CỘNG HỊA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bảo Thắng, ngày 15 tháng 02 năm 2012
Kính gửi: Hội đồng thẩm định sáng kiến huyện Bảo Thắng
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thúy Mai
Sinh ngày: 18 tháng 7 năm 1961
Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
Nơi cơng tác: Trường THCS thị trấn Phố Lu
Trình độ chun mơn: Đại học sư phạm. Khoa Sinh học
A. Tên sáng kiến
NÂNG CAO KĨ NĂNG GIẢI BÀI TẬP DI TRUYỀN PHÂN TỬ (ADN) SINH
HỌC LỚP 9- THCS
B. Mơ tả các giải pháp
I- Lí do chọn đề tài
Ngày nay khối lượng tri thức khoa học trên thế giới khám phá ra ngày càng
tăng như vũ bão nên chúng ta khơng thể hi vọng rằng trong thời gian nhất định ở
trường phổ thơng có thể cung cấp cho học sinh một kho tàng tri thức khổng lồ mà
lồi người đã tích luỹ được. Vì vậy nhiệm vụ của người giáo viên khơng những
phải cung cấp cho học sinh vốn tri thức cơ bản mà điều quan trọng là còn phải
trang bị cho học sinh khả năng tự làm việc, tự nghiên cứu để tìm hiểu và nắm bắt
tri thức.
Phương pháp dạy học ngày nay là phát huy tính tích cực, chủ động, tư duy
sáng tạo của người học, thầy là người chỉ đạo, tổ chức hướng dẫn người học giúp
người học tìm ra kiến thức.
Mặt khác Sinh học là một bộ mơn khó và mang tính chất trừu tượng cao, đặc
biệt là phần bài tập Di truyền phân tử lại càng khó và rất mới mẻ đối với học sinh
lớp 9 THCS vì nó nghiên cứu về vật chất Di truyền của các cơ thể sống. Sinh học
là mơn khoa học cơ bản trong nhà trường, nó góp phần hình thành nhân cách và là
cơ sở để học tập, nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất
cho xã hội. Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới phương pháp, sử dụng
các kĩ thuật dạy học trên cả nước. Mỗi thầy, cô giáo chúng ta phải có nhiệm vụ
vậy đòi hỏi các em phải biết vận dụng nội dung kiến thức, phương pháp thích hợp
để tìm ra đáp án đúng cho bài tập Di truyền Sinh học.
Chính vì những lí do trên tơi thiết nghĩ việc “Nâng cao kĩ năng giải bài tập
Di truyền phân tử Sinh học lớp 9- THCS” là rất cần thiết và nếu làm tốt kĩ năng
này sẽ giúp các em có thái độ nghiêm túc, đúng đắn, ham mê học tập bộ mơn và
đặc biệt là các em khơng còn “sợ” bài tập Sinh học như trước đây
2- Đối tượng nghiên cứu
Học sinh khối 9
– trường THCS thị trấn Phố Lu.
3- Phạm vi nghiên cứu.
Các dạng bài tốn Di truyền phân tử trong chương trình Sinh học 9 THCS
gồm: hai dạng cơ bản
2
- Bài toán về cấu tạo ADN
- Bài toán về cơ chế nhân đôi ADN.
III- Cơ sở lí luận:
Như chúng ta đã biết phương pháp tích cực là một thuật ngữ rút gọn được
dùng ở nhiều nước, để chỉ những phương pháp giáo dục dạy học theo hướng phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
Phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá hoạt động
nhận thức của người học nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người
học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy.
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Rõ ràng là cách dạy chỉ đạo
cách học nhưng ngược lại thói quen học tập của trò có ảnh hưởng tới cách dạy của
thầy.
Trong đổi mới phương pháp phải có sự hợp tác của thầy và trò, có sự phối
hợp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công. Thuật ngữ :
“ phương pháp tích cực” hàm chứa cả phương pháp dạy của thầy và phương
pháp học của trò.
chỉnh hoạt động dạy của thầy.
Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ
năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. Liên quan đến điều này, giáo viên cần
tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau, tự đánh giá
đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là một năng lực rất cần cho sự thành đạt
trong cuộc sống mà nhà trường cần phải trang bị cho học sinh.
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người
năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội thì việc kiểm tra đánh giá không thể
dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải
khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống
thực tế.
