ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NHẬT LỆ
NGUỒN CHỨNG CỨ TRONG PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN TẤT VIỄN
HÀ NỘI - 2014
1.1.2. Khái niệm nguồn chứng cứ, vai trò của nguồn chứng cứ trong
việc chứng minh tội phạm 10
1.2. Đặc điểm của các loại nguồn chứng cứ 20
1.2.1. Vật chứng 20
1.2.2. Lời khai của những người tham gia tố tụng 21
1.3. Nguồn chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự một số quốc gia
trên thế giới 32
1.3.1. Nguồn chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự của các nước theo
mô hình tố tụng thẩm vấn 32
1.3.2. Nguồn chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự của các nước theo
mô hình tố tụng tranh tụng. 36
1.3.3. Nguồn chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự của các nước theo
mô hình kết hợp tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn. 41
Chương 2: NGUỒN CHỨNG CỨ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KÌ 47
2.1. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về nguồn chứng cứ qua
các thời kỳ lịch sử 47
2.1.1. Nguồn chứng cứ trong pháp luật phong kiến Việt Nam 47
2.1.2. Nguồn chứng cứ trong pháp luật TTHS Việt Nam từ khi Cách
mạng Tháng Tám năm 1945 thành công cho đến khi ban hành
BLTTHS năm 1988 52
2.1.3. Pháp luật Việt Nam về nguồn chứng cứ theo bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003 57
2.2. Thực trạng sử dụng nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự
Việt Nam 64
2.2.1. Những kết quả đạt được trong thực tế sử dụng nguồn chứng cứ
trong các vụ án hình sự 64
2.2.2. Những hạn chế, vướng mắc trong thực tế sử dụng nguồn chứng
cứ trong các vụ án hình sự 72
TT
Viết tắt
Nội dung từ
1.
BLHS
Bộ luật hình sự
2.
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
3.
CQĐT
Cơ quan điều tra
4.
CQTHTT
Cơ quan tiến hành tố tụng
5.
DVBC
Duy vật biện chứng
6.
KSV
Kiểm sát viên
7.
TA
Tòa án
8.
TNHS
Trách nhiệm hình sự
9.
VKS
phòng chống tội phạm luôn được Đảng và Nhà nước ta xem là nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu. Phòng ngừa và điều tra, xử lý tội phạm là hai mặt của nhiều
vấn đề mà giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nhằm bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của công dân và toàn xã hội. Để phát hiện và
xử lý chính xác, khách quan tội phạm và người phạm tội, việc làm sáng tỏ các
tình tiết của vụ án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, để làm được như vậy thì
cần phải có chứng cứ. Hay nói cách khác, chứng cứ là phương tiện duy nhất
được các cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng để làm sáng tỏ vụ án.
Trong bất kỳ vụ án hình sự nào, chứng cứ luôn là một vấn đề không thể
thiếu nhằm chứng minh một người có thực hiện hành vi phạm tội hay không.
Chỉ có chứng cứ hợp pháp mới có giá trị chứng minh tội phạm. Một trong
những điều kiện để chứng cứ được coi là hợp pháp là nó phải được rút ra từ
một trong các nguồn chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 64 BLTTHS
Việt Nam năm 2003. Việc nghiên cứu nguồn chứng cứ nói chung và nguồn
chứng cứ trong vụ án hình sự nói riêng có một ý nghĩa lớn không chỉ về mặt
pháp lý mà còn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Nguồn chứng cứ được hiểu là nơi cung cấp những tài liệu quan trọng
để rút ra những chứng cứ có giá trị chứng minh sự thật khách quan của vụ án.
Do đó, nếu không tìm được nguồn chứng cứ sẽ không thể có chứng cứ giải
thích, làm sáng tỏ các tình tiết và diễn biến của vụ án, kéo theo hậu quả là các
cơ quan tiến hành tố tụng sẽ đưa ra những kết luận không đúng, không chính
xác và không đầy đủ đối với vụ án hình sự. Việc làm rõ lý luận và thực tiễn về
2
nguồn chứng cứ không chỉ giúp cho hoạt động nghiên cứu mà còn tạo điều
kiện để nâng cao kiến thức cho các cơ quan có thẩm quyền, các tổ chức và cá
nhân hiểu đúng các quy định của pháp luật về chứng cứ và nguồn chứng cứ.
