GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY TIÊU THỤ SẢN PHẨM THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI CỦA CÔNG TY TNHH NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN THỰC PHẨM HÀ NỘI - Pdf 26

MỤC LỤC
Danh mục bảng biều
Danh mục sơ đồ, hình vẽ
Danh mục từ viết tắt
MỤC LỤC 1
1.Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận 3
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 4
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 5
4. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4.1. Mục tiêu nghiên cứu 6
4.2. Đối tượng nghiên cứu 7
4.3. Phạm vi nghiên cứu 7
5. Phương pháp nghiên cứu 8
5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu 8
5.2. Phương pháp phân tích dữ liệu 8
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp 9
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM
THỰC PHẨM 10
Ngoài ra còn có một số khái niệm thực phẩm hiện đại như: 10
1.2. Một số lý thuyết cơ của vấn đề nghiên cứu 11
1.2.1.Phân loại sản phẩm thực phẩm 11
Nguồn: Phòng kế hoạch – kinh doanh 13
1.2.2. Đặc điểm sản phẩm thực phẩm 13
1.2.4. Vai trò của tiêu thụ sản phẩm 13
1.2.5. Ý nghĩa của tiêu thụ sản phẩm 15
1.3.Nội dung và nguyên lý thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm 16
1.3.1.Nội dung thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm 16
2.1. Tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến hoạt động tiêu
thụ sản phẩm thực phẩm trên địa bàn Hà Nội 20
2.1.1. Tổng quan tình hình tiêu thụ sản phẩm thực phẩm trên địa bàn Hà
Nội 20

là ngành sản xuất hàng tiêu dùng gắn liền với đời sống hàng ngày của người dân.
Mỗi doanh nghiệp đều thấy rõ sự quan trọng của thị trường tác động tới kinh
doanh, thấy được các nhân tố tác động tới hiệu quả sản xuất kinh doanh từ đó xây
dựng phương án kinh doanh phù hợp. Nắm bắt được xu thế phát triển chung của toàn
ngành, Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Thực phẩm Hà Nội (Công ty Thực
phẩm Hà Nội) là một doanh nghiệp trực tiếp sản xuất và kinh doanh nhóm hàng thực
phẩm đã không ngừng đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm tăng khả
năng cạnh tranh trên thị trường. Đối với một doanh nghiệp sản xuất, chế biến, cung
ứng và kinh doanh thực phẩm thì vấn đề thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa quan trọng hơn
bao giờ hết. Tuy nhiên, so với tiềm năng thực tế thì tình hình tiêu thụ sản phẩm thực
phẩm trên địa bàn Hà Nội của công ty chưa cao. Thị phần của công ty trên thị trường
mới đạt khoảng 5%. Đứng trước tình hình đó, việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thực
phẩm của Công ty Thực phẩm Hà Nội là một đòi hỏi cấp bách và cần được quan tâm.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Về vấn đề thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thực phẩm trên địa bàn Hà Nội , trên thực
tế, chưa có đề tài nào đề cập một cách trực diện. Tuy nhiên, có thể kể đến một số đề
tài:
- Đề tài 1: Đẩy mạnh tiêu thụ mặt hàng sữa tươi tiệt trùng izzi của công ty cổ
phần sữa Hà Nội – Honoimilk JSC, Luận văn tốt nghiệp , 2007/ Phạm Thị Thanh
Huyền, Khoa Kinh tế, Trường Đại học Thương Mại.
Luận văn đi sâu vào nghiên cứu một số lí luận cơ bản về tiêu thụ hàng hóa
trong doanh nghiệp theo góc tiếp cận của kinh tế doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đánh giá
thực trạng tiêu thụ của mặt hàng sữa tươi tiệt trùng IZZI của công ty cổ phần sữa Hà
Nội để rút ra những thành tựu và những mặt hạn chế từ đó đưa ra các biện pháp đẩy
mạnh tiêu thụ hàng hóa của công ty. Đối tượng nghiên cứu là các chỉ tiêu liên quan
đến tiêu thụ hàng hóa trong doanh nghiệp cụ thể là Công ty cổ phần sữa Hà Nội. Phạm
vi nghiên cứu của luận văn là hoạt động tiêu thụ sản phẩm sữa tươi tiệt trùng IZZI của
công ty cổ phần sữa Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích, thống
kê, so sánh, quan sát và duy vật biện chứng.