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng
vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế,
tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực
chiếm lĩnh kiến thức nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ
năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình.
Để làm được điều này giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều
mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố
vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi, hào hứng, tranh luận sôi nổi của học
sinh. Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành
nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn
biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên
Học sinh lớp 9 ở lứa tuổi 14 và 15, ở giai đoạn này các em muốn tự khẳng
định mình, ưa thích hoạt động tự quản, có năng lực tư duy, phân tích, tổng hợp,
năng động sáng tạo trong học tập. Do đó trên cơ sở của bài giảng đã được nghiên
cứu giáo viên có thể nâng cao vai trò của học sinh với những dự kiến có định
hướng tạo điều kiện cho học sinh tham gia xây dựng bài, có như vậy hiệu quả giờ
dạy mới cao.
Muốn làm được như vậy giáo viên cần hướng cho học sinh biết cách giải
quyết vấn đề từng bước một, măt khác phải hình thành cho các em kĩ năng nghiên
Đại trà
2007-2008 12 % 23% 73 % 72% 15 % 5%
2008-2009 12 % 23% 72 % 71% 16 % 6%
2009-2010 11% 22% 72,5 % 71,5% 16,5 % 6,5%
Qua điều tra sơ bộ cho thấy chất lượng học tập của học sinh, tỉ lệ điểm dưới
trung bình ở các lớp đại trà còn chiếm với tỉ lệ khá cao. Với trách nhiệm của người
thầy tôi nghiên cứu, tìm hiểu rõ nguyên nhân của việc học sinh có chất lượng học
phần Di truyền phân tử quá yếu là do kiến thức trừu tượng, khó học, khó nhớ vì
vậy việc hiểu và giải được các bài tập phần này lại càng khó. Vì vậy cần phải sử
dụng phương pháp dạy học tích cực để nâng dần chất lượng dạy và học đáp ứng
được yêu cầu giáo dục hiện tại và lâu dài.
2- Quá trình thực hiện:
Để có được buổi hướng dẫn học sinh giải bài tập Di truyền phân tử đạt kết
quả. Tôi đã nghiên cứu kỹ sách giáo khoa, các bài dạy lí thuyết, đúc rút ra thành
hai phần
- Phần thứ nhất: Tóm tắt nội dung kiến thức cơ bản trước khi soạn bài, đọc
các tài liệu tham khảo về sinh học nâng cao dành cho giáo viên và học sinh ôn thi
học sinh giỏi, tham khảo một số đề thi học sinh giỏi cấp huyện, tỉnh, các sách viết
về chuyên đề sinh học lớp 9 do Bộ Giáo dục và một số tỉnh bạn biên soạn. Kết
hợp với chương trình dạy lớp 9 tôi đã biên soạn thành hệ thống nội dung kiến thức
và bài tập theo mạch kiến thức từ dễ đến khó sao cho phù hợp với từng đối tượng
học sinh do tôi phụ trách.
5
- Phần thứ hai: tìm tòi, nghiên cứu để lựa chọn nội dung cơ bản của tiết dạy,
chọn phương pháp phù hợp để học sinh tiếp thu kiến thức của bài học một cách
thoải mái, không bị gò bó, thụ động, gây được sự hứng thú học đối với học sinh.
Từ đó đã định ra những kiến thức cần chuẩn bị cho học sinh. Những thao tác tư
duy cần được sử dụng thành thạo, những đơn vị kiến thức cần truyền thụ, trao đổi
với các đồng nghiệp trong nhóm, tổ chuyên môn, từng bước thử nghiệm qua từng
bài dạy, chuẩn bị các kiến thức cơ bản cho nội dung bài này. Giảng kỹ các kiến
•
2
N
: số nuclêôtit của 1 mạch.
• L: Chiều dài của ADN
6
• M: Khối lượng của ADN.
Mỗi nuclêotit dài 3,4A và có khối lượng trung bình là 3000đvC nên:
L=
2
N
.3,4AN =
2 ( )
3,4
L A
M= Nx3000đvC.
2- Bài tập áp dụng và hướng dẫn giải:
Bài số 1: Một phân tử ADN dài 1,02mm. Xác định số lượng nuclêotit và
khối lượng của phân tử ADN.
Giải:
Chiều dài của phân tử ADN:
1,02mm = 1,02 x 10
7
A
0.
Số lượng nuclêôtit của phân tử ADN:
N=
2
3,4
xL
b, Tính chiều dài của đoạn ADN.
