Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––
CAO THỊ THU HOÀI
YẾU TỐ KỲ ẢO TRONG SÁNG TÁC VÕ THỊ HẢO
(QUA TIỂU THUYẾT GIÀN THIÊU VÀ TẬP TRUYỆN NGẮN
NHỮNG TRUYỆN KHÔNG NÊN ĐỌC LÚC NỬA ĐÊM)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
THÁI NGUYÊN - 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Sau 1975, đặc biệt là sau 1987, đời sống văn học Việt Nam có
nhiều thay đổi. Sự chuyển tiếp từ thời chiến sang thời bình với những quy luật
bình thƣờng của nó, ảnh hƣởng của công cuộc đổi mới tƣ duy mà Đảng khởi
xƣớng, những vấn đề bức thiết cộm lên trong lịch sử dân tộc thời hậu chiến và
một độ lùi thời gian tƣơng đối thích hợp là những nguyên nhân cơ bản dẫn
đến những thay đổi quan trọng của văn học. Cùng với sự nghiệp đổi mới của
Đảng, các phƣơng diện của đời sống văn học nhƣ tác giả, tác phẩm, các hoạt
động sáng tác, lí luận, phê bình đều có sự chuyển biến tích cực.
Trong bức tranh chung ấy, chúng ta rất dễ nhận ra sự khởi sắc của thể
loại tiểu thuyết và truyện ngắn. Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu đã nhận ra xu
hƣớng vận động mới - xu hƣớng của những tìm tòi sáng tạo, của những lối
viết hoàn toàn mới mẻ. Và hoà vào dòng chảy ấy, ta thấy xuất hiện một nữ
văn sỹ có cá tính sáng tạo độc đáo - nhà văn Võ Thị Hảo.
Cái tên Võ Thị Hảo đã từng gây ấn tƣợng mạnh trên văn đàn những
năm 90 của thập kỷ trƣớc bởi những truyện ngắn Người sót lại của rừng cười,
Biển cứu rỗi, Vườn yêu… và mấy năm gần đây, chị lại làm độc giả sửng sốt
bằng cuốn dã sử đậm chất "liêu trai" với cái tên mang cảm giác mạnh Giàn
nhà văn, cũng nhƣ có những nhìn nhận, đánh giá xác đáng hơn về quá trình
vận động của văn xuôi Việt Nam đƣơng đại.
2. Lịch sử vấn đề
Với 10 tập truyện ngắn, một tiểu thuyết và ba kịch bản phim truyện,
sáng tác của Võ Thị Hảo đang là mối quan tâm và bình luận của rất nhiều nhà
văn, nhà phê bình và độc giả.
Đã có khá nhiều bài báo và rất nhiều trang web viết về sáng tác của
Võ Thị Hảo, mà chủ yếu tập trung ở tiểu thuyết Giàn thiêu và tập truyện ngắn
Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Chúng tôi khái quát những ý kiến đánh giá về các vấn đề xung quanh
đề tài trên hai phƣơng diện sau:
2.1. Về nghệ thuật
2.1.1. Theo nhận xét của Phạm Xuân Nguyên: "Văn Võ Thị Hảo,
không chỉ là những dòng chữ. Không chỉ là những truyện ngắn hay tiểu
thuyết. Văn Võ Thị Hảo có nhiều tầng hình tƣợng mà mỗi lần tiếp cận ngƣời
đọc lại ngạc nhiên thấy mình khám phá ra một lớp ngữ nghĩa ẩn mình sau
những câu chữ. Đó là lối viết văn đã đƣợc tác giả thổi linh hồn, linh hồn đó
tạo nên những câu văn huyễn ảo mê hoặc, thậm chí ma quái".
("Giàn thiêu” - xứ sở của lối văn chương mê hoặc, huyền bí - trang 8).
2.1.2. Trên báo Thể thao văn hoá, tác giả Lƣơng Thị Bích Ngọc trong
bài viết Võ Thị Hảo giữa những trang viết trang đời nhận xét: "Đọc truyện
chị, thấy cuốn hút cứ tƣởng hình nhƣ mình bị mê hoặc bởi lối kể truyện cuốn
hút, có duyên và lối văn phong vừa cũ, vừa mới, vừa quen, vừa lạ", "một hiện
thực nghiệt ngã đƣợc chở đi trên lối văn phong ảo - thực và câu chữ ngọt
ngào, dịu nhẹ".
