KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP LUYỆN VIẾT CHỮ NGHIÊNG, NÉT THANH NÉT ĐẬM CHO HỌC SINH LỚP 3 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÔNG HƯNG 1 LỤC NAM - BẮC GIANG - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC PHẠM THỊ VÂN

ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP LUYỆN VIẾT CHỮ NGHIÊNG,
NÉT THANH NÉT ĐẬM CHO HỌC SINH LỚP 3
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÔNG HƯNG 1
LỤC NAM - BẮC GIANG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
kiện giúp đỡ em trong quá trình tìm hiểu và khảo sát thực tế.
Qua đây em cũng gửi lời cảm ơn tới tập thể lớp K50 Đại học giáo dục
Tiểu học, cũng như gia đình, bạn bè những người luôn quan tâm, động viên và
giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2013
Sinh viên thực hiện

Phạm Thị Vân DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT CỦA ĐỀ TÀI

Từ viết tắt Dịch là
BGD Bộ Giáo dục
CĐSP Cao đẳng Sư phạm
ĐT Đào tạo
GV Giáo viên
HS Học sinh
NXB Nhà xuất bản
NXB GD Nhà xuất bản Giáo dục
SGK Sách giáo khoa
SL Số lượng

HỌC SINH TIỂU HỌC 5
1.1. Cơ sở lý luận 5
1.1.1. Cơ sở tâm sinh lý của học sinh tiểu học 5
1.1.2. Cơ sở ngôn ngữ 7
1.1.3. Vị trí của dạy học Tập viết 7
1.1.5. Chương trình dạy Tập viết và quy định hiện hành về chữ viết ở tiểu học 9
1.2. Cơ sở thực tiễn 12
1.2.1. Khảo sát thực trạng luyện viết chữ cho học sinh 12
1.2.2. Kết quả khảo sát 13
1.2.2.1. Thực trạng học phân môn Tập viết, các kĩ năng viết và kiểu chữ viết của
học sinh ở Trường Tiểu học Đông Hưng 1 – Lục Nam – Bắc Giang 13
1.2.2.2. Thực trạng dạy phân môn Tập viết cho học sinh ở Trường Tiểu học
Đông Hưng 1 – Lục Nam – Bắc Giang 16
Tiểu kết 19
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP LUYỆN VIẾT CHỮ NGHIÊNG NÉT THANH,
NÉT ĐẬM CHO HỌC SINH LỚP 3 20
2.1. Hướng dẫn học sinh tư thế ngồi, cách cầm bút, cách để vở cho phù hợp 20
2.2. Hướng dẫn học sinh luyện viết các nét cơ bản, nhóm chữ đồng dạng 21
2.3. Hướng dẫn học sinh kỹ năng liên kết các nét chữ khi viết 24
Kiểu 2: liên kết phụ âm đầu với vần 26
2.4. Hướng dẫn học sinh luyện viết dấu phụ và dấu thanh 29
2.5. Hướng dẫn học sinh luyện viết tạo nét thanh nét đậm 32
2.6. Cách chọn bút, vở viết thích hợp cho quá trình luyện chữ đẹp 33
Tiểu kết 35
CHƯƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƯ PHẠM 36
3.1. Mục đích thể nghiệm 36
3.2. Đối tượng, thời gian và địa bàn thể nghiệm 36
3.2.1. Đối tượng thể nghiệm 36
3.2.2. Thời gian và địa bàn thể nghiệm 36
3.3. Nội dung và phương pháp thể nghiệm 36