- Đề tài 2: Các giải pháp thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm bánh kẹo ở công ty cổ phần

đối với sản phẩm thực phẩm. Đề tài liên quan đến thực phẩm thì dừng lại nghiên cứu ở
giải pháp nguồn nhân lực nhằm phát triển thương mại chưa đi sâu vào nghiên cứu vấn
đề thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thực phẩm. Đề tài của em đi sâu vào nghiên cứu giải
pháp thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thực phẩm của Công ty TNHH Nhà nước một thành
viên Thực phẩm Hà Nội. Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích một số vấn đề lý luận liên
quan đến tiêu thụ sản phẩm thực phẩm như bản chất của tiêu thụ sản phẩm, khái niệm
thực phẩm, đặc điểm của thực phẩm, đặc điểm phát triển thương mại sản phẩm, đặc
điểm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, vai trò và ý nghĩa của tiêu thụ sản phẩm đối với
doanh nghiệp. Đề tài đi sâu nghiên cứu và phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm thực
phẩm trên địa bàn Hà Nội của Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Thực phẩm
Hà Nội. Cụ thể, đi sâu vào nghiên cứu thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thông qua đẩy mạnh
từ phía cung nhằm đảm bảo cung ứng nguồn hàng ổn định, kịp thời cho thị trường. Từ
đó đề xuất với công ty các giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thực phẩm của
công ty trên địa bàn Hà Nội.
Tính mới của đề tài
Đề tài khóa luận: “Giải pháp thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thực phẩm trên địa
bàn Hà Nội của Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Thực phẩm Hà Nội”
Đề tài khóa luận nghiên cứu lý luận liên quan đến tiêu thụ sản phẩm, khái niệm
thực phẩm, đặc điểm, phân loại thực và đặc điểm phát triển thương mại, đặc điểm, vai
trò của thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm cũng như những nguyên lý cơ bản để thúc đẩy tiêu
thụ sản phẩm thực phẩm. Đề tài tiến hành tìm hiểu thực trạng tiêu thụ sản phẩm thực
phẩm và ảnh hưởng của các nhân tó môi trường đến công tác tiêu thụ sản phẩm trên
địa bàn Hà Nội của Công ty Thực phẩm Hà Nội. Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp
nhằm thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thực phẩm của công ty trên địa bàn Hà Nội.
4. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Mục tiêu nghiên cứu
 Mục tiêu tổng quát
Đề tài sẽ đi sâu vào nghiên cứu tổng quan sản phẩm thực phẩm chế biến của
công ty và các sản phẩm thực phẩm công ty phân phối. Trên cơ sở nghiên cứu lý
thuyết và thực trạng tiêu thụ sản phẩm thực phẩm trên địa bàn Hà Nội của Công ty

Cần có những chính sách cụ thể và phù hợp hơn. Hoàn thiện hơn về cơ chế,
chính sách để tạo môi trường tốt nhất cho sự thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thực phẩm của
công ty trên địa bàn Hà Nội
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu, đưa ra giải pháp thúc đẩy tiêu thụ đối với các sản
phẩm thực phẩm của Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Thực phẩm Hà Nội:
các sản phẩm thực phẩm chế biến của công ty và các sản phẩm thực phẩm công ty
phân phối.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Đề tài với mục đích thông qua cơ sở lý luận và nghiên
cứu thực trạng để đề ra những nhóm giải pháp thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thực phẩm
trên địa bàn Hà Nội của Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Thực phẩm Hà Nội.
Cụ thể, dừng lại nghiên cứu đưa ra giải pháp thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thông qua
việc đẩy mạnh phía cung sản phẩm, đảm bảo tính ổn định, liên tục của nguồn hàng.
