MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Đấu tranh chống tội phạm là một trong những nhiệm vụ quan trọng và
hết sức gian nan. Phòng ngừa và điều tra, xử lý tội phạm là những hoạt động
có liên quan chặt chẽ với nhau trong cuộc đấu tranh chống tội phạm, bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân. Để phát hiện và xử lý chính xác, khách quan tội phạm và người phạm tội,
việc làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, để làm
được như vậy thì cần phải có chứng cứ. Hay nói cách khác, chứng cứ là
phương tiện duy nhất được cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng để làm sáng tỏ
vụ án. Vậy chứng cứ đó họ sẽ lấy từ nguồn nào và các nguồn đó là gì? Để giải
đáp được câu hỏi này, em sẽ tìm hiểu về các nguồn chứng cứ trong tố tụng
hình sự.
Chính vì lý do trên, em xin mạnh dạn lựa chọn đề tài “Các nguồn
chứng cứ trong tố tụng hình sự”. Với vốn kiến thức còn hạn hẹp, nguồn tài
liệu chưa được phong phú nên bài làm của em sẽ không tránh khỏi những
thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô để bài làm của em lần
sau được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỨNG CỨ VÀ NGUỒN CHỨNG
CỨ TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm chứng cứ
Cơ sở phương pháp luận của chứng cứ trong tố tụng hình sự là triết học
Mác-Lênin, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật biện chứng. Chủ nghĩa duy vật biện
chứng được sử dụng như là cơ sở phương pháp luận của chứng cứ. Định
nghĩa chứng cứ là một trong những nội dung quan trọng của lý luận về chứng
cứ. Do có vai trò rất quan trọng nên định nghĩa về chứng cứ được nhà làm
luật xác định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Khoản 1 Điều 64
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Chứng cứ là những gì có thật,
được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát, Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành
của chứng cứ thể hiện ở mối liên hệ khách quan của các thông tin, tư liệu với
các tình tiết của vụ án cần được xác định. Mối quan hệ này thể hiện ở hai mức
độ khác nhau. Để xem các thông tin, tư liệu có phải là chứng cứ hay không,
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải xác định được tính liên quan của
thông tin, tư liệu đó ở cả hai mức độ:
+ Mối quan hệ của chứng cứ với đối tượng chứng minh.
+ Những thông tin, tư liệu không được dùng làm căn cứ trực tiếp để
giải quyết thực chất vụ án, nhưng được dùng để xác định các tình tiết khác có
ý nghĩa đối với vụ án.
3
- Tính hợp pháp của chứng cứ: là sự phù hợp của nó với các quy định
của pháp luật tố tụng hình sự, được thể hiện ở các mặt:
+ Chứng cứ được xác định bằng nguồn nhất định theo quy định của
pháp luật
+ Tính hợp pháp đòi hỏi chứng cứ phải được thu thập theo trình tự, thủ
tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định.
1.3. Khái niệm nguồn chứng cứ
Nguồn chứng cứ là nguồn cung cấp những vật, tài liệu quan trọng, mà
từ đó có thể rút ra được những chứng cứ có giá trị chứng minh sự thật khách
quan của vụ án. Bởi vậy, nếu không có nguồn chứng cứ sẽ không thể có
chứng cứ để chứng minh, làm sáng tỏ các tình tiết và diễn biến của vụ án, và
có thể dẫn đến một hậu quả là các cơ quan tiến hành tố tụng đưa ra kết luận
không chính xác và không đầy đủ đối với vụ án hình sự.
Hay nói cách khác, nguồn chứng cứ là những sự vật chứa đựng chứng
cứ, tức chứa đựng các thông tin, tư liệu tồn tại trong thực tế khách quan, liên
quan đến vụ án và được thu thập theo trình tự thủ tục pháp luật quy định.
Trong khoa học luật tố tụng hình sự, nguồn chứng cứ thường được gọi bằng
thuật ngữ là phương tiện chứng minh.
2. NGUỒN CHỨNG CỨ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGUỒN
CHỨNG CỨ TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
cả ở thể rắn, thể lỏng và thể khí. Sự thể hiện của vật chứng vô cùng đa dạng
với đủ loại hình dạng, kích cỡ, màu sắc, trọng lượng... song một điều cơ bản
là để những vật thể đó trở thành chứng cứ thì nó phải liên quan đến vụ án
hình sự; Thứ hai, vật chứng chứa đựng và phản ánh những sự kiện thực tế liên
quan đến vụ án, sự liên quan này có thể ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp
nhưng nó phải nằm trong mối liên quan tổng thể giữa các nội dung, vấn đề
của vụ án.”
2
1
Barry A.J.Fisher - Arne Svensson - Otto Wendel: “Kỹ thuật khám nghiệm hiện trường và điều tra tội
phạm”, Nxb. Công an nhân dân, H.1997, tr.19.
2
Một số vấn đề về các loại nguồn chứng cứ / Trịnh Tiến Việt và Trần Thị Quỳnh // Tạp chí Kiểm sát. Viện
Kiểm sát nhân dân tối cao, Số 12/2005, tr. 45.
5
Từ hai đặc trưng trên, ta có thể nhận thấy rằng, vật chứng là những vật
mà dựa vào đó có thể xác định các sự kiện có ý nghĩa đối với việc giải quyết
đúng đắn vụ án hình sự. Những vật mang những thông tin xác định sự kiện đã
xảy ra có liên quan đến vụ án hình sự. Việc khai thác các thông tin từ vật
chứng khác với việc khai thác thông tin từ lời khai của những người tham gia
tố tụng.
Có nhiều cách phân loại chứng cứ, căn cứ vào đặc điểm của việc xuất
hiện và tham gia vào quá trình xảy ra vụ án hình sự, có thể phân chia vật
chứng thành những loại như sau:
- Vật chứng là những vật dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội. Ví
dụ: dao, sung, đạn, mìn, chó, cá sấu... hoặc là những phương tiện gia thông,
thông tin được sử dụng vào việc phạm tội như xe máy, bộ đàm... những bất
động sản dùng vào việc phạm tội như ngôi nhà, phòng trọ...;
- Vật chứng là những vật mang dấu vết của tội phạm. Ví dụ: quần áo
dính máu trong vụ án giết người, cánh tủ mang dấu vân tay của người cậy