làm cho nhiều GV còn bỡ ngỡ, lúng túng. Hơn nữa, nhiều GV chưa quan tâm
đúng mức đến việc tìm và vận dụng những biện pháp tích cực để nâng cao hiệu
quả dạy học nói chung và dạy học Tập viết nói riêng. Một thực tế vẫn còn tồn tại
đó là chất lượng chữ viết của HS chưa được tốt. Nhiều HS có khả năng viết
đúng tốc độ viết theo yêu cầu của mỗi khối lớp nhưng chữ viết lại chưa đẹp, vở
viết còn chưa biết giữ gìn, chưa viết được nhiều kiểu chữ… Đây là vấn đề đặt ra
đối với nhà trường cũng như các cấp quản lý giáo dục cần phải quan tâm hơn
nữa, sớm đưa ra các biện pháp khắc phục để GV và HS đạt được kết quả cao
hơn trong dạy học viết chữ.
Trên đây là những lí do để tôi lựa chọn và thực hiện đề tài: “Đề xuất biện
pháp luyện viết chữ nghiêng, nét thanh nét đậm cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu
học Đông Hưng 1 – Lục Nam – Bắc Giang” làm đối tượng nghiên cứu nhằm
góp phần nâng cao chất lượng dạy học tập viết trong nhà trường tiểu học. Hy
vọng rằng đây sẽ là tài liệu giúp các bạn giáo sinh sư phạm tiểu học có thể tham
khảo trong quá trình học tập và giảng dạy sau này.
2
2. Lịch sử vấn đề
Tập viết là một phân môn có nhiệm vụ quan trọng là hình thành năng lực tập
viết cho HS. Học tốt phân môn này sẽ là cơ sở để HS học tốt môn Tiếng Việt và
các môn học khác trong trường tiểu học. Vì vậy, việc vận dụng các phương
pháp, biện pháp dạy học tập viết sao cho có hiệu quả là vấn đề mà các nhà
nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề chữ
viết và dạy chữ viết, cụ thể là:
Công trình nghiên cứu: “Chữ viết và dạy chữ viết ở Tiểu học” của tác giả Lê A,
1982, nhà xuất bản (NXB), Đại học sư phạm (ĐHSP), tác giả đã khẳng định về vị trí,
tính chất, nhiệm vụ của phân môn Tập viết ở tiểu học, cơ sở khoa học của việc dạy
học tập viết, chương trình và sách giáo khoa dạy tập viết.

sách dự án phát triển GV Tiểu học. Cùng với các môn học khác, cuốn sách đã
cung cấp các mảng về nội dung, mục tiêu cụ thể cho các phân môn trong dạy
học Tiếng Việt, phân môn Tập viết cũng được triển khai về các mặt kiến thức, kĩ
năng và quy trình soạn giáo án để dạy học một tiết tập viết.
Những công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã đề cập tới vấn đề tiếng Việt
trên các phương diện: Vị trí, nhiệm vụ, nội dung chương trình, phương pháp dạy
học nói chung, các yêu cầu về chuẩn kiến thức kỹ năng, một số biện pháp dạy học
tập viết. Đó là những nguồn tư liệu quý báu và làm cơ sở lí luận để tác giả thực
hiện khóa luận.
3. Mục đích nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu dựa trên những lí luận chung về dạy học tập viết, đồng
thời căn cứ vào đặc điểm tiếp nhận của HS tiểu học, nội dung chương trình, yêu
cầu về chuẩn kiến thức kỹ năng nhằm tìm hiểu và đề xuất biện pháp luyện viết
chữ nghiêng, nét thanh nét đậm cho HS lớp 3 Trường Tiểu học Đông Hưng 1 –
Lục Nam – Bắc Giang.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận gồm một số nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề luyện viết chữ cho HS
Trường Tiểu học Đông Hưng 1, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Đề xuất một số biện pháp luyện viết kiểu chữ nghiêng, nét thanh nét đậm
cho HS Trường Tiểu học Đông Hưng 1, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Thiết kế một số giáo án và thể nghiệm sư phạm.
- Tổng hợp, so sánh, đối chiếu kết quả bước đầu thể nghiệm và rút ra tính khả
thi của vấn đề nghiên cứu.
5. Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu một số biện pháp luyện viết chữ nghiêng, nét
thanh nét đậm cho HS Trường Tiểu học Đông Hưng 1, huyện Lục Nam, tỉnh
Bắc Giang.
5
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC LUYỆN
VIẾT CHỮ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Cơ sở tâm sinh lý của học sinh tiểu học
Phương pháp dạy học Tiếng Việt có quan hệ chặt chẽ với Tâm lý học, đặc
biệt là với Tâm lý học lứa tuổi. Nếu không có kiến thức về quá trình tâm lí ở
người nói chung và ở HS lứa tuổi tiểu học nói riêng thì không thể giảng dạy tốt
và phát triển ngôn ngữ cho HS. Sở dĩ như vậy là vì: trong quá trình dạy học ở
tiểu học, HS ở lứa tuổi này (thường từ 6 tuổi đến 14 tuổi) được coi là đối tượng
trung tâm của hoạt động học, tự giác, tích cực và chủ động tiếp thu tri thức
thông qua những tác động của GV và nhận thức của bản thân, biến những tri
thức thu nhận được thành hệ thống giá trị chuẩn mực mang đặc điểm và bản
chất của cá nhân. HS vừa là đối tượng của hoạt động dạy, vừa là chủ thể của quá
trình nhận thức, chủ thể tự giáo dục có tính tự giác, tích cực và chủ động tổ chức
quá trình học tập của bản thân. Trong bất kỳ điều kiện và hoàn cảnh nào thì hiệu
quả của quá trình dạy học cao hay thấp là do tự nhận thức của cá nhân chủ thể
trực tiếp quyết định trên cơ sở sự tác động tích cực của các yếu tố khách quan.
GV có trình độ chuyên môn tốt là 1 yếu tố quan trọng hàng đầu, nhưng chưa đủ
để trực tiếp quyết định chất lượng hiệu quả của việc dạy học, mà cần phải đặc
biệt quan tâm đến đặc điểm tâm sinh lý của HS lứa tuổi này.
Giai đoạn các em đến trường tiểu học, đây là bước ngoặt quan trọng trong