Trong những năm qua, thực hiện Nghị Quyết số 49-NQ/TW ngày
02/6/2005 của Bộ Chính Trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020,
tính đến năm 2014, chiến lược cải cách tư pháp đã đi được gần hai phần ba
kiểm sát số 10/2001…
Như vậy, có thể nói ít có các công trình nghiên cứu một cách toàn
diện và sâu sắc về nguồn chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam với hình thức là một đề tài độc lập, chuyên sâu. Vì vậy, việc tiếp tục
nghiên cứu về nguồn chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam là
một vấn đề cần thiết.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Mục đích: Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn chứng
cứ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Phân tích, đánh giá những quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về nguồn chứng cứ. Qua đó, đề
xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của các quy định về nguồn chứng cứ
trong pháp luật tố tụng hình sự, góp phần nâng cao chất lượng giải quyết các
vụ án hình sự.
- Nhiệm vụ: Để đạt được những mục đích trên, trong quá trình nghiên
cứu luận văn cần giải quyết những vấn đề sau:
1- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về nguồn chứng cứ (làm rõ
khái niệm nguồn chứng cứ, phân biệt khái niệm “nguồn chứng cứ” với một số
khái niệm khác như: Khái niệm chứng cứ, khái niệm phương tiện chứng
minh…). Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về
nguồn chứng cứ, có sự so sánh với pháp luật tố tụng hình sự của một số nước
trên thế giới;
4
2- Đánh giá thực tiễn áp dụng những quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự Việt Nam về nguồn chứng cứ;
3- Chỉ rõ những hạn chế trong những quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự Việt Nam về nguồn chứng cứ;
4- Đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật tố tụng
hình sự về nguồn chứng cứ và một số giải pháp nâng cao hiệu quả của việc sử
dụng nguồn chứng cứ trong thực tế.
luật học về nguồn chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam mà
trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn liên quan
tới nguồn chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Những điểm
mới cơ bản của luận văn là:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và các quy định của pháp
luật Việt Nam về nguồn chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự, trên cơ sở
có sự so sánh với pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới;
- Làm rõ khái niệm nguồn chứng cứ, phân biệt khái niệm nguồn chứng
cứ với một số khái niệm khác như: Khái niệm chứng cứ, khái niệm phương
tiện chứng minh…;
- Nghiên cứu, đánh giá làm sáng tỏ tình hình áp dụng các quy định
pháp luật về nguồn chứng cứ trong các vụ án hình sự; những kết quả đạt
được, những tồn tại, hạn chế cũng như nguyên nhân của tồn tại, hạn chế đó.
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã đề
xuất một số định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định, nâng cao
hiệu quả áp dụng các quy định về nguồn chứng cứ trong các vụ án hình sự,
đảm bảo giải quyết vụ án hình sự được nhanh chóng, chính xác, kịp thời.
6
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, lời cảm ơn và danh mục tài liệu
tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về nguồn chứng cứ trong pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam.
Chương 2: Nguồn chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
qua các thời kỳ lịch sử
Chương 3: Kiến nghị nhằm hoàn thiện và đảm bảo hiệu quả các quy
định của pháp luật về nguồn chứng cứ trong các vụ án
hình sự.
nội tâm của Thẩm phán…
Lịch sử đã chứng minh để nhận thức được chính xác các sự vật, hiện
tượng, con người cần dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, dựa
trên phương pháp biện chứng khoa học, việc nhận thức về nguồn chứng cứ
trong các vụ án hình sự cũng không nằm ngoài quy luật đó. Lý luận của chủ
nghĩa DVBC về nhận thức thế giới được sử dụng như là cơ sở khoa học của
nguồn chứng cứ và việc chứng minh thông qua những quan điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, vụ án hình sự được phản ánh bởi con người và các vật. Chủ
nghĩa DVBC đã chỉ ra rằng phản ánh là thuộc tính của vật chất. Mọi sự vật,
hiện tượng của thế giới khách quan luôn tồn tại trong mối quan hệ qua lại và
chịu sự tác động lẫn nhau. Bằng sự tác động qua lại đó, sự tồn tại của sự vật,
hiện tượng này luôn để lại dấu vết ở sự vật, hiện tượng khác.
Theo BLHS Việt Nam thì “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có
lỗi, được quy định trong Bộ luật hình sự và phải chịu hình phạt” [23, tr.50].