2.1.3. Tác giả Nguyễn Hoài Nam trong bài Giàn thiêu - một nghệ thuật
2.1.5. Bài viết Võ Thị Hảo, vầng trăng mồ côi trên trang web http://
chimviet.free.tr| tacpham1 | stt1| vothihao.html đã đặt sáng tác của Võ Thị Hảo
trong sự so sánh với các nhà văn khác: “Ngƣời đọc có thể tìm thấy trong văn
phong Võ Thị Hảo cái tàn nhẫn, chất huyền thoại phảng phất cơn mƣa
Nguyễn Huy Thiệp, bóng mây Phạm Thị Hoài”. Đồng thời ngƣời viết cũng
cho rằng “cay độc và ẩn dụ trở thành phong trào, thành phong cách thời đại,
dấu ấn của thế hệ này”.
2.1.6. Báo Người đại biểu nhân dân (2005) bày tỏ sự ca ngợi những
cách tân nghệ thuật của Giàn thiêu: “Cuốn tiểu thuyết này đang đi theo con
đƣờng riêng của nó, ngấm dần vào trái tim ngƣời ta và những tầng lớp ngữ
nghĩa cũng nhƣ những hình tƣợng nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết này thƣờng
trở đi trở lại ám ảnh ngƣời đọc”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
2.2. Về nội dung
2.2.1. Trong buổi toạ đàm về sáng tác của Võ Thị Hảo (Trên Vietnamnet.vn.
20.10.2005) có một số ý kiến:
- Nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân trong bài "Tiểu thuyết và lịch
sử - nhân đọc "Giàn thiêu" của Võ Thị Hảo” đã đặt ra vấn đề mối quan hệ
giữa tiểu thuyết và lịch sử, cũng nhƣ định nghĩa thế nào là "tiểu thuyết lịch
sử" và quyền tự do của nhà văn trong việc sử dụng chất liệu lịch sử vào tiểu
thuyết. Ông cũng nhấn mạnh thêm rằng: “Tiểu thuyết “Giàn thiêu” còn có
nhiều mặt đáng nói, nhất là xu hƣớng nữ quyền khá lộ liễu của nó với mấy
nhân vật nữ đặc sắc: Nhuệ Anh, Lê Thị Đoan, cung nữ Ngạn La. Cả ba đều là
những nhân vật hƣ cấu, đƣợc cài xen vào một quá khứ lịch sử, đƣợc đặt bên
cạnh nhiều nhân vật lịch sử (…). Không khó để nhận ra rằng tác giả đã đƣa
vấn đề của thế giới hiện đại vào tài liệu quá khứ. Đây không phải là điểm yếu,
ngƣợc lại là điểm mạnh, đem lại sức sống cho ngòi bút nhà tiểu thuyết khi
đàn bò cứ ngoan ngoãn lừ lừ ra nhƣ một đàn bóng khổng lồ” chính là cái nhìn
phê phán một thời kì hợp tác xã không ít những non nớt, tiêu cực (…), ngƣời
viết phần nào làm lộ ra cái thế giới bí ẩn, phức tạp của tâm hồn con ngƣời
hôm nay” [55, tr.181].