- Không gian nghiên cứu: trên địa bàn Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: giai đoạn 5 năm từ năm 2007 – 2011. Từ đó đưa ra một
số dự báo, quan điểm và giải pháp về thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thực phẩm trên địa
bàn của công ty từ năm 2012 đến 2015, tầm nhìn 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
Phương pháp thu thập dữ liệu là phương pháp cơ bản được sử dụng trong các
công trình nghiên cứu, nó góp phần quan trọng để đưa ra những nhận định, đánh giá
đúng đắn và có cơ sở khoa học. Đề tài sử dụng dữ liệu thứ cấp là những dữ liệu đã qua
xử lý được lấy từ một số nguồn như:
- Nguồn nội bộ công ty: website, tài liệu lưu trữ của công ty ; báo cáo tài chính
của công ty qua các năm,…
- Các tài liệu chuyên ngành: giáo trình, chuyên đề, luận văn tốt nghiệp khóa
trước. đồng thời cập nhật các thông tin trên các báo, tạp chí. Đặc biệt internet được coi
là công cụ tìm kiếm thông tin hữu hiệu nhất.
- Khi phân tích, tiến hành kết hợp giữa phân tích định lượng và định tính, thiết

1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm thực phẩm
Thực phẩm hay còn được gọi là thức ăn là bất kỳ vật phẩm nào, bao gồm chủ
yếu các chất: chất bột (cacbohydrat), chất béo (lipit), chất đạm (protein), hoặc nước,
mà con người hay động vật có thể ăn hay uống được, với mục đích cơ bản là thu nạp
các chất dinh dưỡng nhằm nuôi dưỡng cơ thể hay vì sở thích. Các thực phẩm có nguồn
gốc từ thực vật, động vật, vi sinh vật hay các sản phẩm chế biến từ phương pháp lên
men như rượu, bia. Mặc dù trong lịch sử thì nhiều nền văn minh đã tìm kiếm thực
phẩm thông qua việc săn bắn và hái lượm, nhưng ngày nay chủ yếu là thông qua gieo
trồng, chăn nuôi, đánh bắt và các phương pháp khác. [1]
Theo Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 12/2003/PL-UBTVQH11
ngày 26 tháng 7 năm 2003 về vệ sinh an toàn thực phẩm, thực phẩm là những sản
phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản. [2]
Ngoài ra còn có một số khái niệm thực phẩm hiện đại như:
 Thực phẩm ăn liền
 Thực phẩm đóng hộp
 Thực phẩm chức năng
 Phụ gia thực phẩm…
1.1.2. Bản chất của tiêu thụ sản phẩm
Nếu xét hoạt động tiêu thụ sản phẩm như một hành vi thì hoạt động tiêu thụ
sản phẩm được quan niệm như hành vi bán hàng và do đó tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa
là sự chuyển giao hình thái giá trị của sản phẩm, hàng hóa từ hàng sang tiền (H – T)
nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng về một giá trị sử dụng nhất định. Hiểu theo quan
niệm này thì tiêu thụ sản phẩm là sự chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm cho người
mua và người bán thu được tiền từ bán sản phẩm hay quyền thu từ người mua.
Nếu xét tiêu thụ như một khâu của quá trình sản xuất kinh doanh thì tiêu thụ
sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất và kinh doanh. Tiêu thụ sản
phẩm thực hiện mục đích của sản xuất và tiêu dùng, đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến
nơi tiêu dùng. Nó là khâu lưu thông hàng hóa, là cầu nối trung gian giữa một bên là
sản phẩm sản xuất và phân phối với một bên là tiêu dùng. Trong quá trình tuần hoàn

tươi sống, thực phẩm chức năng, phụ gia thực phẩm.