Theo khái niệm trên, “tội phạm trước hết là hành vi của con người, những gì
8
mới chỉ trong tư tưởng, chưa thể hiện ra bằng hành vi thì không phải là tội
phạm, hành vi phạm tội là hành vi đã thực tế xảy ra trong thế giới khách quan
và là một hiện tượng thuộc thế giới khách quan” [23, tr.50]. Chính vì sự tồn
tại khách quan mà tội phạm cũng để lại các dấu vết nhất định. Bằng cách thu
thập các dấu vết để lại và thông qua chúng, con người có thể xác định được sự
thật khách quan của vụ án. Căn cứ vào các đặc điểm hình thành và tồn tại của
từng loại dấu vết mà các nhà làm luật quy định trình tự, thủ tục thu thập, bảo
quản, kiểm tra, đánh giá chứng cứ khác nhau để đảm bảo cho việc xác định sự
thật khách quan của vụ án. Thủ tục thu thập kiểm tra nguồn chứng cứ vật chất
sẽ khác so với thủ tục kiểm tra nguồn chứng cứ phi vật chất.
Thứ hai, con người có khả năng nhận thức được sự thật khách quan của
vụ án hình sự. Chủ nghĩa DVBC khẳng định rằng con người có khả năng
nhận thức được thế giới khách quan. Trong sự tồn tại bất tận của thế giới
thực khách quan, là xuất phát điểm cực kỳ quan trọng cho lý luận về nguồn
chứng cứ, cho lập pháp TTHS về nguồn chứng cứ và áp dụng các quy định
của pháp luật về nguồn chứng cứ trong thực tiễn.
Thực tiễn là thước đo của nhận thức. Mặc dù chứng minh trong TTHS
có những nét đặc trưng riêng, là nhận thức về một sự kiện đã xảy ra trong
quá khứ với phạm vi và giới hạn xác định. Tuy nhiên, quan điểm này của
học thuyết DVBC về nhận thức không phải là ngoại lệ của quá trình chứng
minh. Do quá trình chứng minh trong TTHS có những đặc trưng riêng nên
việc dùng thực tiễn làm thước đo trong nhận thức về tội phạm cũng mang
những nét đặc trưng riêng. Điều này thể hiện trong biện pháp thu thập chứng
cứ như các biện pháp khám nghiệm, giám định, thực nghiệm điều tra để tái
tạo lại thực tiễn tội phạm, làm cơ sở kiểm tra, đánh giá các chứng cứ khác và
kiểm tra lại nhận thức chung về tội phạm. Thông qua các nguồn chứng cứ
10
khác nhau, con người có sự đối chiếu, so sánh các chứng cứ để tìm ra chân
lý của sự việc.
Thứ tư, phương pháp biện chứng đặt nền móng cho việc áp dụng các quy
luật của phép biện chứng duy vật vào quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá
chứng cứ. Các nội dung quan trọng của phép biện chứng trong nhận thức như
nguyên tắc toàn diện, đầy đủ, cụ thể, hệ thống… đóng vai trò quan trọng trong
quá trình chứng minh. Phương pháp biện chứng của triết học Mác – Lê nin được
thể hiện tương đối đầy đủ tại khoản 2 Điều 66 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003:
“Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán và hội thẩm xác định và đánh giá mọi
chứng cứ với đầy đủ tinh thần trách nhiệm, sau khi nghiên cứu một cách tổng
hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả các tình tiết của vụ án” [12, tr.45].
CNDVBC chỉ ra rằng khi xem xét thế giới khách quan, cần đặt trong sự
vận động, biến đổi không ngừng. Lê nin đã từng nói: thế giới tồn tại trong vận
động. Luận điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chứng cứ,
không thể tách rời từng chứng cứ khi chứng minh tội phạm mà phải xem xét
cứ và cũng bàn tay ấy để ngửa là chứng cứ thì động tác xoay cổ tay
để bàn tay từ sấp thành ngửa được ví như quá trình điều tra, tư duy
để xác định nguồn chứng cứ nào có thể được dùng là chứng cứ để
chứng minh [8, tr.50].
Như vậy, theo quan niệm này thì nguồn chứng cứ chính là chứng cứ.
Nó chỉ phụ thuộc vào việc có sử dụng hay không trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự. Chứng cứ được chia làm hai loại là chứng cứ vật chất và chứng cứ
phi vật chất.