Tuy có không ít những ý kiến đánh giá về yếu tố kì ảo trong sáng tác
Võ Thị Hảo, nhƣng chúng chỉ nằm rải rác trong những bài báo, bài nghiên
cứu chứ chƣa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu một cách có hệ
thống và bao quát về vấn đề này. Bởi vậy, luận văn của chúng tôi sẽ lấp đầy
“khoảng trống” đó, nhằm khám phá sâu một phƣơng diện nghệ thuật đặc sắc
làm nên giá trị sáng tác Võ Thị Hảo, đặc biệt là yếu tố kì ảo qua tiểu thuyết
Giàn thiêu và tập truyện Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đi sâu khảo sát, phân tích lý giải những biểu hiện của cái kì
ảo trong tiểu thuyết Giàn thiêu và tập truyện Những truyện không nên đọc lúc
nửa đêm cùng nghệ thuật xây dựng, miêu tả cái kì ảo trong hai tác phẩm trên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Yếu tố kì ảo với những biểu hiện đa dạng và hiệu quả thẩm mĩ của nó trong
tiểu thuyết Giàn thiêu và tập truyện Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tiểu thuyết Giàn thiêu - nhà xuất bản Phụ nữ - 2005, (tái bản có bổ
sung) và tập truyện Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm - nhà xuất bản
Phụ nữ - 2005.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phƣơng pháp nghiên
cứu chính sau:
thống nhất về truyền thống nghệ thuật và văn hoá, bởi sự gần gũi trong cách
hiểu của các nhà văn đối với các vấn đề của đời sống, bởi sự giống nhau về
các tình thế xã hội, thời đại, văn hoá, nghệ thuật” [7]. Đặc điểm cốt lõi nhất
của mọi khuynh hƣớng văn học là phƣơng pháp sáng tác của nó, chính
phƣơng pháp quy định tính chất của việc lựa chọn chất liệu đời sống và
phƣơng thức nghệ thuật để xử lí chất liệu. Sở dĩ chúng tôi xếp Võ Thị Hảo
vào khuynh hƣớng trên bởi các sáng tác của nhà văn này cũng chứa nhiều yếu
tố huyễn ảo, li kì và có một số điểm tƣơng đồng về bút pháp nghệ thuật với
một số nhà văn sáng tác thiên về khuynh hƣớng kì ảo nhƣ Tạ Duy Anh,
Nguyễn Bình Phƣơng, Nguyễn Huy Thiệp
1.1. Vài nét về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác Võ Thị Hảo
1.1.1. Tiểu sử
Võ Thị Hảo sinh ngày 13 - 4 - 1956 ở Diễn Châu - Nghệ An.
Tốt nghiệp khoa văn trƣờng Đại Học Tổng Hợp Hà Nội. Ra trƣờng chị
về công tác tại nhà xuất bản Văn hoá dân tộc. Chị làm thơ từ rất sớm và từng
nghĩ sẽ trở thành nhà thơ, nhƣng chị lại viết văn và thành danh với văn xuôi.
Dù vào nghề văn chƣa đƣợc bao lâu, song Võ Thị Hảo nhanh chóng đƣợc
ngƣời đọc biết đến. Chị đƣợc đánh giá là một trong những cây bút sắc sảo và
giàu nữ tính. Những thân phận bé nhỏ, lam lũ trƣớc cuộc đời luôn khiến chị
trăn trở trên từng trang viết của mình. Ngoài ra, Võ Thị Hảo còn “bén duyên”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
với điện ảnh và hội hoạ. Ba kịch bản phim truyện của chị đƣợc đánh giá khá
cao. Bên cạnh đó, chị còn say mê vẽ tranh và đã mở một triển lãm tranh với
tên gọi Đường chân trời khiến bạn bè hội họa không khỏi kinh ngạc. Giản dị
trong đời thƣờng nhƣng mạnh mẽ trong văn chƣơng là điều dễ nhận thấy ở
nhà văn này.
1.1.2. Sự nghiệp sáng tác
1.3.1. Khái niệm kì ảo và văn học có yếu tố kì ảo
1.3.1.1 Khái niệm kì ảo
Bàn về khái niệm này, đến nay, không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới
giới nghiên cứu vẫn chƣa tìm đƣợc định nghĩa thống nhất. Gần đây, trên
nhiều sách, báo, tạp chí, ngoài thuật ngữ “truyện kì ảo”, chúng ta còn thấy
nhiều thuật ngữ khác nhƣ: truyện kinh dị, truyện kì lạ, truyện huyền ảo, truyện
huyễn tƣởng… để gọi tên những truyện mà nội dung và hình thức có chứa
đựng yếu tố kì ảo. Theo cách chia của TS Bùi Thanh Truyền, có thể chia hệ
thống thuật ngữ trên làm ba hƣớng:
Chú trọng đến chức năng tâm lý mà loại truyện này gây ra, nhấn mạnh
nhiều đến tính chất khác thƣờng, không thực. Nó có chức năng giải trí, tiêu
khiển. Những khái niệm: truyện linh dị, truyện huyễn hoặc, truyện dị
thƣờng… đƣợc xếp theo hƣớng này.
Coi kì ảo nhƣ một thủ pháp nghệ thuật đắc lực để nhận thức và phản
ánh cuộc sống, nhƣng vẫn chú trọng đến tính truyền thống vốn có. Ví dụ:
Lê Nguyên Cẩn sử dụng khái niệm truyện kì ảo, Đỗ Lai Thuý sử dụng khái
niệm truyện kinh dị, Vũ Thanh sử dụng khái niệm truyền kì đời mới… Trong
khuôn khổ luận văn, chúng tôi sẽ chọn cách hiểu này để tìm hiểu và phân tích
về yếu tố kì ảo trong hai sáng tác của Võ Thị Hảo.
