Địa danh vùng ngã ba Bạch Hạc dưới góc nhìn văn hóa - Pdf 26

Địa danh vùng ngã ba Bạch Hạc dưới góc nhìn
văn hóa

Cao Thị Nhật Diễm

Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển
Luận văn Thạc sĩ ngành: Việt Nam học; Mã số: 60 31 60
Người hướng dẫn: GS. TS. Trần Trí Dõi
Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Trình bày cơ sở nhận thức về địa danh, những cách hiều, quan niệm về địa
danh. Khái quát về vùng ngã ba Bạch Hạc và những tên gọi có liên quan trong lịch sử.
Nêu đặc điểm về cách đặt tên của vùng đất này trong quá trình phát triển. Nêu khái
niệm về truyền thuyết và cách thức giải mã truyền thuyết, từ đó tìm hiểu địa danh
thông qua việc giải mã các truyền thuyết có liên quan đến các địa danh. Tìm hiểu về
truyền thuyết gắn với những địa danh trên vùng ngã ba Bạch Hạc, để thấy được phần
lớn những địa danh, những truyền thuyết đều gắn với thời các vua Hùng, đồng thời
phản ánh đầy đủ các mặt văn hóa và tinh thần của cư dân Văn Lang xưa. Qua những
truyền thuyết này không phải chỉ là hư cấu bởi nó một phần phản ánh cuộc sống, phản
ánh lịch sử, phản ánh những tâm tư, tình cảm của người dân. Bên cạnh đó những
chứng cứ khảo cổ học, có thể chứng minh được rằng có tồn tại thời đại Hùng Vương
trong lịch sử. Tìm hiểu địa danh thông qua các di tích khảo cổ học, di tích kiến trúc –
tôn giáo, địa danh gắn với lễ hội và địa danh liên quan đến văn hóa ẩm thực. Qua đó,
nhìn đầy đủ và toàn diện về lịch sử và văn hóa của vùng ngã ba Bạch Hạc. Đây không
chỉ là mảnh đất mang trong mình chiều dài 4000 năm lịch sử, bắt đầu từ thời Hùng
Vương dựng nước mà còn chứa đựng chiều sâu văn hóa. Bao trùm toàn bộ văn hóa
vùng ngã ba Bạch Hạc là văn hóa thời Hùng Vương, văn hóa gắn liền với 18 đời họ
Hùng. Địa danh di chỉ khảo cổ, địa danh di tích kiến trúc tôn giáo, địa danh lễ hội và
địa danh ẩm thực minh chứng rằng thời đại Hùng Vương không chỉ tồn tại trong
truyền thuyết mà còn tồn tại trong hiện thực, trong lịch sử qua những chứng cứ hùng
hồn và thuyết phục.

Trong mỗi chúng ta ai cũng có một miền quê để thương, để nhớ. Đó là nơi ta đã sinh
ra và lớn lên, nơi nuôi dưỡng tâm hồn ta, nơi chứa đựng bao ký ức tuổi thơ trong sáng. Tôi
gắn bó với từng căn nhà, từng góc phố, từng hàng cây và những con người nơi vùng đất “ngã
ba sông”. Càng xa quê hương, tôi càng thấm thía hai câu thơ của nhà thơ Chế Lan Viên:
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn”
Chính bởi sự gắn bó tự nhiên máu thịt với nơi “chôn rau cắt rốn” mà tôi chọn vùng ngã ba
Bạch Hạc cho luận văn của mình. Vì thế, viết về ngã ba Hạc cũng chính là viết về một phần của
tâm hồn tôi, nó chứa đựng trong đó những tình cảm của tôi với mảnh đất này.
2. Mục đích, phạm vi nghiên cứu
Mục đích : tìm hiểu những giá trị văn hoá ẩn sau mỗi địa danh trên vùng đất Bạch
Hạc.
Phạm vi nghiên cứu: dựa vào tư liệu điền dã và những sách vở mà chúng tôi thu thập
được về địa danh vùng ngã ba Bạch Hạc.
Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi chỉ xin tìm hiểu những giá trị văn hoá ẩn sau một
số địa danh vùng ngã ba Bạch Hạc chứ không có tham vọng bao quát một cách toàn diện mọi
giá trị văn hoá vùng Đất Tổ.