Theo sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng thì “Chứng cứ phải được rút ra
từ những phương tiện chứng minh” [7, tr.75]. Ý kiến khác cho rằng “Nguồn
chứng cứ là những hình thức biểu hiện sự tồn tại của chứng cứ, được quy định
bởi các quy phạm pháp luật, mà từ đó có thể rút ra được chứng cứ” [15, tr.59].
12
Theo quan niệm này thì nguồn chứng cứ được hiểu theo hai khía cạnh: thứ
nhất, nguồn là hình thức biểu hiện của chứng cứ, cho phép ta nhận thức được
một cách cụ thể rõ ràng về chứng cứ; thứ hai, nguồn là nơi chứa đựng chứng
cứ mà từ đó có thể rút ra được chứng cứ. Quan niệm này có nét gần gũi với
quan niệm cho rằng nguồn chứng cứ là cái rút ra được chứng cứ: “ nguồn
chứng cứ với nghĩa là nơi là cơ quan tiến hành tố tụng hình sự tìm ra được
những tình tiết có giá trị chứng minh về tội phạm” [9, tr.5].
Trong khi đó, Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trường Đại học Luật
Hà Nội cho rằng: “Trong khoa học luật tố tụng hình sự, nguồn chứng cứ thường
được gọi bằng thuật ngữ khác là phương tiện chứng minh” [24, tr.168]. Có thể
thấy rằng, việc sử dụng cụm từ “phương tiện chứng minh” thay thế cho cụm
từ “nguồn chứng cứ” như vậy là thiếu chính xác, bởi lẽ khái niệm nguồn
chứng cứ không đồng nhất với khái niệm phương tiện chứng minh. Nếu như
nguồn chứng cứ được hiểu là nơi mà từ đó các CQTHTT cũng như người
THTT có thể tìm ra chứng cứ trong vụ án hình sự, thì phương tiện chứng
minh được hiểu là chứng cứ được chủ thể sử dụng để chứng minh. Như vậy,
các loại nguồn chứng cứ hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, nguồn chứng cứ được các cơ quan và người có thẩm quyền thu
thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
Theo Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật
Hà Nội, “Nguồn chứng cứ là những sự vật chứa đựng chứng cứ, tức chứa đựng
các thông tin, tư liệu tồn tại trong thực tế khách quan, liên quan đến vụ án và
được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định” [24, tr.168]. Khái
niệm này đã phần nào nêu rõ được bản chất của nguồn chứng cứ, tuy nhiên nó
chưa phản ánh hết bản chất của nguồn chứng cứ, chưa chỉ hết ra được mối
quan hệ giữa nguồn chứng cứ với chứng cứ, chưa chỉ được ra ý nghĩa của
nguồn chứng cứ đối với hoạt động tố tụng hình sự.
14
Như vậy, có thể thấy rằng nguồn chứng cứ là vấn đề được các nhà
nghiên cứu quan tâm, nhìn nhận ở nhiều góc nhìn khác nhau. Qua đây, tác giả
cũng xin đưa ra một khái niệm về nguồn chứng cứ như sau:
Nguồn chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự được hiểu là nơi chứa
đựng những thông tin tồn tại một cách khách quan,có liên quan đến vụ án
hình sự, được các chủ thể có thẩm quyền thu thập theo trình tự, thủ tục do
pháp luật quy định, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tính hợp pháp
của chứng cứ đối với mỗi vụ án hình sự cụ thể, góp phần giải quyết đúng đắn
vụ án hình sự.
1.1.2.2. Vai trò của nguồn chứng cứ trong việc chứng minh tội phạm
Nguồn chứng cứ là một yếu tố quan trọng, không thể thiếu trong hoạt
động TTHS, đóng vai trò quan trọng xuyên suốt trong suốt các giai đoạn điều
tra, khởi tố, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Các CQTHTT muốn xác định có
hành vi phạm tội hay không, ai là người đã thực hiện hành vi phạm tội bắt
buộc phải dựa vào các chứng cứ của vụ án. Có thể nói nguồn chứng cứ trong
pháp luật TTHS là vấn đề vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn cao.
Thứ nhất, nguồn chứng cứ là nơi cung cấp phương tiện để các CQTHTT
chứng cứ về mặt tố tụng, kiểm tra tính xác thực của chứng cứ, đánh giá chứng
cứ, các CQTHTT có thể nghiên cứu đầy đủ và toàn diện các tình tiết của vụ
án, xác định sự phù hợp của chúng với hiện thực từ đó tìm ra chân lý khách
quan của sự việc.
