Việt có cấu trúc chia làm hai bậc:
Âm tiết Bậc 1: Thanh điệu Âm đầu Phần vần
Bậc 2: Âm tiết
Phần vần
Thanh điệu Âm đầu
chia phụ âm thành:
- Phụ âm tắc: Hơi bị cản lại sau thoát ra đường miệng vào mũi: b, d, t, s, c, k,
m, r, ng.
- Phụ âm sát: Hơi đi qua kẽ hở miệng: p, v, s, z, l, x, y, h.
- Phụ âm vang: Hơi thoát ra đầu lưỡi và bên lưỡi: m, n, nh.
- Phụ âm ồn: Hơi thoát ra đằng miệng có tiếng ồn: b, d, t, c, k, p, x, v, z, y, h.
25
- Phụ âm hữu thanh, vô thanh trong các âm ồn: Căn cứ vào chỗ dây thanh có
rung hay không rung người ta chia ra:
+ Phụ âm hữu thanh: Dây thanh rung (d, v, y)
+ Phụ âm vô thanh: Dây thanh không rung (t, k, c, b, s, x, h)
- Về vị trí cấu âm ta phân phụ âm thành:
+ Phụ âm môi: p, b, v, m
+ Phụ âm lưỡi: d, t, s, z, l, n
+ Phụ âm hầu: h
Trong các âm lưỡi, sự đối lập nhau giữa đầu lưỡi hẹp: r, t, s, l, n; đầu lưỡi
quặt: đ.
Phần vần là do thành phần của âm đệm, âm chính, âm cuối ghép với nhau
Ví dụ: âm tiết Toan: o là âm đệm; a là âm chính; n là âm cuối; oan là phần vần.
1.3. Một số lỗi phát âm của trẻ
Âm tiết của ngôn ngữ là đơn vị âm thanh nhỏ nhất trong lời nói không
thể phân chia được nữa. Lúc đầu trẻ hình thành thính giác, âm thanh tức là sự
phân biệt các âm của ngôn ngữ còn phát âm chúng sẽ học sau. Sự phát âm
đúng có liên quan chặt chẽ với sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan phát
âm của trẻ.
Phát âm đúng là phát âm chính xác những thành phần âm tiết, không
ngọng, không lắp, biết điều chỉnh âm lượng thể hiện đúng ngữ điệu trong khi
nói, biết thể hiện tình cảm qua nét mặt, điệu bộ, nắm được những đặc điểm