phan tich hoat dong tin dung ngan hang Sacombank Can Tho - Pdf 26

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Chúng ta đã bước sang một thiên niên kỷ mới với rất nhiều cơ hội và thách thức,
trên con đường chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự
quản lí vĩ mô của Nhà nước thì nhu cầu về vốn để phục vụ cho quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá là vô cùng quan trọng và hết sức cần thiết. Ngành ngân
hàng giữ vai trò khá quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu sản xuất kinh doanh, dịch vụ và xây dựng cơ sở hạ
tầng. Tín dụng ra đời và phát triển gắn liền với quá trình phát triển không ngừng
của nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ. Một nền kinh tế năng động phát triển là một nền
kinh tế có sự phát triển mạnh mẽ của các hình thức tín dụng. Xã hội càng phát
triển thì các hình thức tín dụng càng phong phú và đa dạng. Tín dụng ngân hàng là
một loại hình tín dụng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của một nền kinh tế phát triển. Sự
phát triển của một nền kinh tế là sự tăng mạnh về khối lượng và chất lượng hàng
hoá cùng với sự chu chuyển lượng hàng hoá đó trong nền kinh tế. Hàng hoá và
tiền tệ tác động qua lại làm cho quá trình tái sản xuất xã hội diễn ra liên tục thúc
đẩy kinh tế đi lên. Sự ra đời của tín dụng ngân hàng là một bước đột phá lớn đối
với mọi nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng khắc phục những yếu kém của các hình
thức tín dụng trước đó đồng thời tín dụng ngân hàng huy động tối đa nguồn vốn xã
hội thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Bên cạnh đó tín dụng ngân hàng còn giải quyết
những ách tắc trong thanh toán của hệ thống kinh tế
Để đạt được điều này thì phải có một tổ chức có khả năng đứng ra thực hiện chức
năng tiếp nhận và phân phối các nguồn vốn trong xã hội đó là các Ngân hàng.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngành Ngân hàng đã đóng góp không nhỏ
những thành tựu của mình vào thành tựu chung của đất nước. Lĩnh vực tiền tệ tín
dụng ngân hàng - một trong những lĩnh vực nhạy cảm nhất của nền kinh tế do hoạt
động kinh doanh tiền tệ là loại hình mang tính năng động và rủi ro cao cần được
cải biến, đổi mới nhằm đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của thị trường. Với
vai trò là một trung gian tài chính, cung cấp vốn cho nền kinh tế, thúc đẩy đầu tư,
góp phần tăng trưởng kinh tế, hệ thống Ngân hàng đã không ngừng đổi mới, hoàn
thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của mình một cách có cơ sở khoa học. Nhất là
từ khi hệ thông Ngân hàng hoạt động theo cơ chế Ngân hàng hai cấp thì vai trò của