hiện tượng cụ thể, sử dụng có hiệu quả đồ dùng dạy học và tài liệu học tập.
Ngôn ngữ chính xác, giàu cảm xúc, khớp với động tác, lời nói, cử chỉ điệu bộ…
của người GV cũng được xem như là một phương tiện trực quan khi dạy học nói
chung và dạy học Tiếng Việt nói riêng, giúp HS dễ dàng tiếp nhận kiến thức và
nâng cao hiệu quả học tập.
Ở lứa tuổi này đặc điểm về sinh lý của HS, GV cũng cần chú ý quan tâm:
khi này thì toàn bộ độ cong của xương cột sống (ở cổ, ở ngực, ở thắt lưng) đang
được hình thành. Do đó, kích thước bàn ghế, tư thế ngồi tập viết ảnh hưởng lớn
đến sự phát triển của cột sống. HS ngồi bàn quá cao hoặc quá thấp, ngồi viết
không đúng tư thế sẽ làm cong vẹo cột sống, để lại di hại cả đời. Bộ xương đang
ở giai đoạn cốt hóa. Các đốt ngón tay, các đốt cổ tay đến 11 tuổi và 12 tuổi mới
kết thúc việc cốt hóa. Đó là lý do giải thích vì sao HS gặp nhiều khó khăn khi
nắm kỹ thuật viết chữ, vì đó là công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên trì và khéo léo.
Bàn tay chóng mỏi nên HS không thể viết nhanh và viết trong một thời gian quá
dài. Các cơ bắp và dây chằng phát triển nhanh chóng. Những cơ lớn sớm phát
triển hơn các cơ nhỏ. Do đó, HS dễ thực hiện những cử động tương đối mạnh
nhưng lại khó thực hiện những cử động nhỏ, tỉ mỉ như việc viết các con chữ.
Trên đây là một số đặc điểm về tâm sinh lý của HS tiểu học mà trong quá
trình dạy học nói chung và trong thực hiện luyện viết chữ nói riêng GV cần phải
nắm được. Để dạy HS viết chữ hiệu quả, GV không những cần quan tâm đến tư
thế viết mà còn phải tạo được hứng thú luyện viết chữ của HS.
7
1.1.2. Cơ sở ngôn ngữ
Đặc điểm cấu tạo của chữ viết tiếng Việt là cơ sở quan trọng trong xây dựng
phương pháp dạy học tập viết. Chữ viết tiếng Việt được phân biệt theo hai nét cơ
bản là nét thẳng và nét cong. Nét thẳng có nét thẳng đứng, thẳng xiên và nét
ngang. Nét cong có dạng khép kín và dạng hở. Phối hợp hai nét cơ bản trên