3
3. Phương pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu.
Để có thể dựng lại bức tranh văn hóa cơ bản nhất về hệ thống địa danh hiện đang tồn
tại trên vùng ngã ba Bạch Hạc, chúng tôi đã cố gắng sưu tầm, tập hợp ở mức độ cao nhất. Các
cứ liệu địa danh được chúng tôi thu thập được từ các nguồn :
- Tư liệu điền dã thực tế.
- Các tài liệu gồm: Địa chí tỉnh Phú Thọ, Lịch sử Đảng bộ thành phố Việt Trì, bản đồ,
các bài viết…có liên quan đến vùng ngã ba Bạch Hạc.
Xử lý tư liệu :
- Thống kê, sắp xếp và phân loại theo chủ đề
- Tìm hiểu những yếu tố liên quan đến nội dung địa danh trong dân gian như truyền

Chương 2. Bạch Hạc – Địa danh của những truyền thuyết
Chương 3. Bạch Hạc : Bức tranh lịch sử - văn hóa qua địa danh
NỘI DUNG LUẬN VĂN
Chương 1
VẤN ĐỀ ĐỊA DANH VÀ ĐỊA DANH VÙNG NGÃ BA BẠCH HẠC
1.1 Cơ sở nhận thức về địa danh
Thuật ngữ địa danh nguyên thủy, trong tiếng Hy Lạp có cấu tạo gồm hai bộ phận:
topos (địa điểm) và anyma (tên gọi chung nhất với ý nghĩa là “ tên gọi địa lý”).
Ở Việt Nam, theo triết tự Hán - Việt, thuật ngữ địa danh có nghĩa là “tên đất”. Tuy
nhiên, hiện nay có rất nhiều cách hiểu về địa danh. Tác giả Đào Duy Anh cho rằng: “ Địa
danh là tên gọi các miền đất” [2; 220]. Còn trong Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên
lại giải thích địa danh là “ tên đất, tên địa phương” [38; 34]. Nguyễn Văn Âu cho rằng: “ Địa
danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng mạc, hay là tên địa phương, làng mạc” [3; 18].

5

- hệ thống một không gian văn hóa (cutural space) với một cấu trúc - hệ thống (structure-
system) bao gồm các hệ dưới - hay tiểu hệ (sub- system) theo lối tiếp cận hệ thống (system-
analysis)” [58, 401].

6
Bên cạnh khái niệm vùng văn hóa của Trần Quốc Vượng, người viết còn muốn đề cập
đến khái niệm vùng thể loại văn hóa của Ngô Đức Thịnh như một định hướng để tìm hiếu
vùng ngã ba Bạch Hạc. Theo Ngô Đức Thịnh, vùng thể loại văn hóa là một không gian địa lý
nhất định, mà ở đó từng thể loại văn hóa (truyền thuyết, sử thi, dân ca, sân khấu, âm nhạc,
ẩm thực, kiến trúc….) biểu hiện tính tương đồng, thống nhất thông qua nội dung, kết cấu, các
sắc thái biểu hiện, phương thức lưu truyền. [46; 76]
Như vậy, trong luận văn, chúng tôi chấp nhận và sử dụng khái niệm “vùng văn hóa” của
Trần Quốc Vượng và “vùng thể loại văn hóa” của Ngô Đức Thịnh để nhận diện vùng văn hóa
ngã ba Bạch Hạc sau khi mô tả nội dung của một số địa danh thuộc “không gian địa danh
Bạch Hạc” 1.2.2 Vùng ngã ba Bạch Hạc
1.2.2.1 Tiểu vùng văn hóa đất Tổ
Căn cứ trên các sắc thái văn hóa địa phương, Ngô Đức Thịnh đã phân chia vùng đồng
bằng Bắc Bộ thành các tiểu vùng văn hóa và các đa dạng văn hóa mang tính chuyển tiếp. Tiểu
vùng văn hóa đất Tổ nằm trong vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ. Tiểu vùng văn hóa này nằm
gọn trong địa giới tỉnh Phú Thọ và một phần của Sơn Tây cũ, gần trùng với xứ Đoài như quan
niệm dân gian. Thời các vua Hùng, vùng đất này là phần chính của bộ Văn Lang, trung tâm
của 15 bộ thời vua Hùng, nơi hợp lưu của sông Đà, sông Lô với sông Thao để tạo ra dòng
chảy sông Hồng. Thời hậu Lê và đầu thời Nguyễn, vùng đất này thuộc trấn Sơn Tây, là một
trong “tứ trấn nội kinh”.
1.2.2.2 Vùng ngã ba Bạch Hạc
Theo như bài viết của Ngô Đức Thịnh thì vùng ngã ba Bạch Hạc thuộc tiểu vùng văn
hóa đất Tổ. Ngã ba Bạch Hạc nằm trong địa giới thành phố Việt Trì ngày nay.
Vùng ngã ba Bạch Hạc và thành phố Việt Trì có nhiều điểm tương đồng, thống nhất
trong một không gian văn hóa đất Tổ. Để tiện cho việc nghiên cứu và thống kê, người viết xin
xác định vùng ngã ba Bạch Hạc là không gian văn hóa từ núi Nghĩa Lĩnh (Đền Hùng) đến hết