Hƣớng thứ ba bao gồm những nhà nghiên cứu nhƣ Nguyễn Văn Dân,
Đặng Anh Đào, Lê Huy Bắc với các thuật ngữ nhƣ: truyện huyễn tƣởng,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
truyện quái dị, truyện huyền ảo… chỉ những truyện kì ảo hiện đại ra đời vào
cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX ở phƣơng Tây.
Chính sự không thống nhất trên đã khiến cho việc xác định nội hàm
khái niệm kì ảo gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Thực trạng đó đòi hỏi chúng
tôi phải lựa chọn tìm ra một thuật ngữ phù hợp để thuận tiện trong việc nghiên
hàm trong nó cả cái ảo và cái kì, nghĩa là không phân biệt nổi ranh giới giữa
thực - hƣ, hoặc cũng hoàn toàn có thể có thật - cái thật mà ngƣời ta chƣa biết
hoặc ít thấy.
Cũng nhƣ cái điển hình, kì ảo cũng lấy chất liệu từ một nền hiện thực
này để nhào nặn lại và tạo dựng một hiện thực khác mà nhìn vào đó hiện thực
nền tảng kia đƣợc soi chiếu rất nhiều. Chỉ có một điểm khác biệt: sự “nhào
nặn” chất liệu hiện thực của cái điển hình vẫn tuân thủ lôgic thông thƣờng của
đời sống, sự “nhào nặn” chất liệu hiện thực của cái kì ảo lại tuân theo lôgic phi
thƣờng hoá, lôgic của những giấc mơ, của một thế giới siêu thực. Sự kết hợp
song hành hai yếu tố này khiến kì ảo trở thành một trong những hƣớng tiếp cận
có ƣu thế đối với bản chất hiện thực, bên cạnh các hƣớng tiếp cận khác.
Từ những lí giải trên có thể thấy yếu tố kì ảo là những điều lạ lùng,
huyền bí, vừa chân thực vừa hƣ huyễn. Nhân tố quan trọng nhất của nó là sự
tƣởng tƣợng, hƣ cấu của ngƣời sáng tạo nhằm thể hiện ý đồ nghệ thuật nào đó
theo khuynh hƣớng phi thƣờng hoá.
Thực ra, yếu tố kì ảo đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử văn học nhân
loại. Ngay trong các tác phẩm văn học dân gian, yếu tố kì ảo đã xuất hiện và
phản ánh nhận thức còn "ngây thơ", niềm tin lý tƣởng của ngƣời cổ đại về thế
giới. Nói nhƣ Phùng Hữu Hải thì "yếu tố kì ảo cũng bắt nguồn từ những tiền
đề xã hội nhất định". Nó gắn chặt với tâm lý lo sợ của con ngƣời về những gì
không lý giải đƣợc hoặc không đƣợc phép lý giải. Mặt khác, yếu tố kì ảo còn
đƣợc sử dụng để phản ánh thái độ của con ngƣời về những ẩn ức xã hội,
những điều kiêng kị trong xã hội, mà một trong những mục đích của việc sử
dụng yếu tố kì ảo chính là để "thoả mãn cái lý tƣởng đạo đức đầy mâu thuẫn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
với một môi trƣờng xã hội nhất định" [17]. Tuy nhiên ý kiến này chỉ thiên
về yếu tố tâm lí của ngƣời đọc khi tiếp nhận tác phẩm. (ví dụ Tây du kí của
quả nghệ thuật và chuyển tải những vấn đề tâm huyết của tác giả. Cội nguồn
của sự tƣởng tƣợng li kì vẫn là những điều hiện hữu trên thế giới này. Các tác
giả sử dụng yếu tố kì ảo nhằm “lạ hoá” hiện thực, đôi khi xáo trộn hiện thực để
tăng trí tƣởng tƣợng của ngƣời đọc khi bƣớc chân vào thế giới của một “trò
chơi” đầy lôi cuốn. Trong truyền thống, cách biểu đạt này vừa thể hiện một
kiểu tƣ duy nghệ thuật lại vừa là cách thức để con ngƣời chiếm lĩnh thế giới.
Tƣ duy văn học hiện đại sẽ kế thừa những thành quả quan trọng của văn học kì
ảo truyền thống và tiếp thêm cho nó những luồng sinh khí mới.