Bảng 1.1 : Danh sách các sản phẩm thuộc nhóm hàng thực phẩm chế biến
STT
Nhóm hàng thực phẩm
chế biến
Sản phẩm cụ thể
1
Nhóm giò
- Giò lụa - Giò bò - Giò xào
2
Nhóm dấm + tương ớt
- Dấm gạo
- Ớt sốt chua ngọt
- Ớt dầm dấm
- Tương ớt
- Ớt tiêu cay
- Ớt sốt cay
3
Nhóm rau củ quả đóng hộp
- Măng lát dầm
giấm
- Măng củ dầm
giấm
- Dưa chuột dầm
giấm
- Sung muối
- Cà muối
4
Nhóm nước mắm
- Nước mắm cá cơm 40 độ - Nước mắm cá cơm 20 độ

- Tiêu thụ sản phẩm giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển và mở rộng thị
trường. Thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp là nơi diễn ra các hoạt động
mua bán, trao đổi các sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp với khách hàng và ngoài
nước nhằm thỏa mãn lợi ích của mỗi bên. Muốn phát triển và mở rộng thị trường tiêu
thụ sản phẩm thì chính sách tiêu thụ hàng hóa phải đa dạng và năng động. Bằng việc
thực hiện năng động các chính sách trong khâu tiêu thụ hàng hóa, các doanh nghiệp
luôn vươn lên đáp ứng đòi hỏi của thị trường về các loại hàng hóa, từ đó thị trường
tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp ngày càng được mở rộng
- Mở rộng tiêu thụ sản phẩm có vai trò hết sức quan trọng không chỉ với bản
thân doanh nghiệp mà còn cả nền kinh tế xã hội. Mở rộng tiêu thụ sản phẩm là con
đường cơ bản để nâng cao hiệu quả kinh doanh, thực hiện các mục tiêu của doanh
nghiệp, tăng lợi nhuận, tăng thu nhập cho nhân viên, tạo việc làm cho người lao động
tăng thêm các hoạt động phúc lợi cho doanh nghiệp
- Tiêu thụ sản phẩm góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp,
thúc đẩy vòng quay của quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng sức lao động.
Nhờ có đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa, các doanh nghiệp mới thu hồi được vốn sản xuất
kinh doanh. Sau quá trình tiêu thụ, vốn hàng hóa được hàng hóa được chuyển thành
vốn tiền tệ và vòng tuần hoàn của vốn được hoàn thành khi doanh nghiệp làm tốt kế
hoạch tiêu thụ của mình, đã thúc đẩy nhanh vòng quay của vốn do đó đẩy mạnh quá
trình tái sản xuất và mở rộng quy mô sản xuất.
- Tiêu thụ sản phẩm là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng, là thước
đo đánh giá độ tin cậy của người tiêu dùng đối với người sản xuất. Qua hoạt động tiêu
thụ sản phẩm, người tiêu dùng và người sản xuất gần gũi hơn, tìm ra được cách đi đáp
ứng nhu cầu tốt hơn và người sản xuất có lợi nhuận cao hơn.
- Thông qua vai trò lưu thông luân chuyển hàng hóa của hoạt động tiêu thụ sản
phẩm doanh nghiêp thấy được những yếu điểm để khắc phục, nâng cao hoàn thiện quá
trình sản xuất, tạo hiệu quả cao trong sản xuất. Nếu cải thiện tốt công tác tiêu thụ sản
phẩm, nghĩa là giảm chi phí khâu tiêu thụ đồng nghĩa góp phần giảm chi phí của toàn
bộ sản phẩm, nhờ đó sẽ tăng được lợi nhuận cho doanh nghiệp. Việc tổ chức hợp lý
hóa khoa học quá trình tiêu thụ sản phẩm sẽ giảm tới mức tốt nhất các loại chi phí, góp

nghiệp là nó được sản xuất ra và đem đi bán nhằm thực hiện các mục tiêu hiệu quả đã
định trước
- Mục tiêu lợi nhuận: Lợi nhuận là mục đích của hoạt động sản xuất kinh doanh
của mọi doanh nghiệp. Nó là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh. Tiêu thụ sản phẩm tốt thì thu được nhiều lợi nhuận và ngược lại sản phẩm
mà không tiêu thụ được hoặc tiêu thụ được ít thì lợi nhuận sẽ thấp, hoặc có thể hòa vốn
hoặc lỗ.
