Quản trị quy trình chuẩn bị hàng nông sản xuất khẩu sang thị trường EU của Công ty cổ phần INTIMEX Việt Nam - Pdf 26

Trường Đại học Thương mại
“Quản trị quy trình chuẩn bị hàng nông
sản xuất khẩu sang thị trường EU của
Công ty cổ phần INTIMEX Việt Nam”
SV: Nguyễn Thị Thu Hoài Lớp: K45E4
1
Trường Đại học Thương mại
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài:
Trong bối cảnh mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu
của các nước là thước đo đánh giá kết quả của quá trình hội nhập quốc tế và phát
triển trong mối quan hệ tuỳ thuộc vào nhau giữa các quốc gia. Đặc biệt là hoạt
động xuất khẩu, nó tạo nguồn vốn cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá đất
nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hướng ngoại, tác
động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân,
làm cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại, đảm bảo sự cân
bằng cán cân thanh toán ngoại thương Nhận định được tầm quan trọng của
hoạt động này, Đảng và Nhà nước ta khẳng định “Xuất khẩu là động lực cho
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước”, luôn coi trọng, thúc đẩy các ngành
kinh tế theo hướng xuất khẩu và khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng
sản xuất nhằm phục vụ xuất khẩu.
Quy trình xuất khẩu được diễn ra qua rất nhiều bước nghiệp vụ, để thúc đẩy
xuất khẩu thì cần phải cải tiến, nâng cao, hoàn thiện các bước nghiệp vụ này. Với
vai trò là nghiệp vụ đầu tiên và là quan trọng nhất trong quy trình xuất khẩu,
công tác chuẩn bị hàng xuất khẩu luôn được các doanh nghiệp coi trọng.
Trước đây, đối tác xuất khẩu chính của nước ta là các quốc gia Châu Á. Tuy
nhiên tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của ta sang các nước đó cũng đã
thay đổi theo hướng giảm dần và tăng ở các nước khối EU và Châu Mỹ. EU là
một liên minh có nền kinh tế phát triển, có vị thế quan trọng trong thương mại
quốc tế, và là nơi sản xuất công nghệ nguồn. Việc lập quan hệ và mở rộng quan
hệ thương mại với EU là một quyết định đúng đắn của Đảng và Nhà nước, phù

nghiệp của mình.
SV: Nguyễn Thị Thu Hoài Lớp: K45E4
3
Trường Đại học Thương mại
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài:
Đề tài nghiên cứu các cơ sở lý luận cơ bản về hoạt động quản trị quy trình
chuẩn bị hàng xuất khẩu nhằm giải quyết các vấn đề còn tồn tại mà các đề tài
trước chưa giải quyết được.
Đề tài sử dụng các phương pháp điều tra trắc nghiệm, phỏng vấn chuyên gia
cùng thu thập những số liệu từ các nguồn có sẵn bên trong và bên ngoài công ty
để đánh giá chính xác thực trạng quản trị quy trình chuẩn bị hàng nông sản xuất
khẩu sang thị trường EU của Công ty cổ phần INTIMEX Việt Nam trong những
năm qua.
Bên cạnh việc đánh giá các thành công và những tồn tại , đề tài cũng đề
xuất các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hoạt động quản trị quy trình chuẩn bị
hàng nông sản xuất khẩu sang thị trường EU phù hợp với bối cảnh hiện tại và
tương lai trong một vài năm tới.
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài này nghiên cứu về quy trình chuẩn bị hàng nông sản xuất khẩu sang
thị trường EU tại Công ty cổ phần INTIMEX Việt Nam nhằm đánh giá thực
trạng tổ chức, thực hiện quản trị quy trình chuẩn bị hàng nông sản xuất khẩu của
công ty, tìm ra những vấn đề còn tồn tại, nguyên nhân của những vấn đề này và
đề xuất phương hướng, giải pháp khắc phục giúp công ty hoàn thiện và nâng cao
được hiệu quả cao nhất trong công tác chuẩn bị hàng nông sản xuất khẩu sang thị
trường EU.
1.4 Phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Quy trình chuẩn bị hàng nông sản xuất khẩu sang thị
trường EU tại Công ty cổ phần INTIMEX Việt Nam.
SV: Nguyễn Thị Thu Hoài Lớp: K45E4
4