không những có quan hệ mật thiết tới chất lượng các môn học khác mà còn góp 8
phần rèn luyện một trong số các kỹ năng hàng đầu của việc học tiếng Việt trong
nhà trường - kỹ năng viết chữ. Nếu viết đúng chữ mẫu, rõ ràng, tốc độ nhanh thì
HS có điều kiện ghi chép bài tốt, nhờ vậy kết quả học tập sẽ cao hơn. Viết xấu,
tốc độ chậm sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập.
Nếu như tập đọc giúp cho HS rèn kỹ năng đọc thông, thì tập viết sẽ giúp
cho việc rèn luyện năng lực viết thạo. Để làm chủ tiếng nói về mặt văn tự HS
phải rèn luyện cho mình năng lực đọc thông, viết thạo văn tự đó. Hai năng lực
này có quan hệ mật thiết với nhau. HS học tiếng Việt phải đọc thông thạo chữ
Quốc ngữ. Đây chính là điểm khác biệt giữa người được học và người không
được học tiếng Việt.
Tập viết là một phân môn có tính chất thực hành. Trong chương trình
không có tiết lý thuyết, chỉ có các tiết rèn luyện kỹ năng. Tính chất thực hành có
mục đích của việc dạy học Tập viết cũng góp phần khẳng định tầm quan trọng
của phân môn này ở trường Tiểu học.
Ngoài ra, tập viết còn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho HS
những phẩm chất đạo đức tốt như tính cẩn thận, tính kỷ luật và thị hiếu thẩm mĩ.
1.1.4. Dạy học Tập viết là dạy các kỹ năng
Kỹ năng tập viết mà người học cần tập luyện đó là các kỹ năng viết các nét
cơ bản, kỹ năng viết dấu thanh, dấu phụ, viết chữ thường, chữ hoa và chữ số, kỹ
năng viết liền nét… Ví dụ: Để viết được chữ a, HS phải thực hiện thao tác đầu
tiên là viết nét cong kín, thao tác thứ hai là viết nét móc ngược phải liền kề với
nét cong kín đó. Nhưng để thực hiện tốt các kỹ năng này phải kể đến một nhóm
các kỹ năng cơ bản được gọi là kỹ năng chuẩn bị tập viết. Bao gồm kỹ năng
ngồi viết, cách cầm bút, đặt vở, kỹ năng đưa bút tạo nét thanh, nét đậm… Hơn
nữa, yếu tố tâm lý tạo không gian môi trường cũng là một tác động không nhỏ
đến việc luyện kỹ năng viết các con chữ.

với các vần được ôn luyện trong bài đọc).
- Đối với lớp 2: viết đúng mẫu chữ cái viết hoa, thể hiện rõ đặc điểm thống
nhất ở các nét cơ bản trong từng nhóm chữ viết hoa. Kỹ thuật viết chữ liền nét
giữa các chữ cái đứng sau chữ viết hoa không có nét móc, tập chép viết khoảng
50 chữ trong 15 phút không mắc quá 5 lỗi chính tả.
Nội dung và yêu cầu tập viết luôn bám sát nội dung bài học SGK Tiếng Việt
2 (viết chữ hoa – viết ứng dụng). Theo đó, trong cả năm học, HS sẽ được viết
toàn bộ bảng chữ cái viết hoa do BGD và ĐT mới ban hành (gồm 29 chữ cái
viết hoa theo kiểu 1 và 5 chữ cái viết hoa theo kiểu 2), cụ thể:
26 chữ cái viết hoa (theo kiểu 1 và 2) được dạy trong 26 tuần (mỗi tuần 1
tiết, mỗi tiết dạy 1 chữ cái viết hoa theo thứ tự bảng chữ cái tiếng Việt.
8 chữ cái viết hoa (kiểu 1) được dạy trong 4 tuần (mỗi tuần 1 tiết, mỗi tiết
dạy hai chữ cái viết hoa có dạng gần giống nhau A- Ă, E- Ê, O- Ô, U- Ư).
Nội dung mỗi bài tập viết được thiết kế trên hai trang vở tập viết, có chữ
mẫu trên dòng kẻ li (khoảng cách giữa hai dòng kẻ li trong vở là 0,25 cm).
Trên trang lẻ HS tập viết 1 dòng chữ cái viết hoa cỡ vừa, 2 dòng chữ cái viết 10
hoa cỡ nhỏ, 1 dòng viết ứng dụng (chữ ghi tiếng có chữ cái viết hoa) cỡ nhỏ,
ba dòng viết ứng dụng (cụm từ có chữ viết hoa) cỡ nhỏ và tập viết tự chọn
kiểu chữ. Trên trang chẵn HS được luyện viết tương tự như trang lẻ và đây là
phần luyện viết ở nhà.
- Đối với lớp 3: viết đúng và hình thành kỹ năng viết nhanh đồng thời biết trình
bày bài viết, bài làm sạch đẹp, thực hiện nề nếp giữ vở sạch viết chữ đẹp, bài tập viết
có độ dài khoảng 70 chữ, trong 15 phút, không mắc quá 5 lỗi chính tả.
Luyện tập củng cố kỹ năng viết các chữ thường và chữ hoa theo cỡ nhỏ với
mức yêu cầu được nâng cao đúng và nhanh.
Thực hành viết ứng dụng (câu, đoạn ngắn) nhằm bước đầu hoàn thiện kỹ năng
viết chữ ở giai đoạn thứ nhất (lớp 1, 2, 3) của chương trình tiểu học. Mỗi trang lẻ