Phong Châu
Bạch Hạc
Đoàn Kết
Mộ Thượng
Mộ Hạ
Lang Đài 2 Phường Bến Gót
Hồng Hà 1
Hồng Hà 2
Hòa Bình 1
Hòa Bình 2
Kiến Thiết
Việt Hưng

3

Phường Thanh Miếu
Khu 1: Việt Thắng
Khu 2: Việt Thắng


5
Phường Tiên Cát
Thọ Mai
Mai Sơn 1
Mai Sơn 2
Sông Thao
Minh Hà
Tiên Sơn
Gát
Hồng Hà
Anh Dũng
Đoàn Kết
Tiên Phú
Thành Công
Thi Đua
Tiền Phong
Âu Cơ
6
Phường Gia Cẩm
Có 21 khu, không có tên, đánh theo thứ
tự 1-12
11
Xã Sông Lô
Có 8 khu , thứ tự từ 1-8
12
Xã Trưng Vương
Xóm Gạo
Xóm Mới
Xóm Bình Hải
Xóm Quế
Xóm Đình
Xóm Sải
Xóm Nội
Xóm Mộ
Xóm Vòng
Xóm Thọ
Xóm Mai
Xóm Đỉnh
Xóm Thịnh

16 Phường Minh Nông
Minh Bột
Thông Đậu
Hồng Hải
Minh Tân
Hòa Phong
17
Phường Minh Phương
Tân Phương
Liên Phương
Trung Phương
Hợp Phương
Văn Cơ
Cao Đại
Liên Minh
18
Xã Hùng Lô
Không có tên, đánh thứ tự từ 1-10
19
Xã Hy Cương
Đánh số từ 1-8

ngã ba Bạch Hạc dưới góc nhìn văn hóa” nên chúng tôi không dành ưu tiên nghiên cứu
phương diện cấu tạo ngôn ngữ của địa danh. Nhiệm vụ của chúng tôi, như đã nói ở trên, là sẽ
chọn những địa danh liên quan đến nội dung văn hóa của vùng đất để mô tả. Và đó sẽ là nội
dung của những chương tiếp theo.
Như đã nói ở trên, địa danh luôn chịu sự chế định của văn hóa, lịch sử, địa lý và dân
cư. Trong quá trình nghiên cứu địa danh vùng ngã ba Bạch Hạc, chúng tôi lưu tâm đặc biệt
đến việc tìm hiểu địa danh này dưới góc nhìn văn hóa thông qua những nội dung mà địa danh
“được” chế định.
Chương 2
BẠCH HẠC - ĐỊA DANH CỦA NHỮNG TRUYỀN THUYẾT
2.1 Truyền thuyết và cách thức giải mã truyền thuyết
Có rất nhiều quan niệm về truyền thuyết. Chúng tôi mượn ý kiến rất xác đáng của nhà
văn hóa lớn của Việt Nam, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, về truyền thuyết để làm định nghĩa
:
“Những truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thật lịch sử, mà nhân dân
qua nhiều thế hệ đã lý tưởng hóa, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và
mộng, chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuât dân gian làm nên những tác phẩm
văn hóa mà đời đời con cháu còn ưa thích.” (Phạm Văn Đồng, Nhân ngày Giỗ Tổ vua Hùng,
Báo Nhân Dân , Số 549, ngày 29/4/1969) [ 24; 37].
Trước hết, theo cách định nghĩa này, ta có thể thấy truyền thuyết và lịch sử có mối
quan hệ gắn bó khá chặt chẽ với nhau. Chính bởi lẽ đó nên một số nhà nghiên cứu đã coi
truyền thuyết là dã sử - một bộ phận của lịch sử thời sơ sử, lịch sử không chính thức và là lịch
sử truyền miệng.
Giáo sư Phạm Đức Dương đã từng đưa ra phương pháp giải mã huyền thoại như sau :
“Ở nước ta cũng như các nước Đông Nam Á khác, chữ viết ra đời có thể rất sớm nhưng bị
mất, cho nên ngay khi có sử, tổ tiên chúng ta phải ghi sử theo phương pháp huyền thoại (
huyền thoại khởi nguyên về vua Hùng với nhà nước Văn Lang, về An Dương Vương với nhà
nước Âu Lạc – hai lần tích hợp để hình thành nhà nước sơ khai từ trung du xuống đồng
bằng). Các nhà Nho học theo cách ghi sử của người Hán lại lịch sử hoá huyền thoại, biến