1.3.1.2. Văn học có yếu tố kì ảo (văn học kì ảo)
Văn học kì ảo là khái niệm đặc trƣng của một vấn đề văn học mà ở đây
là cái kì ảo. Từ nội hàm khái niệm kì ảo, có thể thấy “văn học kì ảo chứa đựng
trong nó những yếu tố ma quái, những điều lạ lùng hay những sự kiện, con
ngƣời không có thực” [12, tr.12].
Trong đội ngũ hùng hậu các nhà văn nƣớc ngoài có tên tuổi hiện diện
trong văn học, thật không khó để nhận ra một bộ phận không nhỏ các gƣơng
mặt văn học kì ảo nổi tiếng: phƣơng Tây có Trekhov, Horoné de Balzac,
Thomas Mann, E.T.A.Hoffman…; phƣơng Đông với Paplon, Ueda Akinari,
Lỗ Tấn…
Ở Việt Nam, cùng với những thay đổi trong cơ chế quản lí văn hoá văn
nghệ, tâm lí hiếu kì của ngƣời đọc, cộng với môi trƣờng văn hoá truyền thống
của dân tộc ta cũng là mảnh đất màu mỡ để yếu tố kì ảo ngoại nhập và bén rễ.
Sự thực thì yếu tố kì ảo không hề xa lạ mà trái lại, nó đã gắn liền với văn học
Việt Nam ngay từ lúc mới chào đời. Điều này đƣợc phản ánh rõ trong các
sáng tác văn học dân gian và trong các tác phẩm cổ xƣa, những tác phẩm
hoang đƣờng, kì lạ chiếm lĩnh đời sống của mọi thành viên, tầng lớp trong xã
hội. Nói nhƣ Lê Ngọc Trà:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
16
tố kì ảo đƣơng đại, dù chịu ảnh hƣởng và tác động của văn học phƣơng Tây
vẫn không ngừng bám chặt để hút dƣỡng chất từ truyền thống. Càng về sau
này, với sự đa dạng, phong phú của đề tài và nội dung phản ánh, các sáng tác
mang màu sắc kì ảo đã phần nào “lột tả” chân thực cuộc sống với đủ mọi gam
màu sáng tối. Bên cạnh đó, ta cũng thấy yếu tố kì ảo còn hiện hữu trong nhiều
tác phẩm lấy chất liệu từ lịch sử, viết về những con ngƣời có thực trong lịch
sử từ hàng ngàn năm trƣớc nhƣ Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Mẫu Thượng Ngàn
(Nguyễn Xuân Khánh) hay Sắc đẹp khuynh thành (Kiều Thanh Tùng)…. Tuy
nhiên việc sử dụng gam màu kì ảo ở trên không phải để khơi gợi lại lịch sử
hay soi xét lại quá khứ mà nhằm mục đích “lạ hoá” để nhà văn thể hiện một ý
đồ nghệ thuật nào đó, có khi là sự phản ánh cuộc sống hiện đại trong văn học.
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi xin đƣa ra khái niệm của
TS Bùi Thanh Truyền: văn học có yếu tố kì ảo (hay còn gọi là văn học kì ảo)
là “bộ phận văn học nhận thức và phản ánh cuộc sống từ đặc trƣng và thế
mạnh của những yếu tố khác lạ, phi thƣờng, đôi khi vƣợt ra khỏi khả năng
nhận thức thông thƣờng của lí trí” [55, tr.52].
Còn tác giả Tzvetan Todorov trong Dẫn luận về văn học kì ảo lại chỉ ra
rằng: “văn học kì ảo đặc biệt chú ý miêu tả các hình thức thái quá lẫn sự
chuyển hoá đặc biệt của chúng, hoặc là sự đồi bại. Chƣa kể vị trí của cái tàn
nhẫn và bạo lực, ngay cả cái chết, cuộc sống sau chết, các xác chết mà ma
quái cũng đều gắn với đề tài tình yêu” [12, tr.18].