- Đảm bảo tái sản xuất liên tục: Quá trình tái ản xuất bao gồm 4 khâu là sản
xuất-phân phối – trao đổi – tiêu dùng, nó diễn ra trôi chảy. Tiêu thụ sản phẩm nằm
trong khâu phân phối và trao đổi. Nó là một bô phận hữu cơ của quá trình tái sản xuất.
Do đó, tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quan trọng đảm bảo quá trình tái sản xuất được
diễn ra liên tục, trôi chảy.
- Mục tiêu vị thế của doanh nghiệp: Vị thế doanh nghiệp biểu hiện ở phẩn trăm
doanh số hoặc số lượng hàng hóa được bán ra so với toàn bộ thị trường. Tiêu thụ sản
phẩm có ý nghĩa quyết định đến vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Tiêu thụ
mạnh làm tăng vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.
- Mục tiêu an toàn: Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, sản phẩm
được sản xuất ra để bán trên thị trường và thu hồi vốn để tái sản xuất, quá trình này
phải được diễn ra liên tục, có hiệu quả nhằm đảm bảo sự an toàn cho doanh nghiệp.
1.3. Nội dung và nguyên lý thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm
1.3.1. Nội dung thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm
Thương mại hàng tiêu dùng trong đó có thực phẩm bao gồm hoạt động trao
đổi mua bán hàng lương thực, thực phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống và sinh
hoạt của người tiêu dùng. Thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm có thể kích thích, thúc đẩy cả
cung và cầu nhưng đề tài dừng lại nghiên cứu thúc đẩy tiêu thụ thông qua đẩy
mạnh ở phía cung. Vì vậy, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm gồm những nội dung sau:
1.3.1.1. Nguồn hàng
Mục đích của hoạt động kinh doanh đối với một doanh nghiệp là thu lợi
nhuận. Nhưng để thu được nhiều lợi nhuận thì doanh nghiệp phải bán được nhiều hàng
hoá. Và muốn bán được nhiều hàng hoá thì nhất thiết doanh nghiệp phải có được một

- Nguồn hàng cần có tính kinh tế, có mức giá hợp lý để giảm chi phí đầu vào
cho doanh nghiệp. Thương mại quan tâm đến tổng tiền thu về nên cần quan tâm đến
giá, đến tính kinh tế của nguồn hàng.
Để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thực phẩm, xét về phía cung nguồn hàng cần
quan tâm đến những nội dung sau:
 Tạo nguồn hàng.
 Tổ chức mua sắm, tiếp nhận nguyên liệu phục vụ sản xuất và hàng hóa
để kinh doanh
 Quản lý dự trữ và bảo quản hàng hóa trong khâu lưu thông. Hàng hóa dự
trữ trong quá trình lưu thông có tính ổn định và liên tục để cung ứng kịp
thời ra thị trường.
 Chuẩn bị hàng hóa cung ứng ra thị trường
1.3.1.2. Hoạt động tiêu thụ sản phẩm thực phẩm trên thị trường
- Nghiên cứu thị trường: để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp cần thực
hiện tốt công tác chuẩn bị cho hoạt động tiêu thụ cụ thể là phải tìm hiểu mặt hàng, hiểu
biết thị trường. Trong hoạt động kinh doanh khảo sát thị trường nhằm trả lời câu hỏi
sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? tức là thị trường đang cần
những sản phẩm gì đặc điểm kinh tế kỹ thuật, chất lượng của nó ra sao? Dung lượng
thị trường về loại sản phẩm đó như thế nào? ai là người tiêu thụ sản phẩm đó? Mục
đích của việc nghiên cứu thị trường là nghiên cứu xác định khả năng tiêu thụ những
loại hàng hóa ( hoặc nhóm hàng ) trên một địa bàn nhất định trong một khoảng thời
gian nhất định. Trên cơ sở đó nâng cao khả năng cung cấp để thỏa mãn tốt nhất nhu
cầu của thị trường. Từ đó, có chính sách nguồn hàng phù hợp để đảm bảo cung ứng
hàng hóa đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường
- Cầu sản phẩm thực phẩm: doanh nghiệp nghiên cứu nhu cầu của khách hàng
về mặt hàng mà doanh nghiệp kinh doanh như sở thích ( thị hiếu ), thu nhập, lứa tuổi,
nghề nghiệp, khả năng thanh toán Dựa vào đó, doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh
doanh bán cái thị trường cần, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng.