giao hàng); Các điều khoản pháp lý (như luật áp dụng vào hợp đồng, khiếu nại,
trường hợp bấp khả kháng, trọng tài)
Chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu:
Là chuẩn bị theo đúng tên hàng, số lượng, phù hợp với chất lượng, bao bì,
ký mã hiệu và có thể giao hàng đúng thời gian quy định trong hợp đồng thương
mại quốc tế. Như vậy quá trình chuẩn bị hàng xuất khẩu bao gồm các nội dung:
• Tập trung hàng hoá xuất khẩu.
• Bao gói và kẻ mã ký hiệu hàng xuất khẩu.
• Kiểm tra hàng hoá xuất khẩu.
1.5.2 Phân định nội dung nghiên cứu:
Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đã được xác định
thì những nội dung chính mà chuyên đề này nghiên cứu với đề tài: “Quản trị quy
trình chuẩn bị hàng nông sản xuất khẩu sang thị trường EU của Công ty cổ phần
INTIMEX Việt Nam” là: Thực trạng của việc chuẩn bị hàng nông sản xuất khẩu
sang thị trường EU ở các khâu: tập trung hàng xuất khẩu, bao gói và kẻ mã ký
hiệu hàng xuất khẩu, kiểm tra hàng xuất khẩu. Từ đó làm nổi bật lên những mặt
được và chưa được trong khâu chuẩn bị hàng nông sản xuất khẩu và từ đó đưa ra
những giải pháp nhằm hoàn thiện quá trình quản trị quy trình này tại Công ty cổ
phần INTIMEX Việt Nam.
1.5.2.1 Thu gom tập trung làm thành lô hàng xuất khẩu:
Tập trung hàng xuất khẩu là tập trung thành lô hàng đủ về số lượng, phù
hợp về chất lượng và đúng thời điểm, tối ưu hoá được chi phí. Đây là một hoạt
động rất quan trọng của các doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu. Nhưng
SV: Nguyễn Thị Thu Hoài Lớp: K45E4
6
Trường Đại học Thương mại
tuỳ vào từng loại hình doanh nghiệp với các đặc trưng khác nhau mà quá trình
tập trung hàng xuất khẩu cũng khác nhau để đảm bảo được hiệu quả của quá
trình xuất khẩu. Nguồn hàng xuất khẩu là nơi đã và có khả năng cung cấp hàng
hoá đủ điều kiện cho xuất khẩu.

thường được đóng vào bao bì. Các loại bao bì thường dùng là: bao tải,
bao vải bông, bao giấy, và bao cao su.
• Kiện hay bì (bale): Tất cả các loại hàng hoá có thể ép gọn lại mà
phẩm chất không bị hỏng thì đều đóng thành kiện hoặc bì, bên ngoài
thường buộc bằng dây thép.
• Thùng (barrel, drum): Các loại hàng lỏng, chất bột và nhiều loại hàng
khác nữa phải đóng trong thùng. Thùng có loại bằng gỗ, gỗ dán, thùng
tròn bằng thép, thùng tròn bằng nhôm và thùng tròn gỗ ghép.
Ngoài những loại bao bì thường dùng trên, còn có một số loại khác như:
sọt (crate), bó (bundle), cuộn (roll), chai lọ (bottle),
Các loại bao bì trên là bao bì bên ngoài. Ngoài ra còn có bao bì bên trong và
bao bì trực tiếp. Vật liệu dùng để bao gói bên trong là giấy bìa bồi, vải bạt, vải
đay, giấy thiếc, dầu và mỡ. Trong bao gói có khi còn phải lót thêm một số vật
liệu, như: phoi bào, giấy phế liệu, nhựa xốp có khi vải bông cũng được dùng để
lót trong.
Trong mấy thập kỷ gần đây, người ta dùng chất tổng hợp để chế ra vật liệu
bao gói như các màng mỏng PE, PVC, PP hay PS.
SV: Nguyễn Thị Thu Hoài Lớp: K45E4
8
Trường Đại học Thương mại
Những nhân tố cần xét đến khi đóng gói:
Yêu cầu chung về bao bì đóng gói hàng hoá ngoại thương là “an toàn, rẻ
tiền và thẩm mỹ”. Điều này có nghĩa là: bao bì phải đảm bảo sự nguyên vẹn về
chất lượng và số lượng hàng hoá từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng, phải
đảm bảo hạ giá thành sản phẩm nhưng đồng thời phải đảm bảo thu hút sự chú ý
của người tiêu dùng. Khi lựa chọn loại bao bì, loại vật liệu làm bao bì và phương
pháp bao bì, chủ hàng xuất nhập khẩu phải xét đến những điều đã thoả thuận
trong hợp đồng, thứ hai phải xét đến tính chất của hàng hoá (như lý tính, hoá
tính, hình dạng bên ngoài, màu sắc, trạng thái của hàng hoá) đối với những sự
tác động của môi trường và của điều kiện bốc xếp hàng Ngoài ra cần xét đến