Các chữ cái viết thường, dấu thanh, chữ cái viết hoa và các chữ số trong
bảng mẫu chữ kèm theo Quyết định nói trên có đặc điểm như sau:
Mẫu chữ cái viết thường:
Các chữ cái b, g, h, l, k, y được viết với chiều cao 2,5 đơn vị. Tức bằng hai
lần rưỡi chiều cao các chữ cái ghi nguyên âm.
Chữ cái t được viết với chiều cao 1,5 đơn vị.
Các chữ cái r, s được viết với chiều cao 1,25 đơn vị.
Chữ cái d, đ, p, q được viết với chiều cao 2 đơn vị.
Các chữ cái còn lại o, ô, ơ, a, ă, â, e, ê, i, u, ư, n, m, v, x viết với chiều cao
1 đơn vị.
Các dấu thanh được viết trong phạm vi 1 ô vuông có cạnh là 0,5 đơn vị
Mẫu chữ cái viết hoa: chiều cao của các chữ cái viết hoa là 2,5 đơn vị, riêng
hai chữ cái viết hoa Y, G được viết với chiều cao 4 đơn vị.
Mẫu chữ số: chiều cao của các chữ số là 2 đơn vị.
Như vậy, tính đến năm học 2012 – 2013 chúng ta đã thực hiện được tròn 10
năm theo Quyết định số 31/2002/ QĐ - BGD và ĐT về “mẫu chữ trong trường
Tiểu học”. Trước đó, chúng ta đã có không ít những lần thay đổi kiểu chữ để đạt
được các yêu cầu như: dễ đọc, dễ viết, đảm bảo phân biệt giữa chữ này với chữ
khác, đảm bảo tính thẩm mỹ, tạo điều kiện cho việc viết liền mạch làm tăng tốc
độ khi viết. Để đạt được những yêu cầu đó có thể kể đến những lần thay đổi
kiểu chữ như: “Chữ viết cải cách giáo dục” (chưa chỉnh lý) với chủ trương bỏ
các nét dư và do đó đã vi phạm nguyên tắc phân biệt ảnh hưởng nghiêm trọng
đến tính thẩm mỹ và ảnh hưởng đến tốc độ viết. Hay “Chữ viết chỉnh lý” đã xóa
bỏ quy định việc chủ trương xóa bỏ các nét dư, điều đó đã làm cho chữ viết
được đẹp hơn, tốc độ viết tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên, chữ viết này vẫn hơi lùn
nên làm ảnh hưởng đến tính thẩm mỹ.
Đối với chữ viết hiện hành mà chúng ta đang sử dụng trong những năm gần
đây đã có thêm những điểm mới đáng kể. Bộ chữ hiện hành về cơ bản giống
bộ “Chữ viết chỉnh lý” nhưng một số chữ có sự điều chỉnh về chiều cao như:
chữ l (cũ là 2 đơn vị), và được đổi mới cao 2,5 đơn vị… Điều đó làm tăng