- Cung sản phẩm thực phẩm: thực hiện công tác cung ứng sản phẩm ra thị
trường, nghiên cứu khả năng cạnh tranh so với các đối thủ kinh doanh trong ngành,

)
Doanh thu bán hàng phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
 Lợi nhuận bán hàng: Kết quả tiêu thụ hàng hóa còn được đánh giá bằng chỉ
tiêu lợi nhuận bán hàng. Lợi nhuận bán hàng là phần chênh lệch giữa doanh
thu bán hàng và chi phí bán hàng. Lợi nhuận được xác định bằng công thức:
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Mục đích hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp là lợi nhuận.
Đây là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh
1.3.2.2. Nguyên tắc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thực phẩm
Thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thực phẩm có thể nghiên cứu trên những góc độ
sau: chính sách nguồn hàng, chính sách tiêu thụ sản phẩm thực phẩm:
Chính sách nguồn hàng: Nguồn hàng cung cấp sản phẩm là yếu tố quan trọng
để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm. Chính sách nguồn hàng đảm bảo đáp ứng đủ đầu vào
như nguyên liệu chế biến cho quá trình sản xuất, cung ứng đủ hàng hóa ra thị trường.
Doanh nghiệp cần phải lựa chọn những nguồn hàng đảm bảo cả về số lượng và chất
lượng. Thiết lập mạng lưới liên kết giữa sản xuất – phân phối – tiêu dùng, quy hoạch
các vùng nguyên liệu để đáp ứng đủ nguồn hàng cho hoạt động sản xuất và kinh doanh
của doanh nghiệp
Chính sách tiêu thụ sản phẩm trên thị trường: Thực hiện việc chuẩn bị tốt hàng
hóa để xuất bán, cung ứng những sản phẩm mà thị trường đang cần. Đồng thời nâng
cao khả năng cạnh tranh so với các đối thủ trong việc sản xuất chế biến, kinh doanh và
cung cấp sản phẩm, xúc tiến thương mại hiệu quả.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM THỰC PHẨM TRÊN
ĐỊA BÀN HÀ NỘI CỦA CÔNG TY TNHH NHÀ NƯỚC MTV THỰC PHẨM
HÀ NỘI
2.1. Tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến hoạt động tiêu
thụ sản phẩm thực phẩm trên địa bàn Hà Nội
2.1.1. Tổng quan tình hình tiêu thụ sản phẩm thực phẩm trên địa bàn Hà Nội
Hà Nội là một thành phố lớn với số dân gần 7 triệu người nên mức tiêu thụ thực
phẩm của người dân cao. Nguồn hàng thực phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường cũng

vào thị trường của nhũng đối tương này là không lớn, chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong cơ
cấu các đối tượng cung ứng rau, quả phục vụ thị trường Hà Nội.
 Đối tượng cung ứng các loại ngũ cốc, trong đó chủ yếu bao gồm gạo, ngô,
khoai, sắn, lạc, đậu tương, : nông dân là những người trước hết tham gia vào thị
trường với vai trò là người cung ứng hầu hết các loại ngũ cốc phục vụ cho nhu cầu của
thị trường thành phố. Bên cạnh đó cũng cần kể đến một nhóm đối tượng khác, tuy
không lớn, song cũng góp phần tham gia cung ứng các sản phẩm này vào thị trường
nước ta, đó là các doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài vào thị trường việt nam, chủ
yếu là tù Thái Lan, Trung Quốc và một số nước trong khu vực.