Giải.
a, Số lượng và tỉ lệ từng loại nuclêôtit của đoạn ADN.
Tổng số nuclêôtit của đoạn ADN.
7
N =
300
M
=
1440000
300
= 4800 (nu).
Số lượng và tỉ lệ từng loại nuclêôtit của đoạn ADN.
A = T = 960 (Nu) =
960
4800
. 100% = 20%
Suy ra: G = X = 50% - 20% = 30%.
= 30% x 4800 = 1440 (nu).
b, Chiều dài của đoạn phân tử ADN :
L =
2
N
.3,4A
0
=
4800
2
x 3,4A
, T
1
, G
1
, X
1
(mạch 1) A
1
= T
2
T
1
= A
2
T
2
, A
2
, X
2
, G
2
(mạch 2) G
1
=X
2
X
1
= G
2
Vậy số lượng từng loại nuclêôtit của gen đều bằng nhau.
A = T = G = X = 25% x 3000= 750(nu)
b, Số lượng từng loại nuclêôtit của mỗi mạch gen :
Theo đề bài và theo NTBS, ta có :
A
1
= T
2
= 300(Nu).Suy ra : A
1
= T
2
= A - A
1
= 750 - 300= 450(nu)
Suy raG
1
= X
2
= G - G
1
= 750 - 250 = 500(nu).
Bài 4 : Gen có khối lượng 707400đvC.
Trên mạch thứ nhất của gen có 320 Ađênin và 284 Tinin. Trên mạch thứ hai
của gen có 325Guanin. Xác định số lượng từng loại nuclêôtittrên mỗi mạch gen và
của cả gen.
Giải.
Số lượng nuclêôtit của gen.
N =
300
+ T
1
+ G
1
+, X
1
=
2
N
.
Suy ra : G
1
=
2
N
- (A
1
+ T
1
+ X
1
).
Nên : G
1
=X
2
= 1179- (320+284+325)= 250(nu).
Số lượng từng loại loại nuclêôtitcủa cả gen.
A = T = A
1
60%
2
= 30%
G = X = 50%- 30% = 20%
Số lượng từng loại nuclêôtit của gen :
A = T= 30% x 2700= 810(nu).
G = X= 20% x2700=540(nu).
b, Số liên kết hyđrô của gen.
H= 2A + 3G = (2 x 810) + (3 x 540) = 3240 liên kết.
Bài 6: Một gen có 2720 liên kết hyđrôvà có số nuclêôtit loại X là 480. Xác
định:
a, Số lượng từng loại nuclêôtit của gen.
b, Chiều dài của gen
Giải
a) Số lượng từng loại nuclêôtit của gen.
Theo đề bài G=X=480(nu)
Gen có 2720 liên kết hyđrô, nên
H= 2A+3G
⇔
2720=2.A+ (3x480)
10
Suy ra: A=
2720 (3 480)
2
x−
= 640(nu).
Vậy lượng từng loại nuclêôtit của gen: A=T=640(nu); G=X=480(nu).
b) Chiều dài gen:
Số lượng nuclêôtittrên một mạch gen:
2
X A
= 6600(nu).
Đoạn ADN có 8910 liên kết hiđrô nên:
2A + 3G = 8910
Áp dụng: N = 2A = 2G = 6600. Suy ra: G = 2310(nu).
A + G =
2
N
⇒
A =
2
N
- G =
6600
2
- 2310 = 990(nu).
Vậy số lượng từng loại nuclêôtit của đoạn ADN là:
A = T =990(nu); G = X = 2310(nu).
b, Số lượng từng loại nuclêôtit trên mỗi mạch của đoạn ADN
Theo đề bài và theo NTBS, ta có:
A
1
=T
2
= 270(nu)
⇒
T
1
=A - A
1
2
N
= A + G = 840 + 360 = 1200(nu)
Chiều dài của gen thứ nhất:
L =
2
N
x 3,4A
0
= 1200 x 3,4A
0
= 4080A
0
.
- Xét gen II.
2A + 3G =2760
(2 x 480) + 3G = 2760.
Suy ra:G =
2760 (2 480)
3
x−
= 600(nu).
Số lượng nuclêôtit của mỗi mạch gen:
2
N
= A + G = 480 + 600 = 1080 (nu).