- Thời gian: Từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013
- Địa bàn khảo sát: Trường Tiểu học Đông Hưng 1, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc
Giang.
♦ Cách thức tiến hành
Qua việc điều tra bằng quan sát thực tế, bằng phiếu, cùng với việc trò
chuyện, phỏng vấn dành cho cả GV và HS, tác giả đã thu được những kết quả
khả quan nhất. 13
1.2.2. Kết quả khảo sát
1.2.2.1. Thực trạng học phân môn Tập viết, các kĩ năng viết và kiểu chữ viết của
học sinh ở Trường Tiểu học Đông Hưng 1 – Lục Nam – Bắc Giang
Qua quá trình dự giờ, thu vở chấm bài, khảo sát bằng phiếu điều tra về
hứng thú học tập phân môn Tập viết của HS lớp 3 Trường Tiểu học Đông Hưng
1, tôi nhận thấy một số nội dung như sau:
♦ Về hứng thú học tập của học sinh
Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý
nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong
quá trình hoạt động.
Hứng thú học tập là điều mà HS đạt đến đầu tiên hay cuối cùng của một
môn học. Có người cho rằng HS chưa biết gì về môn học thì lấy gì mà hứng thú.
Có một điều chắc chắn, hứng thú là điều mà bất kì một HS nào khi muốn học tốt
cũng cần đạt được ở một số môn học. Do vậy, tạo hứng thú trong luyện viết chữ
là điều đầu tiên mà GV cần đem đến cho HS,trước khi dẫn dắt HS nắn nót từng
con chữ. Có như thế HS mới tích cực chủ động và yêu thích việc luyện viết,
đúng như tinh thần của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
Hứng thú học tập của môn học được hình thành thông qua không khí học
tập của HS trong giờ học môn đó. Bởi một không khí học tập được hứng khởi sẽ
kích thích sự say mê giúp cho HS học tập tốt hơn. Khi HS cảm thấy yêu thích

của phụ huynh được nâng lên như việc phụ huynh nắm được các yêu cầu về
chuẩn các kỹ năng khi viết chữ để có thể tận tình kèm cặp, hướng dẫn các em
khi luyện viết ở nhà thì kết quả của việc luyện viết chữ chắc chắn sẽ theo chiều
hướng tốt hơn.
Tập viết cũng như các phân môn khác của môn Tiếng Việt các môn học
khác, để học tốt, có kĩ năng viết tốt thì ngoài giờ học trên lớp, HS phải thường
xuyên luyện viết ở nhà. Để điều tra việc luyện viết ở nhà của HS lớp 3, tôi đã
đưa ra câu hỏi: “Ngoài giờ Tập viết, luyện viết thêm trên lớp, em có thường
xuyên luyện viết ở nhà không?” Và kết quả thu được là phần lớn các em đã có ý
thức luyện viết ở nhà, biểu hiện bằng con số cụ thể là 15/30 HS chiếm 50% HS
lớp 3A1 và 17/30 HS chiếm 56,7% HS lớp 3A2 trả lời là thường xuyên luyện
viết ở nhà. Nhưng bên cạnh đó, ở cả hai lớp 3A1 và 3A2 vẫn tồn tại ở mỗi lớp là
10% tổng số HS không bao giờ luyện viết chữ ở nhà. Tồn tại thực tế trên là do
nhiều HS còn thiếu đi sự quan tâm sát sao của phụ huynh đối với việc luyện viết
ở nhà. Con số HS không bao giờ luyện viết thêm ở nhà tuy không là một con số
lớn nhưng rất cần phải có những biện pháp thiết thực để xóa bỏ thực trạng này.
Mỗi một kiểu chữ viết lại có những nét đẹp riêng, biết viết thêm nhiều loại
kiểu chữ là thể hiện sự linh hoạt cũng như vốn hiểu biết sâu rộng của người viết
chữ. Kiểu chữ nghiêng, nét thanh nét đậm là một trong bốn kiểu chữ viết mà HS
được học trong phân môn Tập viết (bên cạnh kiểu chữ viết chung trong chương
trình là kiểu chữ đứng nét đều). Để tìm hiểu hứng thú luyện viết thêm kiểu chữ
này, tôi có đưa ra câu hỏi: “Em có thích luyện viết thêm kiểu chữ viết nghiêng,
nét thanh nét đậm không?” Kết quả thu được lại là một con số gây ấn tượng đó
là có đến gần 60% HS của cả hai lớp đều đưa ra đáp án là “Rất thích”. Đây là 15
một số liệu rất đáng mừng vì để đạt đến mục đích nào đó thì niềm yêu thích đến
được cái đích đó là hết sức quan trọng, là khởi đầu đầy triển vọng.
♦ Về các kĩ năng viết chữ và kiểu chữ viết