I Quá trình ra đời và phát triển của hệ thống ngân hành thương mại:
Ngày nay , trong mỗi quốc gia , toàn bộ hệ thống ngân hàng hình thành 2 cấp rõ rệt
gồm ngân hành trung ương ( central bank) và hệ thống ngân hàng trung gian ( gồm
có ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, và các loại ngân hàng khác).
Tuy nhiên , từ khi mới hình thành hệ thống ngân hàng cho đến tận thế kỉ 18 thì
chưa có sự phân biệt hai cấp như vậy. các ngân hàng hoạt động độc lập và chưa
hình thành hệ thống. các nhà kinh doanh nghiệp vụ gần như giống nhau về nội
dung và tính chất chẳng hạn như nhận tiền gửi, cho vay, mua bán giấy tờ có giá, và
kể cả việc phát hành tiền cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa hệ thống ngân hàng
từng bước phát triển , và hoàn thiện dần. Trong sự phát triển và hoàn thiện của hệ
thống ngân hàng chúng ta thấy rõ mối quan hệ hữu cơ giữa phát triển của hệ thống
ngân hàng với sự phát triển của hệ thống lưu thông tiền tệ. Chính hệ thống lưu
thông tiền tệ bắt đầu bằng hình thái tiền đúc bằng kim loại quý đã làm nãy sinh
nghề ngân hàng cách đây hàng ngàn năm để từ đó qua nhiều thế kỷ, hệ thống ngân
hàng đã được định hình. Do chính phủ dần dần can thiệp vào hoạt động của ngân
hàng đặc biệt là việc phát hành tiền và kiểm soát tiền tệ nên đã dẫn đến hình thành
hệ thống ngân hàng 2 cấp và từ đó ngân hàng trung gian đã được phân ra để
chuyên về kinh doanh tiền tệ và không còn việc phát hành tiền nữa.
Cùng với sự phát triển của sản xuất, lưu thông hàng hóa, hoạt động của những
người bảo quản và trao đổi tiền tệ đã có thêm một bước phát triển mới ở thế kỷ 8
trước công nguyên. Họ không những thu nhận bảo quản, đổi tiền mà còn sử dụng
số tiền bảo quản đó để cho vay , họ không những cho vay bằng tiền mặt mà còn sử
dụng giấy tờ có giá thay tiền mặt.Điều đó càng làm cho hoạt động của ngân hàng
ngày càng trở nên phong phú hơn trước và thuật ngữ ngân hàng bắt đầu xuất hiện
từ đó.
Cùng với quá trình phát triển của kinh tế, thương mại, việc trao đổi hàng hóa
không chỉ được thực hiện ở thị trường trong nước mà ngày càng mở rộng ra thị
trường nước ngoài. Ngân hàng để đáp ứng được nhu cầu sự phát triển của hoạt
động giao thương hàng hóa trong nước và quốc tế nên cũng phát triển them nhiều

chất chung của một quan hệ tín dụng, đó là quan hệ mà người sở hữu một số tiền
chuyển giao cho người khác sử dụng trong một thời gian nhất định, sau khoản thời
gian này người sử dụng hoàn trả lại vốn và kèm theo lãi xuất đối với khoản tiền
đó, nhưng nó được thực hiện trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi.
1.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng :
- Khác với tín dụng thương mại, được cung cấp dưới hình thức hàng hóa , tín dụng
ngân hàng huy động vốn và cho vay vốn dưới hình thức tiền tệ. bao gồm tiền mặt
và bút tệ.
- Tín dụng ngân hàng chủ yếu cho vay bằng nguồn vốn của các thành phần trong
xã hội, còn vốn của chủ sở hữu rất ít, nó không giống như tín dụng nặng lãi hay tín
dụng thương mại sử dụng nguồn vốn của chính mình để cho vay.
-Ngân hàng đóng vai trò là một tổ chức trung gian, trong quan hệ tín dụng nó vừa
là người đi vay đồng thời là người cho vay. Với tư cách là người đi vay, ngân hàng
nhận tiền gửi của các danh nghiệp, cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái
phiếu để huy động vốn trong xã hội. Với tư cách là người cho vay, nó cung cấp tín
dụng cho các danh ngiệp và cá nhân.
-Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng không hoàn toàn phù
hợp với quy mô phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa.
-Tín dụng ngân hàng thúc đẩy tập trung và điều hòa vốn giữa các chủ thể trong
nền kinh tế.
-Ngoài ra tín dụng ngân hàng còn có những ưu điểm so với các hình thức tín dụng
khác như:
+ Phạm vi hoạt động rộng lớn vì nó kinh doanh chủ yếu bằng tiền nên nó có thể
giao dịch đối với tất cả chủ thể trong nền kinh hơn so với tín dụng thương mại.
+ Với số một tiền lớn được huy động từ các chủ thể trong nền kinh tế, ngân hàng
có thể cho các người vay với số lượng lớn hơn.
+ Thời hạn tín cho vay phong phú hơn, tùy theo nhu cầu của khách hàng muốn vay
ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn mà ngân hàng điều chỉnh các nguồn vốn để đáp
ứng nhu cầu.
-Bên cạnh có một số bất lợi của hình thức tín dụng ngân hàng là mức độ rủi ro của