Chiều dài của gen II :
L =
2
=
2 4080
3,4
x
= 2400 (nu)
- Xét gen thứ nhất:
A – G = 5%.:
A + G = 50%
Suy ra: 2A = 55%
⇒
A =
55%
2
= 27,5%.
G = 50% - 27,5% = 22,5%
Số lượng từng loại nuclêôtit của gen.thứ nhất:
A = T = 27,5% x 2400 = 660 (nu).
G = X = 22,5% x 2400 = 540 (nu).
- Xét gen thứ hai :
A cuả gen thứ hai ít hơn A của gen thứ nhất 180 nuclêôtit.
Suy ra: số lượng từng loại nuclêôtit của gen thứ hai là:
A = T = A
genI
- 180 = 660 – 108 = 480 (nu).
G = X =
2
N
- A =
2400
2
1, Hướng dẫn- Công thức: Phân tử ADN thực hiện nhân đôi
Số lần nhân đôi Số ADN con
1 2 = 2
1
2 4 = 2
2
3 8 = 2
3
Gọi x là số lần nhân đôi của ADN thì số phân tử ADN được tạo ra là: 2
x
2. Bài tập và hướng dẫn giải:
Bài 10: Một gen nhân đôi một số lần và đã tạo được 32 gen con. Xác định số
lần nhân đôi của gen.
Giải.
Gọi x là số lần nhân đôi của gen, ta có số gen con tạo ra là:
2
x
= 32 = 2
5
.
Suy ra x = 5.
Vậy gen đã nhân đôi 5 lần.
Bài 16 : Một đoạn phân tử ADN có trật tự các nuclêôtit trên một mạch đơn
như sau :
- A – T – X – A–G – X – G – T – A
a, Xác định trật tự các nuclêôtit của môi trường đến bổ sung với đoạn mạch trên.
b, Viết hai đoạn phân tử ADN mới được hình thành từ quá trình nhân đôi của doạn
ADN nói trên.
Giải
- 1). A
ADN
.
G
mt
= X
mt
= (2
x
- 1). G
ADN
.
1- Bài tập và hướng dẫn giải.
Bài 11 : Mạch 1 của gen có 200 ađênin và 120guanin; mạch 2 của gen có
150a đênin và 130 guanin. Gen đó nhân đôi 3 lần liên tiếp. Xác định từng loại
nuclêôtit môi trường cung cấp cho gen nhân đôi.
Giải.
Số lượng từng loại nuclêôtit gen.
A = T = A
1
+ A
2
= 200 + 150 – 350 (nu)
G = X = G
1
+ G
2
= 120 + 130 – 250 (nu).
Số lượng từng loại nuclêôtit môi trường cung cấp cho gen nhân đôi :
A
2
A =
3
2
x 600 = 900 (nu)
Gọi x là số lần nhân đôi của gen, ta có số guanin môi trường cung cấp cho
gen nhân đôi là :
G
mt
= (2
x
- 1) . G gen.
⇔
6300 = (2
x
- 1) . 900
⇒
(2
x
- 1) =
6300
900
= 7
Số gen con được tạo ra.
2
x
= 7 + 1 = 8 gen.
b, Số liên kết hiđrô của gen :
3,4
x
= 2460 (nu).
16
Số lượng từng loại nuclêôtit của gen:
A = T = 20% x 2460 = 492 (nu).
G = X =
2
N
- A =
2460
2
- 492 = 738 (nu).
Số lượng từng loại nuclêôtit môi trường đã cung cấp cho gen nhân đôi :
A
mt
= T
mt
= (2
x
- 1). A
= (2
4
- 1) x 492 = 7380 (nu).
G
mt
= X
mt
= (2
x
2 1−
= 3240 liên kết.
2A + 3G = HHay (2 x 360) + 3G = 3240
⇒
G =
3240 (2 360)
3
x−
= 840 (nu)
Vậy số lượng từng loại nuclêôtit của gen:
A = T = 360 (nu).
G = X =840 (nu)
b, Số liên kết hyđrô có trong các gen con
17
Số gen con tạo ra: 2
x
= 2
3
= 8 gen.
Số liên kết hyđrô có trong các gen con
3240 x 8 = 25920 liên kết.
C- CHÚ Ý KHI LÀM BÀI TẬP DI TRUYỀN PHÂN TỬ.