Ký mã hiệu là nhưng dấu hiệu bằng chữ, bằng số hoặc bằng hình vẽ được
ghi trên các bao bì bên ngoài nhằm thông báo những chi tiết cần thiết cho việc
giao nhận, bốc dỡ hoặc bảo quản hàng hoá.
Mục đích của kẻ mã ký hiệu:
• Bảo đảm thuận lợi cho công tác giao nhận.
• Hướng dẫn phương pháp, kỹ thuật bảo quản, vận chuyển, bốc dỡ hàng
hoá.
Kẻ mã kỹ hiệu trên bao bì ngoài cho hàng hoá xuất khẩu phải đảm bảo
được các yêu cầu sau:
• Nội dung thông tin của kỹ mã hiệu phải đáp ứng được mục đích đề ra.
• Ký mã hiệu phải đơn giản và nhất quán về mọi chi tiết chủ yếu, cố
gắng sử dụng tối đa các ký hiệu đã được tiêu chuẩn hoá quốc tế để mọi
người dễ đọc, dễ hiểu.
• Phải kẻ ký mã hiệu ở vị trí dễ phát hiện và nhận ngay ra từ xa. Phải
dùng vật liệu và kỹ thuật kẻ ký mã hiệu đảm bảo được chất lượng của
các ký mã hiệu nhưng không làm ảnh hưởng đến chất lượng của hàng
hoá.
SV: Nguyễn Thị Thu Hoài Lớp: K45E4
10
Trường Đại học Thương mại
Nội dung ký mã hiệu bao gồm:
• Những dấu hiệu cần thiết đối với người nhận hàng như: tên người
nhận và tên người gửi, trọng lượng tịnh và trọng lượng cả bì, số hợp
đồng, số hiệu chuyến hàng, số hiệu kiện hàng.
• Những chi tiết cần thiết cho việc tổ chức vận chuyển hàng hoá như:
tên nước và tên địa điểm hàng đến, tên nước và tên địa điển hàng đi,
hành trình chuyên chở, số vận đơn, tên tàu, số hiệu của chuyến đi.
• Những dấu hiệu hướng dẫn cách xếp đặt, bốc dỡ và bảo quản hàng
hoá trên đường đi từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ như: dễ vỡ, mở chỗ
này, tránh mưa, nguy hiểm

và chất lượng của kỹ mã hiệu.
• Kiểm tra số lượng và trọng lượng: số lượng và trọng lượng của mỗi
bao kiện, tổng số lượng và trọng lượng.
Việc kiểm tra ở cơ sở do tổ chức kiểm tra chất lượng sản phẩm tiến hành.
Tuy nhiên thủ trưởng đơn vị vẫn là người chịu trách nhiệm chính. Việc kiểm
dịch thực vật ở cơ sở do phòng bảo vệ thực vật (của quận, huyện, nông trường)
tiến hành. Việc kiểm dịch động vật do phòng thú y của quận, huyện hoặc nông
trường tiến hành.
- Ở các cửa khẩu: Việc kiểm tra hàng ở các cửa khẩu có tác dụng kiểm tra lại kết
quả kiểm tra ở các cơ sở.
Trong thường hợp theo quy định của Nhà nước hoặc theo yêu cầu của
người mua (đã được quy định trong hợp đồng), việc giám định hàng hoá đòi hỏi
phải được tiến hành bởi các tổ chức giám định độc lập như: Vinacontrol,
Foodcontrol Khi đó căn cứ vào hợp đồng và L/C người xuất khẩu phải xác
SV: Nguyễn Thị Thu Hoài Lớp: K45E4
12
Trường Đại học Thương mại
định: Nội dung và yêu cầu giám định, cơ quan giám định, đơn xin giám định
hàng hoá, hợp đồng L/C. Trong đơn có nội dung chính như: Tên, địa chỉ của cơ
quan xin giám định, tên hàng, số kiện, trọng lượng, tình trạng hàng hoá, nơi đi,
địa chỉ gửi, địa chỉ nhận, phương tiện vận tải, yêu cầu giám định, số bản chứng
thư xin cấp.
Cơ quan giám định căn cứ vào đơn và L/C để giám định hàng hoá. Kiểm tra
thực tế về số lượng, trọng lượng, bao bì, ký mã hiệu, chất lượng hàng hoá và cấp
chứng thư. Chứng thư là một trong những chứng từ quan trọng trong việc thanh
toán và giải quyết các tranh chấp sau này.
SV: Nguyễn Thị Thu Hoài Lớp: K45E4
13
Trường Đại học Thương mại
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân

quanh các vấn đề trong từng khâu của quy trình chuẩn bị hàng nông sản xuất
khẩu tại công ty, nhằm bổ sung và làm rõ những nội dung mà phiếu điều tra trắc
nghiệm chưa thể hiện rõ ràng. Qua đó thấy được các vấn đề còn vướng mắc tồn
tại trong công ty để từ đó nghiên cứu, đưa ra các giải pháp khắc phục những vấn
đề này.
2.2 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của nhân tố môi trường tới
quản trị quy trình chuẩn bị hàng nông sản xuất khẩu sang thị trường EU tại
Công ty cổ phần INTIMEX Việt Nam:
2.2.1 Tổng quan về Công ty cổ phần INTIMEX Việt Nam:
Quá trình hình thành và phát triển:
Công ty cổ phần INTIMEX tiền thân là công ty XNK INTIMEX được
thành lập ngày 10/08/1979 với tên gọi ban đầu là Công ty XNK nội thương, là
doanh nghiệp đầu tiên làm xuất nhập khẩu của Bộ Nội thương. Đây là trung tâm
xuất khẩu của ngành nội thương, có nhiệm vụ thông qua xuất khẩu để cải thiện
cơ cấu quỹ hàng hoá do ngành nội thương quản lý, đồng thời góp phần đẩy mạnh
xuất khẩu. Công ty INTIMEX được hình thành từ 3 công ty: Công ty XNK Nội
thương, Hợp tác xã Hà Nội, Và Tổng công ty bách hoá tổng hợp trực thuộc Bộ
Thương mại. Sự hợp nhất này được thực hiện theo nghị định 338/TM.
SV: Nguyễn Thị Thu Hoài Lớp: K45E4
15
Trường Đại học Thương mại
Sau nghị quyết của Hội nghị Trung Ương 6 của Trung Ương năm 1986 về
việc mở cửa thị trường, công ty đã cho chuyển đổi kinh doanh theo cơ chế khoán
đến từng đơn vị, phòng kinh doanh.
Để mở rộng địa bàn hoạt động, INTIMEX đã thành lập thêm các chi nhánh,
xí nghiệp tại Tây Ninh, Bình Dương, Nghệ An, Đắc Lắc. Ngoài ra đơn vị còn
sáp nhập thêm các đơn vị khác có nhiều khó khăn thua lỗ như: Công ty nông sản
3 (Bộ Thương mại), xí nghiệp nuôi tôm Sầm Sơn, nhà máy thuỷ sản Hoằng
Trường (tỉnh Thanh Hoá) nhờ đó mà INTIMEX đã phát triển mở rộng thị
trường kinh doanh, sản xuất cả về lượng và chất.