cho các đơn vị kinh vay. Mặt khác, quá trình đầu tư tín dụng được thực hiện
một cách tập trung, chủ yếu là cho các xí nghiệp lớn, những xí nghiệp có hiệu
quả.
-Tín dụng ngân hàng tập trung các tín dụng nhỏ lẻ thành các khoản vốn lớn,
tạo khoản vốn lớn, tạo khả năng đầu tư vào các công trình lớn hiệu quả, bên
cạnh có thể mở rộng quy mô sản xuất.
-Thông qua tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp nhận được khối lượng vốn
bổ sung rất lớn để mở rộng quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động, đổi mới
thiết bị, áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, tăng khả năng cạnh tranh cho các
doanh nghiệp ngày càng lớn hơn, buộc các doanh nghiệp nhỏ phải liên kết với
nhau để tăng khả năng cạnh tranh với những doanh nghiệp lớn, như vậy tín
dụng đã góp phần thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất.
2.3 Tín dụng ngân hàng giúp cho việc điều hòa nguồn vốn góp phần ổn định thị
trường tiền tệ, phát triển cân đối các ngành trong nền kinh tế quốc dân, và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế:
- Thông qua hoạt động tín dụng mà nguồn vốn dịch chuyển từ nơi thừa vốn
đến nơi thiếu vốn, làm cho xã hội bớt lãng phí ở nơi thừa vốn, giảm khó
khăn ở nơi thiếu vốn, giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả, góp phần làm
cho tốc độ luân chuyển hàng hóa và tiền vốn tăng lên, tạo sự phát triển
đồng điều giữa các ngành.
- Việc điều hòa nguồn vốn, đồng thời thông qua khung lãi suất quy định giúp
cho chính sách tiền tệ của chính phủ được thực hiện, điều hòa lưu thông
tiền tệ góp phần ổn định tiền tệ, và phát triển thị trường tài chính tiền tệ.
- Hơn nữa, thông qua tín dụng ngân hàng, chính phủ có những chích sách ưu
tiên hỗ trợ phát triển các vùng, miền hay các ngành then chốt, trọng điểm
nhờ việc đưa ra các ưu đãi tín dụng do vậy kích thích các doanh nghiệp đầu
tư vào các ngành này, hoặc chính phủ ưu tiên phát triển các ngành kinh tế
mũi nhọn như nông nghiệp và ưu tiên xuất nhập khẩu…., do đó chính phủ
tập trung các nguồn tín dụng để tài trợ phát triển ngành đó, từ đó tạo điều
kiện cho phát triển các ngành khác, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

được tính trên cơ sở lãi xuất cơ bản cộng với một tỉ lệ.
-lãi suất chiết khấu:
Là lãi suất được ngân hàng trung ương áp dụng để tái chiết khấu đối với
các ngân hàng thương mại về thương phiếu hoặc những giấy tờ có giá khác.
Thông thương mỗi khi lãi suất mỗi khi lãi suất tái chiết khấu tăng lên hay
giảm xuống , kéo theo sự nâng hay giảm lãi suất cơ bản.
- lãi suất thị trường tiền tệ :
Đây là lãi suất được thực hiện giữa các ngân hàng trên thị trường tiền tệ.
trong hoạt động đi vay và cho vay có thời hạn, mức lãi suất này được ấn định
theo quy luật cung cầu theo các kỳ hoàn trả khác nhau và theo dự đoán tăng
giảm lãi suất trên thị trường.
-lãi suất sàn và lãi suất trần:
Là mức lãi suất cao nhất hoặc thấp nhất do ngân hàng trung ương ấn định cho
các ngân hàng thương mại , để ngân hàng thương mại đưa ra mức lãi suất phù
hợp trong hoạt động tín dụng của mình nhằm đảm bảo thống nhất các hoạt
động tín dụng trong trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
- lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa:
lãi suất danh nghĩa: còn gọi là lãi suất bề ngoài hay lãi suất danh định, là lãi
suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa người đi vay và người cho vay về
một số vốn nào đó.
Lãi suất thực : là lãi suất được vận hành trong một không gian và thời gian,
trong đó giả định lạm phát luôn luôn bằng không. Hay nói cách khác, là lãi suất
sau khi loại trừ sự biến động giá trị tiền tệ ( lạm phát).
Công thức: R= I -P
e