1. Đối với dạng bài cấu tạo ADN:
- Giáo viên phải cung cấp cho học sinh phần Hướng dẫn và công thức giải đối
với từng dạng bài.
- Giải mẫu cho học sinh ít nhất mỗi dạng 01 bài.
- Yêu cầu học sinh tự giải sau đó đối chiếu với bài mẫu của giáo viên.
2- Đối với dạng bài cơ chế nhân đôi ADN
- Giáo viên tóm tắt kiến thức cơ bản của phần cơ chế nhân đôi của ADN.
- Giới thiệu các dạng bài tập cơ bản và hướng dẫn cách giải đối với từng
quả.
Học sinh không còn thấy “Khó” và “Sợ” làm bài tập Di truyền.
18
D. Hữu ích của giải
Đề tài đã quan tâm tới tinh thần đổi mới của phương pháp dạy học trong
trường THCS đó là đề cao vai trò chủ động, tích cực của học sinh trong hoạt động
nhận thức, cảm thụ và ứng dụng các kiến thức, kĩ năng giải bài tập, giáo viên
không chỉ là người biết truyền thụ kiến thức, kĩ năng Sinh học cho học sinh mà có
cả vai trò tổ chức, hướng dẫn học sinh tìm tòi để khám phá, chiếm lĩnh tri thức.
Giúp giáo viên có định hướng đúng khi soạn giảng, tạo ra những bài giảng đạt hiệu
quả cao. Tạo được hứng thú học tập, ham mê nghiên cứu, óc sáng tạo, nâng cao
hiệu quả học tập. Phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh, góp
phần đào tạo thế hệ trẻ năng động, sáng tạo trong công việc, đáp ứng yêu cầu mới
của thời đại.
Đối với giáo viên: Từ khi nghiên cứu và áp dụng đề tài trong phần dạy về Di
truyền học đã xác định chính xác những kiến thức cơ bản, thiết lập các mối quan
hệ, xây dựng được công thức và hướng dẫn giải đối với từng dạng bài cụ thể cho
phù hợp với từng đối tượng học sinh.
Đối với học sinh: Khi các em đã có kĩ năng thành thạo về giải bài tập, lớp học
sôi nổi hơn, không khí lớp học không còn nhàm chán, tẻ nhạt, nặng nề. Học sinh
tích cực hoạt động chiếm lĩnh tri thức, từ đó kết quả học tập được nâng lên rõ rệt.
Học sinh không chỉ ham thích học phần Di truyền học mà môn Sinh học cũng được
các em đón nhận hào hứng, có nhiều học sinh xung phong vào các đội tuyển học
sinh giỏi môn Sinh học và đạt giải cao trong các kì thi học sinh giỏi cấp huyện, cấp
tỉnh.
E. Khả năng phổ biến và nhân rộng
Đề tài “Nâng cao kĩ năng giải bài tập Di truyền phân tử môn Sinh học lớp
9THCS” được áp dụng cho tất cả học sinhlớp 9-THCS. Mục tiêu cơ bản của đề tài
này là đào tạo những con người có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của
cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo. Khắc
là mơn khoa học cơ bản trong nhà trường, nó góp phần hình thành nhân cách và là
cơ sở để học tập, nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất
cho xã hội. Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới phương pháp, sử dụng
các kĩ thuật dạy học trên cả nước. Mỗi thầy, cô giáo chúng ta phải có nhiệm vụ
xây dựng cho mình một phương pháp giảng dạy tích cực để khắc phục phương
pháp giảng dạy thụ động truyền thụ kiến thức một chiều
Vì vậy việc tìm ra phương pháp nâng cao chất lượng dạy học là một vấn đề
cực kì quan trọng.
Với mong muốn được góp một phần nhỏ bé để thực hiện tốt nhiệm vụ trên,
với kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm, tơi đã tích lũy được một số kinh nghiệm
giúp giáo viên làm tốt việc hướng dẫn học sinh có kĩ năng thành thạo trong việc
giải các bài tập phần Di truyền phân tử. Từ đó xây dựng cho các em niềm ham mê
nghiên cứu, ham thích học tập bộ mơn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của
nhà trường. Vì trong nội dung để học tốt, dạy tốt mơn Sinh học khơng thể thiếu kĩ
năng này và đây cũng chính là nền tảng để các em học tốt mơn sinh học bậc THPT.