Lần theo hành trình của văn học kì ảo thế giới, ta thấy đó là một dòng
chảy liên tục từ quá khứ đến hiện tại và trở nên gần gũi, quen thuộc với con
ngƣời. Trƣớc tiên là dòng truyện kì ảo cổ đại, thƣờng gắn với thần thoại, cổ
tích, truyền thuyết… Nó gắn với niềm tin chất phác, ngây thơ và tuyệt đối của
con ngƣời vào các thế lực siêu nhiên, thể hiện nhu cầu, khát vọng nhận thức,
cải tạo thế giới cũng nhƣ số phận của mình ở mức độ sơ khai, đơn giản nhờ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
thể hiện ƣớc mơ về hạnh phúc, công lí (ví dụ truyện cổ tích Tấm Cám,
Thạch Sanh ). Bởi theo tƣ duy của ngƣời xƣa, chỉ các lực lƣợng siêu phàm
mới đủ sức thay đổi trật tự xã hội, đem lại chiến thắng cho cái đẹp.
Trong văn học viết Trung đại nƣớc ta, yếu tố kì ảo đƣợc biểu hiện rõ rệt
nhất ở thể loại truyền kì. Đó là những câu truyện cổ kim mang nhiều yếu tố
hoang đƣờng, đƣợc các bậc trí giả sử dụng với dụng ý phản ánh hiện thực
cuộc sống và thể hiện quan niệm sống trƣớc cuộc đời. Ví dụ: Truyền kì mạn
lục, Truyền kì tân phả Cũng qua thể văn này, họ có thể gửi gắm vào đó
những bài học để răn dạy, giáo huấn con ngƣời. Màu sắc hoang đƣờng kì ảo
làm mềm đi, mờ đi tính giáo huấn lộ liễu.
Văn học kì ảo hiện đại ra đời vào khoảng cuối thế kỉ XVIII, đầu XIX ở
phƣơng Tây với những đại diện ƣu tú nhƣ Hoffmann, Edgar Poe…, nó đi sâu
khai thác nội tâm, khám phá những khoảng sáng tối ngay trong tâm hồn mỗi
con ngƣời. Khác với tƣ duy của các nhà văn cổ - Trung đại, ngƣời ta không
còn tin một cách ngây thơ vào thế giới huyền thoại, cổ tích nữa. Giờ đây, nó
đã trở thành một thủ pháp nghệ thuật đắc lực để nhà văn nắm bắt mọi biểu
hiện của cuộc sống.
Ở Việt Nam, một số nhà văn lãng mạn nửa đầu thế kỉ XX đã có ý thức
tạo ra cái thần kì để đối lập với cuộc sống thực dụng, duy lý đến trần trụi
đƣơng thời. Nguyễn Tuân viết Yêu ngôn với mục đích khám phá những điều
vô cùng kì bí trong tâm hồn mỗi con ngƣời. Thế Lữ trong một số truyện ngắn
đƣờng rừng đã sử dụng yếu tố kì ảo để tạo không khí ma quái, rùng rợn cho
câu chuyện về chốn ma thiêng nƣớc độc tăng ấn tƣợng (Ví dụ Cái đầu lâu,
Lưỡi tầm sét, Vàng và máu…).
Yếu tố kì ảo xuất hiện từ truyền thống đến hiện đại ở cả Đông - Tây và
đều mang những đặc trƣng riêng. Càng về sau này các sáng tác đậm chất kì ảo
xuất hiện trong văn học ngày càng đa dạng, phong phú. Cùng với đó là sự đổi
dáng vẻ: có hiện thực vừa quen thuộc, vừa mới lạ, có hiện thực của tâm trạng,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
có hiện thực bị chi phối bởi vô vàn những điều ngẫu nhiên may rủi đầy bí ẩn,
bất ngờ. Thử khảo sát trên một số tập truyện ngắn, chúng tôi thấy tỉ lệ các
truyện sử dụng yếu tố kì ảo khá cao. Chẳng hạn tất cả các truyện trong Những
truyện không nên đọc lúc nửa đêm của Võ Thị Hảo đều có yếu tố kì ảo; Còn
tập truyện Hồn trinh nữ cũng của tác giả này có 6/12 truyện; Tập truyện
Tháng có mười lăm ngày của Ngô Tự Lập (Nxb HN 1993) có 9/12 truyện;
Tập truyện Người đứng một chân của Hồ Anh Thái (Nxb trẻ 1995) có 7/10
truyện; Tập truyện Luân hồi của Tạ Duy Anh (Nxb Văn học 1994) có 9/12
truyện; Chùm tác phẩm có tên Những ngọn gió Tua Hát của Nguyễn Huy
Thiệp gồm 10 truyện nhỏ thì cả 10 truyện đều chứa đựng yếu tố kì ảo
Bên cạnh các truyện ngắn trên, ta thấy tính chất kì ảo còn xuất hiện
nhiều trong các tiểu thuyết nhƣ Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Nỗi buồn chiến
tranh (Bảo Ninh), Thoạt kì thuỷ (Nguyễn Bình Phƣơng), Thiên thần sám hối
(Tạ Duy Anh)
Nhƣ vậy, văn học Việt Nam đƣơng đại đã trở thành một tấm gƣơng
phản chiếu cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn. Bởi ngày nay, tác phẩm văn học
hay phải tạo đƣợc một cuộc đối thoại đa chiều, tác giả và ngƣời đọc cùng bàn
luận, vật vã trong một cuộc đồng hành gian khổ. Nghĩa là tính mơ hồ, đa
nghĩa đƣợc chú trọng và đẩy lên đến cao độ trong mỗi tác phẩm. Nhờ sự lung
linh, hƣ ảo trong tất cả các phƣơng diện cấu thành tác phẩm (từ ngôn ngữ, kết
cấu, cốt truyện đến chủ đề, nhân vật, không gian và thời gian nghệ thuật) mà
ngƣời đọc định hình và nắm bắt dễ dàng hơn thông điệp nội dung do yếu tố kì
ảo đem lại.