HS đa phần vẫn quen viết kiểu chữ này. Lớp 3A1 có 10/30 HS (chiếm 33,3%),
lớp 3A2 có đến 9/30 HS (chiếm 30%) HS của cả lớp. Việc HS có thể viết tốt 16
kiểu chữ này sẽ là điều kiện thuận lợi để GV hướng dẫn các em luyện viết thêm
kiểu chữ đứng, nét thanh nét đậm.
Việc luyện viết được nhiều kiểu chữ khác nhau đã phần nào thể hiện được
tinh thần ham học tập rèn luyện của HS, thể hiện được sự yêu thích đối với chữ
viết tiếng Việt. Để viết được một kiểu chữ viết đúng và đẹp đã là rất khó và để
viết được nhiều hơn một kiểu chữ đúng và đẹp đối với HS tiểu học lại là một
điều khó hơn rất nhiều. Tuy qua việc điều tra tác giả chỉ thu nhận được kết qủa
rất khiêm tốn từ phía HS về nội dung này nhưng đây cũng là một dấu hiệu đáng
quý. Lớp 3A1 đã có 3/30 HS (chiếm 10%) viết được kiểu chữ đứng, nét thanh
nét đậm, 2/30 HS (chiếm 6,7%) có thể viết được kiểu chữ nghiêng, nét thanh
nét đậm; lớp 3A2 cũng có 3/30 HS (chiếm 10%) viết được kiểu chữ đứng, nét
thanh nét đậm, có 2/30 HS (chiếm 6,7%) viết được kiểu chữ nghiêng, nét thanh
nét đậm. Điều đó cho thấy đã có những HS của cả hai lớp 3A1 và 3A2 thực sự
yêu thích việc luyện viết chữ đẹp.
Từ việc phân tích trên, tác giả nhận thấy rằng cần thực sự quan tâm tới việc
luyện viết chữ theo từng kiểu chữ ở thói quen đưa bút của HS. Để các em quen
viết kiểu chữ đứng có thể viết đúng, đẹp hơn và HS biết viết thêm kiểu chữ này
có nét thanh nét đậm. Ở kiểu chữ nghiêng cũng vậy, GV cần biết hướng dẫn
những HS này biết viết đúng và đẹp hơn (đúng kiểu chữ nghiêng 15
0
mẫu chữ
được quy định hiện hành) và nhất là có thể luyện cho HS viết kiểu chữ này có
nét thanh nét đậm. Đối với những HS viết tốt kiểu chữ đứng có thể hướng dẫn
thêm để HS viết được cả kiểu chữ nghiêng.
Kết quả thu nhận lại về kiểu chữ viết của HS ở trên cho thấy mỗi HS lại có