• Kinh doanh, chế biến hàng nông sản, thực phẩm, thuỷ, hải sản, thủ
công mỹ nghệ.
• Nuôi trồng giống thuỷ, hải sản.
• Kinh doanh nguyên vật liệu xây dựng, sắt thép, trang thiết bị y tế.
• Mua bán đá quý, thuốc lá nội, thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm,
giống thuỷ, hải sản, phân bón các loại.
• Kinh doanh phương tiện vận tải (ô tô, xe máy).
• Kinh doanh dịch vụ viễn thông (không bao gồm thiết lập mạng).
• Lữ hành nội địa, lữ hành quốc tế và các dịch vụ phục vụ khách du lịch
(không bao gồm kinh doanh quán bar, phòng karaoke, vũ trường).
• Kinh doanh khách sạn, nhà ở, cho thuê văn phòng, cửa hàng, kho bãi.
• Dịch vụ chuyển khẩu, chuyển tải hàng hoá.
• Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi,
hạ tầng đô thị, khu công nghiệp, công trình cấp thoát nước.
• Sản xuất, gia công, lắp ráp xe máy và các phụ tùng xe máy.
SV: Nguyễn Thị Thu Hoài Lớp: K45E4
17
Trường Đại học Thương mại
• Sản xuất, gia công hàng may mặc.
• Xuất nhập khẩu các sản phẩm, hàng hoá công ty kinh doanh.
Đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, doanh nghiệp chỉ kinh
doanh khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
2.2.2 Tình hình xuất khẩu mặt hàng nông sản tại Công ty cổ phần
INTIMEX Việt Nam:
2.2.2.1 Tình hình chung:
Thành lập năm 1979, Công ty cổ phần INTIMEX Việt Nam có chức năng
chính là kinh doanh thương mại, trong đó bao gồm cả kinh doanh xuất khẩu các
mặt hàng nông sản. Công ty đã thiết lập được quan hệ thương mại với rất nhiều
đối tác trên thế giới và rất nổi tiêng với các sản phẩm nông sản xuất khẩu có chất
lượng cao.

khó tính. Để thu hút được người tiêu dùng, hàng hoá không chỉ có chất lượng
cao mà còn phải bắt mắt. Bởi thế các doanh nghiệp cần phải chăm sóc sản phẩm
từ khâu in ấn đến màu sắc của nhãn mác trên bao bì.
Lâu nay EU được đánh giá là thị trường tiêu thụ lớn nhất của hàng nông sản
Việt Nam. Nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam được đối tác đánh giá có chất
lượng tốt nhất.
Riêng với INTIMEX, EU là một trong những thị trường xuất khẩu chính
với những đối tác lớn và có uy tín lâu năm. Hàng năm, công ty XKgần 100.000
tấn nông sản vào thị trường này, đạt doanh thu xấp xỉ 150 triệu USD.
SV: Nguyễn Thị Thu Hoài Lớp: K45E4
19
Trường Đại học Thương mại
Bảng 2: Tình hình XK một số mặt hàng nông sản sang EU từ 2007 – 2009
của công ty
(Đơn vị: tấn)
Sản phẩm Năm Tỷ lệ
2007 2008 2009 2008/2007 2009/2008
Cà phê 11907 33241 19122,12 279.17% 57,52%
Hạt tiêu 2751,59 3294,1 3011,05 119,7% 91,4%
Cơm dừa 394,5 613,77 581,58 155,58% 94.67%
Tinh bột sắn 1270 2013,85 2976 158,57% 147,77%
(Nguồn: Báo cáo tổng kết tình hình XK của Công ty cổ phần INTIMEX Việt
nam các năm 2007, 2008, 2009)
Qua bảng trên ta thấy, trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của nhiều
yếu tố nên sản lượng XK các mặt hàng nông sản của công ty có nhiều biến động,
và thiếu tính ổn định. Năm 2008, sản lượng XK của các mặt hàng đều tăng. Tuy
nhiên, sang đến năm 2009, hầu hết sản lượng XK của các sản phẩm nông sản đều
giảm. Nguyên nhân là do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu khiến cho các quốc
gia thắt chặt chi tiêu và giảm nhập khẩu hàng hoá. Do đó công ty gặp khá nhiều
khó khăn trong việc tìm đối tác xuất khẩu.