Vì vậy, trong điều kiện có lạm phát, chính lãi suất thực chứ không phải lãi suất
danh nghĩa ảnh hưởng tới đầu tư,đến phân phối thu nhập giữa những con nợ và
chủ nợ và các dòng chảy về vốn.
4 hiệu quả tín dụng :

gian thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm. vòng vay vốn càng nhanh
được coi là tốt và việc đầu tư được an toàn.
- tỉ lệ nợ quá hạn = dư nợ quá hạn/ tổng dư nợ cho vay
nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc lãi đã quá hạn.
Một cách tiếp cận khác, nợ quá hạn là những khoản nợ không hoàn trả đúng hạn,
không được phép và không đủ điều kiện gia hạn nợ. các khoản nợ quá hạn bao
gồm:
+ Nợ cần chú ý.
+ Nợ dưới tiêu chuẩn
+ Nợ nghi ngờ
+ có khả năng mất vốn
Chỉ tiêu này cho biết việc khách hàng không thực hiện được việc trả nợ đúng
hạn theo cam kết. tỉ lệ này cao phản ánh tình hình tín dụng của PGD có chất lượng
thấp.
- tỉ lệ nợ xấu= dư nợ xấu/ tổng dư nợ cho vay
Nợ xấu ( nợ có vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ khó đòi…) là những khoản
mang các đặc trưng sau:
+ khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam
kết này đã hết hạn.
+ tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có
khả năng ngân hàng không thu hồi được tiền gốc và lãi.
+ tài sản đảm bảo ( thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị ….
Mãi không đủ trang trải nợ gốc và lãi.
+ thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày.
các khoản nợ xấu bao gồm:
- nợ dưới tiêu chuẩn
- nợ nghi ngờ
- nợ có khả năng mất vốn.
5 Quy trình, thủ tục khi cho vay tín dụng của ngân hàng: gồm có các bước
sau:

5.5 Giám sát tín dụng:
Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực tế của khách
hàng… để đảm bảo khả năng thu nợ.
5.6 thanh lí hợp đồng tín dụng:
Ngân hàng sẽ tiến hành thanh lí các hợp đồng tín dụng đối với khách hàng khi nó
đã hết hạn.
Chương 2:Tình hình hoạt động của Sacombank Cần Thơ:
I. Đôi nét về Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Thương
Tín (Sacombank):
Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) được thành lập vào năm
1991 trên cơ sở hợp nhất 4 tổ chức tín dụng tại TP.HCM (Ngân hàng Phát
Triển Gò Vấp và sáp nhập ba Hợp tác xã Tín dụng là Tân Bình, Lữ Gia và
Thành Công) với các nhiệm vụ chính là huy động vốn, cấp tín dụng và thực hiện
các dịch vụ ngân hàng.
Mức vốn điều lệ ban đầu là 3 tỷ VND, đến cuối năm 2008, Sacombank đã
tăng vốn điều lệ lên 5.188 tỷ VND, và trở thành ngân hàng thương mại cổ phần có
vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam. Hiện nay, vốn điều lệ của Sacombank đã tăng lên
6.700 tỷ VND và vốn tự có là 9.498 tỷ VND. Từ một Hội Sở và 3 Chi nhánh lúc

Trích đoạn giải pháp phát triển mảng sản phẩm thanh toán – thẻ ATM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status