Những năm gần đây, có thể nhận ra một điều, trong mỗi truyện có yếu
tố kì ảo đều có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Nhƣ sáng tác của
1.3.3. Võ Thị Hảo trong khuynh hướng văn học kì ảo Việt Nam đương đại
Võ Thị Hảo là một tiếng hát trong dàn đồng ca kì ảo, vừa có điểm
tƣơng đồng, vừa có điểm khác biệt so với các tác giả cùng sử dụng một thủ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
pháp sáng tác là kì ảo. Đặc điểm chung mà ta nhận ra là đội ngũ các nhà văn
này cùng sử dụng kì ảo nhƣ một phƣơng tiện nghệ thuật để phản ánh hiện
thực và gửi gắm thông điệp nhân văn đến bạn đọc.
Trong quan niệm về nghệ thuật của những nhà văn trên đã có sự thay
đổi căn bản về hiện thực và tính hiện thực. Với họ, hiện thực không đồng
nghĩa với sự thật, giống nhƣ sự thật, hay nói nhƣ Võ Thị Hảo hiện thực không
phải là thực tế 2+2=4 mà nó là vẻ đẹp của cuộc sống đã được khúc xạ qua
lăng kính của nhà văn và cuộc sống sẽ không đa tầng đa nghĩa nếu không sử
dụng yếu tố kì ảo. (Phỏng vấn nhà văn ngày 15/3/2009).
Phản ánh hiện thực không phải là sự sao chép hiện thực mà là sự sáng
tạo của ngƣời nghệ sĩ nhằm khám phá hiện thực sâu sắc hơn. Đội ngũ các nhà
văn đƣơng đại sớm nhận ra rằng: không thể khuôn đối tƣợng nhận thức phản
ánh của văn học vào những lĩnh vực hạn hẹp, cứng nhắc nhằm những nhiệm
vụ không phù hợp với bản chất của nó, mà chính là phải mở rộng phạm vi
khám phá của văn học để loại hình nghệ thuật này ngày càng đáp ứng đƣợc
những đòi hỏi mới của ngƣời đọc. Biên độ của hiện thực trong quan niệm của
ngƣời cầm bút hôm nay đã đƣợc mở rộng hơn, đƣợc soi chiếu từ nhiều góc
độ, tạo điều kiện để họ có thể thâm nhập vào những địa hạt mới mẻ phù hợp
với cá tính sáng tạo của mình. Sử dụng yếu tố kì ảo cũng là một phƣơng tiện
đắc lực trong phản ánh hiện thực và là “điểm nối” giữa nhà văn - tác phẩm -
ngƣời đọc.
Ngô Tự Lập cho rằng: “Ngay cả hiện thực cũng chỉ là một giấc mơ,
một giấc mơ hỗn loạn, vô tận, giấc mơ với những đƣờng bay của mê lộ ”
chứa đựng tình cảm, thái độ của ngƣời nghệ sĩ trƣớc những số phận va đập
với bão tố cuộc đời, cho dù đó là hiện thực lịch sử nghiệt ngã hay thực tế đau
thƣơng, nhƣng tất cả vẫn sáng lên niềm hi vọng chứa chan vào tình yêu cuộc
sống, vào mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa ngƣời với ngƣời.