khẳng định rằng luyện viết chữ góp phần quan trọng vào việc học các phân môn
khác. Vì vậy, GV không thể lơ là hay xem nhẹ trong quá trình dạy học.
Đối với HS, việc luyện viết nhiều khi không dễ dàng, bên cạnh những thuận
lợi các em vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Điều quan trọng là GV phải thấy được
những khó khăn để có biện pháp khắc phục. Để điều tra về những bất cập đó khi
dạy luyện viết chữ, tác giả đã đưa ra câu hỏi “Khi dạy Tập viết, thầy (cô) thấy
HS thường gặp những khó khăn nào?” Kết quả thu được như sau: 33,3% GV
trong trường được hỏi đã trả lời là khó khăn khi giới thiệu cách viết, 26,7% GV
thì cho là khi hướng dẫn HS viết liền nét. Đây là khó khăn lớn vì yêu cầu viết
liền nét hay tiếp thu cách viết một từ ứng dụng đối với HS các lớp đầu Tiểu học
là một vấn đề không đơn giản. Bên cạnh đó 40% GV lại cho rằng thường gặp
khó khăn khi uốn nắn tư thế ngồi cho HS, bởi khi GV nhắc thì HS mới ngồi
đúng tư thế. GV trong trường đã giải thích rằng HS còn nhỏ nên nhanh quên,
chưa ý thức được rõ tác hại khi ngồi viết sai tư thế, ngồi xiêu vẹo sẽ ảnh hưởng
đến cột sống sau này. Nên vẫn còn tình trạng rất nhiều HS ngồi viết sai tư thế,
mà theo quan sát của tác giả thì có một số lượng không nhỏ. Đây là một thực
trạng cần phải khắc phục ngay để tránh những hậu quả đáng tiếc sau này.
Đối với HS tiểu học, tư duy còn thiên về trực quan cụ thể, những gì nhìn
thấy, nghe thấy sẽ giúp HS nhớ tốt hơn và hứng thú hơn. Bởi vậy, đồ dùng trực
quan là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong giờ học. Để biết các thầy (cô) đã
sử dụng đồ dùng trực quan nào trong giờ luyện viết chữ, tôi có đưa ra câu hỏi:
“Khi luyện viết chữ, thầy cô thường sử dụng những đồ dùng trực quan nào?” và 18
thu được kết quả sau: 100% GV thường xuyên sử dụng bảng gài và 100% GV sử
dụng tranh mẫu chữ. Bởi đây là đồ dùng chủ yếu mà bất kì giờ luyện viết chữ
nào GV cũng cần khai thác. Bảng phụ dùng trong giờ luyện viết chữ sử dụng để
GV viết câu ứng dụng. Mục đích của việc sử dụng bảng phụ là giúp HS dễ quan
sát hơn, lớp học tập trung hơn và góp phần tích cực vào việc luyện viết cho HS.

không thuận lợi”. 19
Khi chúng tôi hỏi về khả năng viết của những HS người dân tộc thiểu số, cô
Nguyễn Thị Xuân, GV chủ nhiệm lớp 3A2 cho rằng: “Nhìn chung học sinh
người dân tộc thiểu số trong trường cũng có trình độ và khả năng viết tương
đương các học sinh người Kinh, chỉ có một số học sinh sống xa gia đình, ít được
sự quan tâm chỉ bảo nên khả năng viết còn yếu hơn. Vì vậy, chúng tôi phải luyện
cho các em nhiều hơn”.
Khi tìm được khó khăn, tiếp theo cần phải đề cập đến đó chính là đề xuất các
biện pháp khắc phục. Khi được hỏi về vấn đề này, bằng kinh nghiệm thực tế
giảng dạy nhiều năm các thầy cô đã đóng góp một số biện pháp đó là việc luyện
viết chữ cho HS luôn cần đảm bảo về điều kiện ánh sáng, phòng học, bàn ghế
của HS.
Nhìn chung, trong quá trình điều tra thực trạng luyện viết chữ cho HS lớp 3
Trường Tiểu học Đông Hưng 1, tôi nhận thấy các thầy (cô) đều hiểu rõ tầm quan
trọng của việc này. Song nhiều GV lại chưa thực sự coi trọng việc luyện viết
bằng việc luyện các kỹ năng khác như: kỹ năng đọc, làm tính toán… Vì thế chưa
thực sự đầu tư thời gian tâm huyết khơi gợi hứng thú cho HS trong việc luyện
viết chữ.

Tiểu kết
Tập viết là phân môn quan trọng nằm trong chương trình dạy học môn Tiếng
Việt ở Tiểu học. Phân môn Tập viết ở tiểu học đã thực hiện việc hình thành kỹ
năng viết chữ cho HS, đồng thời cung cấp cho HS một số kiến thức cơ bản về
chữ viết và kỹ thuật viết chữ. Qua việc luyện viết, GV có điều kiện định hướng
việc cho HS luyện viết theo các kiểu chữ khác nhau như luyện viết chữ nghiêng,
nét thanh nét đậm. Bằng quá trình thực tiễn, tác giả đã tiến hành tìm hiểu thực
trạng luyện viết và nhận thấy rằng: luyện viết nói chung và sự hiểu biết của GV


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status