2.3 Tiểu kết
Có thể thấy trong kho tàng văn hóa dân gian Đất Tổ có rất nhiều những truyền thuyết,
đặc biệt là truyền thuyết về thời Hùng Vương dựng nước gắn với “nội dung” của các địa danh
nơi đây. Chúng tôi không có tham vọng đề cập, nghiên cứu tới tất cả các truyền thuyết liên
quan đến địa danh của vùng đất này mà chỉ xin tìm hiểu những truyền thuyết gắn với những

13
địa danh trên địa bàn vùng ngã ba Bạch Hạc – Việt Trì. Qua hệ thống những truyền thuyết
như thế, rõ ràng, chúng tôi đã và sẽ có được cách nhìn đầy đủ hơn, toàn diện hơn về những
mặt khác nhau của đời sống văn hóa thời vua Hùng. Nói cách khác, đó cũng chính là cách
thông qua các địa danh để nhận diện bức tranh văn hóa hay xem xét địa danh dưới góc độ văn
hóa.
Cũng cần nhắc lại rằng, chúng tôi không nghiên cứu những truyền thuyết này dưới góc
độ văn học, không đi sâu phân tích những giá trị về nghệ thuật, nội dung của truyền thuyết.
Chỉ xin lưu tâm tới những giá trị văn hóa – tinh thần của địa danh qua những truyền thuyết đó.
Qua nhiều truyền thuyết gắn với những địa danh trên vùng ngã ba Bạch Hạc, ta thấy rằng
phần lớn những địa danh, những truyền thuyết đều gắn với thời các vua Hùng. Qua những địa
danh, truyền thuyết này, ta có cách nhìn cụ thể hơn về thời kỳ bình minh của lịch sử. Nó phản
ánh đầy đủ về các mặt văn hóa như trồng trọt (trồng lúa, trồng quất), phong tục (cây trầu với
tục ăn trầu, kén rể), chinh phục thiên nhiên (đốt đèn chống lụt), bảo vệ đất nước (Thổ Lệnh )
và cả tinh thần tức là phản ánh tâm linh của cư dân (Bạch Hạc) v.v. Những truyền thuyết này
không phải chỉ là hư cấu bởi nó một phần phản ánh cuộc sống, phản ánh lịch sử, phản ánh
những tâm tư, tình cảm của người dân. Qua những chứng cứ khảo cổ học, ta có thể chứng
minh được rằng có tồn tại thời đại Hùng Vương trong lịch sử. Trong thời kỳ đó, mối quan hệ
giữa vua – tôi vẫn còn rất gần gũi. Vua cũng có ruộng, có kho thóc, vua cùng cày cấy với
nhân dân.
Những địa danh còn tồn tại tới ngày nay gắn liền với các truyền thuyết là một minh
chứng cho điều đó. Dấu tích kinh đô xưa còn được lưu truyền đến tận hôm nay một phần cũng
nhờ nội dung được thể hiện ở những địa danh này.
Chương 3