Thứ hai, nguồn chứng cứ là căn cứ để các CQTHTT ra các quyết định
cần thiết để giải quyết đúng đắn vụ án: Việc nhận thức được sự thật của vụ án
là cơ sở để những người THTT ra những quyết định đúng đắn để giải quyết vụ
án. Như vậy, xét về nội dung, nguồn chứng cứ là nơi duy nhất cung cấp
phương tiện để xác định sự thật của vụ án và về mặt hình thức, nguồn chứng cứ
16
là nơi cung cấp các chứng cứ làm căn cứ để ra các quyết định tố tụng cần thiết
nhằm giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Tất cả các quyết định tố tụng của
CQTHTT đều phải có căn cứ theo luật định, và để xác định được các căn cứ
này phải dựa vào chứng cứ. Điều 100 BLTTHS quy định: “Chỉ được khởi tố vụ
án khi xác định sự việc có dấu hiệu tội phạm” [12, tr.64]. Thực tiễn đấu tranh
phòng chống tội phạm cho thấy rằng các cơ quan có thẩm quyền chưa thể biết
ngay được ai là người đã thực hiện hành vi phạm tội, hành vi phạm tội đó đã
diễn ra như thế nào nếu chỉ nhận được tin báo tội phạm xảy ra. Để xác định
được tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, các CQTHTT cần thu thập
chứng cứ từ những nguồn chứng cứ hợp pháp từ đó đánh giá, suy luận và đưa
ra những kết luận có liên quan đến việc giải quyết vụ án.
Trong quá trình tố tụng, tùy thuộc vào phạm vi chức năng, nhiệm vụ của
mình, các CQĐT, VKS, Tòa án giải quyết vụ án bằng những quyết định tố tụng
khác nhau. CQĐT với chức năng điều tra có trách nhiệm thu thập chứng cứ, lập
hồ sơ vụ án để làm cơ sở cho việc truy tố, xét xử của VKS và Tòa án. Mặt
khác, dựa trên các chứng cứ đã thu thập được, CQĐT đưa ra những đánh giá,
những quan điểm của mình đối với vụ án như đề nghị VKS truy tố bị can hoặc
đình chỉ điều tra. Để khởi tố bị can đối với một người phải đảm bảo điều kiện
“khi có đủ căn cứ để xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội” [12,
Thứ ba, nguồn chứng cứ còn có ý nghĩa là nơi cung cấp căn cứ để ra
các quyết định tố tụng mà các quyết định đó sẽ ảnh hưởng đến trình tự tố
tụng của một vụ án cụ thể. VKS và Tòa án có thể ra quyết định trả hồ sơ yêu
cầu điều tra bổ sung nếu “thiếu những chứng cứ quan trọng mà VKS và Tòa
án không thể tự mình bổ sung được; có căn cứ để khởi tố bị can về một tội
phạm khác hoặc có người đồng phạm khác; khi phát hiện có vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng” [12, Điều 168, tr.109], những vi phạm này cũng phải
18
được chứng minh bằng chứng cứ. Các quyết định tạm đình chỉ điều tra hay
phục hồi điều tra của CQĐT; quyết định tạm đình chỉ vụ án của VKS và của
Tòa án, quyết định hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại của Tòa án cấp
phúc thẩm cũng phải dựa trên cơ sở chứng cứ để xác định có hay không có
căn cứ để ra quyết định đó.
Sau khi bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật,
việc chứng cứ trong vụ án đã được thu thập, kiểm tra, đánh giá như thế nào
cũng được coi là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái
thẩm. Bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật có thể bị kháng nghị
giám đốc thẩm vì “Việc điều tra xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không
đầy đủ; kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình
tiết khách quan của vụ án” [12, Điều 273] hoặc bị kháng nghị theo thủ tục tái
thẩm nếu “lời khai của người làm chứng, kết luận giám định hoặc lời dịch
của người phiên dịch có những điểm quan trọng được phát hiện là không
đúng sự thật” [12, Điều 291]. Khi có kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái
thẩm, bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật sẽ bị xét lại và có thể bị
hủy để điều tra hoặc xét xử lại. Lúc đó, trình tự tố tụng sẽ quay trở lại giai
đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm tùy thuộc vào quyết định của
Tòa án giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Thứ tư, nguồn chứng cứ là phương tiện để người tham gia tố tụng
bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình: Để có thể bào chữa cho bị