- Đối tượng cung ứng các sản phẩm thuộc nhóm đồ uống
 Các loại sữa và sản phẩm uống từ sữa được phục vụ cho nhu cầu của thị
trường Hà Nội chủ yếu được cung ứng bởi hai nhóm đối tượng là các hộ nông dân,
đơn vị sản xuất trong nước và các nhà xuất khẩu của nước ngoài vào việt nam. Trong
đó các nhà xuất khẩu từ nước ngoài một mặt vừa cung ứng một lượng không nhỏ
nguyên liệu là bột sữa để phục vụ cho hoạt động sản xuất, chế biến của các doanh
nghiệp trong nước, mặt khác vừa trực tiếp xuất khẩu các thành phẩm sang tiêu thụ tại
thị trường Việt Nam.
 Tham gia cung ứng các loại sản phẩm rượu, bia, nước giải khát trên thị
trường nước ta là hết sức đa dạng, trong đó bên cạnh các doanh nghiệp sản xuất, chế
biến rượu, bia, nước giải khát chuyên nghiệp như Sabeco, Habeco, Tribeco, Vinamilk,
Pepsi, Cocacola, còn có các nhà sản xuất nước ngoài và rất nhiều các cơ sở chế biến
theo kiểu thủ công, quy mô nhỏ và thiếu sự kiểm soát về chất lượng.
Có thể thấy nhu cầu tiêu thụ thực phẩm trên địa bàn Hà Nội là rất lớn. Tuy
nhiên, nguồn cung thực phẩm cho thành phố vẫn thiếu:
+ Việc cung ứng gạo trên thị trường hiện nay chủ yếu là các doanh nghiệp cung
ứng gạo như Tổng công ty Lương thực Miền Bắc, Tổng công ty Thương mại Hà Nội,
một số doanh nghiệp kinh doanh gạo và các hộ kinh doanh tại các chợ nội thành. Bên
cạnh đó còn một kênh phân phối la người kinh doanh gạo từ nông thôn đưa thẳng gạo
đến các nhà hàng, bếp ăn tập thể hoặc hộ gia đình. Nhu cầu tiêu thụ gạo tẻ bình quân là
8kg/người/tháng, tổng nhu cầu tiêu dùng gạo của người dân thành phố khoảng 65.000

công ty.
Đặc tính của thị trường
- Nền văn hóa
Thói quen tiêu dùng của người dân là một trong yếu tố ảnh hưởng đến hoạt
động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Phương thức chợ truyền thống và các cửa
hàng bán lẻ nhỏ vẫn chiếm đến 90% trong thói quen tiêu dùng của người dân Việt
Nam. Thói quen mua sắm hiện đại ( mua sắm tại siêu thị, trung tâm thương mại, cửa
hàng chuyên dụng ) của người Việt Nam tăng từ 14% năm 2007 lên khoảng 30% vào
năm 2011. Thói quen tiêu dùng thay đổi sẽ ảnh hưởng đến mức tiêu thụ sản phẩm đặc
biệt là thực phẩm với xu hướng ngày càng tăng lên về số lượng và chất lượng. Việc
mua sắm tại các trung tâm thương mại, siêu thị đã phát triển ở một số thành phố lớn
trong đó có Hà Nội. Do vậy, mức tiêu thụ sản phẩm thực phẩm tại các siêu thị, trung
tâm thương mại của người dân Hà Nội có xu hướng tăng.
- Nhân khẩu học
+ Dân số: quy mô của dân số thể hiện số người hiện hữu trên thị trường. Quy mô dân
số càng lớn thì thị trường càng lớn và nhu cầu về nhóm sản phẩm càng lớn. Đối với
sản phẩm thực phẩm, thực phẩm là sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng thiết yếu
của con người. Mặc dù nhu cầu sử dụng thực phẩm của mỗi người chỉ ở mực nhất định
song do quy mô dân số lớn cho nên nhu cầu sử dụng thực phẩm lớn hơn rất nhiều. Do
đó, doanh nghiệp có nhiều cơ hội để tiêu thụ nhiều sản phẩm hơn. Hà Nội là thành phố
lớn với khoảng 7 triệu dân nên nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thực phẩm là rất lớn.