chất lượng và không thể xuất khẩu được.
2.2.3.2 Các nhân tố bên trong:
Nguồn lực con người:
Năng lực của con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để đảm bảo thành
công cho doanh nghiệp. Trình độ công nhân viên bao gồm sự am hiểu về thị
SV: Nguyễn Thị Thu Hoài Lớp: K45E4
21
Trường Đại học Thương mại
trường, hàng hoá, nghiệp vụ XNK, trình độ ngoại ngữ, sự thông hiểu luật pháp
của quốc gia mình và luật của quốc gia bạn hàng cũng như các điều lệ, luật quốc
tế, tập quán quốc tế.
Với một đội ngũ nhân viên lành nghề, giàu kinh nghiệm, một mạng lưới bán
hàng xuyên suốt Việt Nam với mối quan hệ bền vững và tốt đẹp, INTIMEX đã
được chứng minh là một đối tác tin cậy của các thương nhân Việt Nam và trên
thế giới.
Điều kiện cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật:
Đây là yếu tố vô cùng quan trọng, có tác động làm tăng hiệu quả trong công
tác chuẩn bị hàng XK, là yếu tố cơ bản nâng cao chất lượng đồng thời hạ giá
thành sản phẩm, tăng năng suất lao động giúp các sản phẩm của doanh nghiệp có
thể thâm nhập và đứng vững trên thị trường.
Hiện nay với điều kiện cơ sở vật chất hiện đại, INTIMEX đã không ngừng
nâng cao các sản phẩm nông sản cả về chất lượng lẫn sản lượng. Năm 2002,
công ty đã đầu tư 20 tỷ cho nhà máy tiêu sạch tại Bình Dương, đến nay đã hoàn
vốn và có lãi từ năm 2006. Nhà máy tinh bột sắn xây dựng năm 2003 ở Thanh
Chương, Nghệ An lúc đầu là 50 tấn sắn/ ngày, đến nay đã nâng công suất lên
180 tấn/ ngày, hàng năm XK trên 20.000 tấn từ năm 2007 đã bắt đầu có lãi và trở
thành nhà máy lớn nhất miền Bắc hiện nay. Hiện INTIMEX đang đầu tư 2 nhà
máy chế biến cà phê chất lượng cao tại Bình Dương và Buôn Ma Thuật với công
suất mỗi nhà máy 20.000 tấn/ năm
Trình độ tổ chức quản lý:

2.3.1 Tập trung hàng XK:
Công tác tập trung hàng nông sản XK có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
quy trình chuẩn bị hàng XK của công ty. Tập trung hàng XK để nhằm đảm bảo
cung cấp đúng hàng hoá, đủ về số lượng, kịp thời gian với chi phí thấp.
SV: Nguyễn Thị Thu Hoài Lớp: K45E4
23
Trường Đại học Thương mại
Xác định nhu cầu hàng XK:
Là xác định về mặt hàng cẩn XK như: chủng loại, kích cỡ, chất lượng, số
lượng, bao bì, kỹ mã hiệu, và thời gian dự định xuất hàng để làm cơ sở xác định
các nguồn cung cấp tiềm năng.
Những yêu cầu về quy cách, phẩm chất cũng như thời gian giao hàng được
dựa trên hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được kỹ kết từ trước giữa công ty
với bạn hàng, hoặc dựa trên đơn đặt hàng, chấp nhận chào hàng được gửi về từ
phía đối tác nước ngoài.
Nhận dạng và phân loại nguồn hàng XK:
Theo kết quả phỏng vấn, các mặt hàng nông sản XK chính của công ty bao
gồm: cà phê, hạt tiêu, hạt điều, tinh bột sắn, gạo, lạc nhân, cơm dừa Trong đó,
cà phê và hạt tiêu là 2 mặt hàng XK chủ lực, chiếm 20% sản lượng cà phê và
15% sản lượng tiêu XK của cả nước, đưa INTIMEX trở thành doanh nghiệp XK
nổi tiếng trong ngành thương mại cũng như trong và ngoài nước.
Đối với việc phân loại nguồn hàng XK, 100% người được hỏi cho biết tiêu
chí phân loại hàng XK của công ty là theo khu vực địa lý. Với việc sử dụng tiêu
chí này, công ty có thể dễ dàng thu mua được khối lượng hàng nông sản lớn
phục vụ cho XK. Khu vực thu mua chủ yếu của công ty là khu vực phía Bắc và
Đông Bắc. Ngoài ra còn có một số khu vực khác như là: Bắc Giang, Lào Cai,
Hưng Yên, Lạng Sơn… HIện nay, 90% mặt hàng nông sản XK của công ty
được thu mua tại khu vực phía Bắc và Đông Bắc, 10% còn lại được thu mua từ
các khu vực khác.
Các hình thức giao dịch:

SV: Nguyễn Thị Thu Hoài Lớp: K45E4
25

Trích đoạn Một số thành tựu đạt được:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status