Do đó nội dung chủ yếu của kinh nghiệm này là một số kinh nghiệm của bản thân
đã rút ra trong q trình giảng dạy trực tiếp mơn Sinh học 9 tại trường THCS thị
trấn Phố Lu, với kinh nghiệm này tơimong muốn sẽ giúp đỡ các em để các em có
kĩ năng giải một số dạng bài tập di truyền trong chương trình SGK và trong sách
nâng cao của bộ mơn Sinh học lớp
9-THCS.
II / Mục đích và nhiệm vụ của sáng kiến
Mục đích của sáng kiến là dạy học sinh cách nghiên cứu, lòng say mê học tập
bộ mơn, tìm tòi tài liệu góp phần phát triển khả năng tư duy trừu tượng, sáng tạo
cùng với các thao tác tư duy: rèn luyệnkỹ năng phân tích, tổng hợp, từ đó đưa ra
22
phương pháp giải một số dạng bài tập Di truyền phân tử bộ môn Sinh học một cách
chính xác. Để làm được điều đó giáo viên cần rèn luyện cho học sinh kĩ năng nhìn
nhận các vấn đề một cách tổng quát từ những nội dung trừu tượng đến những vấn
đề cụ thể, tập nhìn nhận một bài tập theo quan điểm động, có kĩ năng thiết lập mối
Học sinh trên địa bàn thi trấn Phố Lu hầu hết đều ngoan, chăm học, một số
em thông minh tiếp thu kiến thức nhanh, có ý thức và tinh thần học tập cao. Các
em lại được tiếp nhận kiến thức qua nhiều phương tiện truyền thông để mở mang
thêm hiểu biết. Điều kiện học tập tốt, nhà trường được trang bị nhiều thiết bị, đồ
23
dùng học tập, SGK và các tài liệu tham khảo. Đa số gia đình các em đầu tư và
giành nhiều thời gian cho các em học tập.
2.1-Khó khăn:
Thời lượng phân phối cho phần bài tập Di truyền phân tử Sinh học quá ít (1
tiết), số dạng bài tập nhiều và mới mẻ đối với học sinh.
Tài liệu tham khảo, đặc biệt là các sách bài tập Sinh học được trang bị còn ít.
II- Nội dung- Giải pháp
Phương pháp tích cực là một thuật ngữ rút gọn được dùng ở nhiều nước, để
chỉ những phương pháp giáo dục dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của người học.
Phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá hoạt động
nhận thức của người học nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người
học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy.
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Rõ ràng là cách dạy chỉ đạo
cách học nhưng ngược lại thói quen học tập của trò có ảnh hưởng tới cách dạy của
thầy.
Trong đổi mới phương pháp phải có sự hợp tác của thầy và trò, có sự phối
hợp hoạt động dạy với hoạt đông học thì mới thành công. Thuật ngữ :
“ phương pháp tích cực” hàm chứa cả phương pháp dạy và phương pháp học
Phương pháp dạy học tích cực được nêu ra những đặc trưng sau :
Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh. Trong phương
pháp tích cực, người học– đối tượng của hoạt động dạy, đồng thời là chủ thể của
hoạt động học– được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và
chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải tự
động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. Được đặt vào những tình
và điều chỉnh hoạt động kịp thời là một năng lực rất cần cho sự thành đạt trong
cuộc sống mà nhà trường cần phải trang bị cho học sinh.
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người
năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội thì việc kiểm tra đánh giá không thể
dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải
khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống
thực tế.
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng
vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế,
tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực
chiếm lĩnh kiến thức nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêukiến thức, kĩ
năng,thái độ theo yêu cau của chương trình.
Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng
hiểu được khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều
so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là
người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi, hào
hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh. Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu
rộng, có trình độ sư phạm lành nghe mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động
của học sinh mà nhieu khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên
2, Kết quả khảo sáttrước khi thực hiện đề tài :
Qua nhiều năm giảng dạy bộ môn Sinh học lớp 9 THCS, so sánh với chương
trình Sinh học trước đây. Tài liệu sách giáo khoa hiện nay học sinh phải đối mặt
với một khối kiến thức hoàn toàn mới, đặc biệt là phần Di truyền và Biến dị kiến
thức rất trừu tượng, thời lượng cho việc chữa bài tập lại quá ít, học sinh tiếp thu
kiến thức đã khó, nhưng khi áp dụng để làm bài tập lại càng khó hơn, đây là điểm
25