+ Thu nhập và phân bố thu nhập của người tiêu dùng: thu nhập ảnh hưởng đến khả
năng tài chính của người tiêu dùng trong việc thỏa mãn nhu cầu, quyết định nhu cầu có
khả năng thanh toán. Trong khả năng tài chính có hạn, họ có thể lựa chọn sản phẩm
hay sản phẩm thay thế. Khi thu nhập của người dân cao hơn, chi tiêu cho ăn uống sẽ
cao hơn không những về khối lượng mà cả về chất lượng đòi hỏi doanh nghiệp phải có
nhiều sản phẩm với chất lượng cao hơn đồng thời cơ cấu sản phẩm đưa vào tiêu thụ
phải phù hợp với nhu cầu tiêu dùng đó.
Hà Nội là thủ đô, đồng thời là thành phố đứng thứ hai về dân số với khoảng gẩn
7 triệu người. Cùng với Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội là một trong hai trung tâm

2.2.1. Tổng hợp kết quả hoạt động kinh doanh của công ty qua các năm 2007-2011
Qua chặng đường hơn nửa thế kỷ, Thực phẩm Hà Nội đang trở thành một
thương hiệu mạnh cả về kinh doanh thực phẩm và đầu tư kinh doanh các hoạt
động dịch vụ… Nhờ giữ gìn chữ tín, sản phẩm mang thương hiệu Thực phẩm Hà
Nội luôn được người tiêu dùng ưa chuộng. Các mặt hàng như: chả giò, dấm gạo,
bánh há cảo, tương ớt không phẩm màu đã được tặng Huy chương Vàng tại các
kỳ hội chợ.
Trong những năm qua cùng với những biến động của nền kinh tế, hoạt động
kinh doanh của công ty cũng có những bước thăng trầm nhất định. Trong hai năm
2007-2008 nền kinh tế có nhiều tín hiệu thuận lợi đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh, doanh thu tăng 12,7%, cùng với đó là hiệu ứng của sự kiện Việt Nam trở
thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại quốc tế WTO đã tạo động lực
cho doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt đông sản xuất kinh doanh để cạnh tranh với các
đối thủ trong và ngoài nước. Về qui mô kinh doanh cũng được mở rộng nhiều của
hàng thực phẩm của công ty được xây dựng ở hầu khắp các quận trong thành phố.
Thực phẩm Hà Nội đã trở thành đơn vị đi đầu trong việc cung cấp thực phẩm và các
sản phẩm công nghệ cho người dân toàn thành phố và một số vùng lân cận, chất
lượng thương mại được nâng cao. Bước sang năm 2009 tình hình kinh doanh có
chiều hướng chững lại do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra ở rộng
khắp các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Là đơn vị cung cấp những sản
phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu cho người dân cho nên Thực phẩm Hà Nội cũng
chịu ảnh hưởng của vấn đề trên khiến cho doanh thu từ hoạt động bán hàng của
công ty giảm mạnh xuống còn 183 tỷ đồng, chỉ đạt 75% doanh thu của năm 2008.
Tuy nhiên cùng với những chính sách ưu đãi của Nhà nước thông qua các gói kích
cầu đối với doanh nghiệp cho nên đến cuối năm tình hình chung của nền kinh tế đã
dần đi vào ổn định , hoạt động kinh doanh của công ty cũng được cải thiện phần
nào.
Các dữ liệu thông tin thứ cấp được thu thập từ những báo cáo kết quả kinh
doanh năm 2007 - 2011 do bộ phận kế toán và phòng kế hoạch kinh doanh của công ty
cung cấp và được tổng hợp thành những bảng biểu dưới đây:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status