3.2.8 Di chỉ Gò Hào thuộc văn hoá Đông Sơn
3.2.9 Di chỉ Làng Cả - di chỉ lớn nhất của văn hóa Đông Sơn
Từ những kết quả nghiên cứu, khai quật, PGS.TS Trịnh Sinh – trưởng đoàn khai quật
của Viện khảo cổ học Việt Nam cho biết: “Ðây không chỉ là một khu mộ lớn nhất thời Hùng
Vương mà còn là khu mộ của những thời đại sau này. Chứng tỏ một trung tâm chính trị, kinh
tế, văn hóa sầm uất và có tính liên tục: Thời Hùng Vương - thời Bắc thuộc - thời phong kiến
tự chủ.”[41; 4].
Di tích làng Cả thật sự có ý nghĩa quan trọng, nằm ở vùng địa linh nhân kiệt, giữa một
vùng mà các di tích khảo cổ học thời kì tiền Hùng Vương và Hùng Vương dày đặc, lại nằm
trong khu vực tương truyền là kinh đô Văn Lang xưa, vì thế phải có sự bảo tồn lâu dài và
phục dựng một phần di tích đã khai quật để phục vụ cho việc phát huy các giá trị văn hóa, lịch
sử nhằm phục vụ cho việc du lịch về cội nguồn, nhất là vùng ngã ba Bạch Hạc – Đền Hùng
trở thành điểm sáng văn hóa của vùng đất Tổ.
Qua nghiên cứu, chúng ta đã thấy tính chất nơi cư trú điển hình của cư dân thời Đông
Sơn qua những hiện vật khai quật được. Tất cả những gì đã có của khảo cổ học nói lên một
điều: làng Cả là địa điểm định cư “quan trọng” nhất của cư dân Đông Sơn trên vùng đất Tổ.
Khi nhận ra điều đó, chúng ta hoàn toàn thấy rằng người xưa đã “chính xác” khi gọi làng

15
người Việt cư trú này là làng “Cả”. Trong tiếng Việt, từ chỉ mức độ “Cả” để nói một con
người như anh Cả, một con sông như sông Cả v.v tự nó đã nói lên tất cả tầm quan trọng của
nó. Có lẽ, chính địa danh làng Cả đã nói lên tất cả những gì quan trọng của nơi cư trú này thời
Đông Sơn.
3.2 Địa danh di tích kiến trúc - tôn giáo
Việt Trì – Bạch Hạc là trung tâm của nước Văn Lang xưa nên tập trung đậm đặc nhiều di
tích kiến trúc, tôn giáo. Theo số liệu thống kê, vùng ngã ba Bạch Hạc có tổng số 60 di tích
kiến trúc, tôn giáo ở các loại hình: đình, đền, chùa , miếu. Trong đó có 31 di tích đình, đền,
miếu thờ vua Hùng, các bộ tướng nhà Hùng và mẹ, vợ, con các vua Hùng; 7 di tích đình, đền
thờ tướng lĩnh các giai đoạn lịch sử khác và 22 ngôi chùa là giáo đường Phật giáo. Vậy, loại
trừ các di tích chùa thì số lượng các di tích liên quan đến thời đại Hùng Vương chiếm 84%

Quần thể di tích Đền Hùng mang ý nghĩa văn hoá, nhân văn vô cùng to lớn. “ Tổ Hùng
được thờ ở Đền Hùng đã trải qua một quá trình siêu việt tâm linh, vượt lên trên mọi hình thức
Tổ cụ thể, lên trên Vua Tổ cụ thể. Sự thờ cúng này đã đạt tới mức tổ toàn vẹn- hoàn thiện, căn
bản tức là cội nguồn- bản tính đồng nhiên của con người. Lễ hội Đền Hùng cũng không chỉ
dừng lại nơi ngày giỗ Tổ, tưởng nhớ tổ tiên, không chỉ là một cuộc hành hương về đất Tổ, đất
Thánh hay đất phát tích của một dòng vua đầu tiên, đất phát tích của dân tộc Việt Nam mà
thực sự đã trở thành một bức tranh tâm linh, là sự trở về cội nguồn dân tộc”(tập 2) [34; 51]

3.4. Địa danh gắn với lễ hội
Lễ hội dân gian ở vùng ngã ba Bạch Hạc nói riêng, ở Phú Thọ nói chung chính là cơ
sở bảo tồn văn hoá làng xã và di sản văn hoá dân tộc. Lễ hội nơi đây mang những yếu tố hình
thức phổ biến của lễ hội người Việt nói chung nhưng cũng có những biểu hiện địa phương
mang tính đặc thù của một vùng trung du, là điểm khởi hành của lịch sử dân tộc.
Trên vùng ngã ba Bạch Hạc có rất nhiều lễ hội. Hầu hết lễ hội đều gắn với những đình,
đền, chùa. Chúng tôi đã thống kê được một số lễ hội tiêu biểu sau:

1. Hội bơi chải Đền Tam Giang - Bạch Hạc.
2. Lễ hội đình Mộ Chu Hạ
3. Lễ hội đình Dữu Lâu
4. Lễ hội rước kiệu đình Hùng Lô
5. Hội hát Xoan An Thái
6. Hội cướp bông, ném chài đền Vân Luông
7. Hội đu tiên đình làng Phương Châu, Phú Nông, Phú Hữu (Minh Phương)
8. Lễ hội đình Lâu Thượng
9. Lễ hội đình Phượng An (Phượng Lâu)
10. Lễ hội làng Hương Lan (xã TRưng Vương)
11. Hội bơi chải đền Chi Cát
12. Lễ hội đình Hương Trầm
13. Lễ hội xuống đồng làng Minh Nông


niềm tin trong ý thức của con người trên vùng đất ngã ba sông về thời đại Hùng Vương trong
lịch sử. Đó là thời mà vua và dân cùng hợp sức trống thiên tai, cùng đánh giặc và cùng chia sẻ
những giá trị văn hóa tinh thần. Đặc biệt quần thể di tích lịch sử Đền Hùng mang ý nghĩa tâm
linh quan trọng, không chỉ đối với người dân vùng ngã ba Bạch Hạc mà còn đối với mọi
người dân Việt Nam.

18
Địa danh lễ hội phần lớn đều gắn với những đình, đền, chùa, gắn với những di tích vật
thể. Lễ hội không chỉ là nơi vui chơi mà còn là nơi tái hiện lại những nghi lễ, những nếp sống,
tập tục từ ngàn xưa. Đây là nơi phản ánh đời sống văn hóa, tinh thần của cư dân Văn Lang.
Đó là bức tranh tinh thần của những con người gắn với nông nghiệp lúa nước và tín ngưỡng
sơ khai.
Địa danh ẩm thực cho ta thấy một góc văn hóa nữa cuả con người vùng ngã ba Bạch
Hạc. Sản vật của vùng đất này thơm ngon đặc biệt dùng để tiến vua chứng tỏ rằng người dân
nơi đây luôn luôn tin và ngưỡng vọng về một thời đại Hùng Vương.
Qua địa danh di chỉ khảo cổ, địa danh di tích kiến trúc tôn giáo, địa danh lễ hội và địa
danh ẩm thực, ta đã có một cái nhìn đầy đủ và toàn diện về lịch sử và văn hóa của vùng ngã
ba Bạch Hạc. Đây không chỉ là mảnh đất mang trong mình chiều dài 4000 năm lịch sử, bắt
đầu từ thời Hùng Vương dựng nước mà còn chứa đựng chiều sâu văn hóa. Văn hóa trên mảnh
đất này là văn hóa của cư dân nông nghiệp lúa nước, bởi vậy nó gần gũi với cuộc sống và con
người. Bao trùm toàn bộ văn hóa vùng ngã ba Bạch Hạc là văn hóa thời Hùng Vương, văn
hóa gắn liền với 18 đời họ Hùng. Địa danh di chỉ khảo cổ, địa danh di tích kiến trúc tôn giáo,
địa danh lễ hội và địa danh ẩm thực minh chứng rằng thời đại Hùng Vương không chỉ tồn tại
trong truyền thuyết mà còn tồn tại trong hiện thực, trong lịch sử qua những chứng cứ hùng
hồn và thuyết phục. Đây chính là mảnh đất thiêng, là kinh đô Văn Lang xưa.
Ta có thể tìm hiểu lịch sử - văn hóa bằng nhiều nguồn tư liệu khác nhau, song cũng không
thể phủ nhận con đường tìm hiểu lịch sử - văn hóa qua địa danh. Đây là một trong những cách
tiếp cận sống động, cụ thể và sâu sắc.
nước, văn hóa gắn với buổi bình minh dựng nước, khi mà quan hệ vua – tôi còn rất gần gũi và
thân thiết.
Truyền thuyết bao giờ cũng có cái lõi là sự thực lịch sử và thông qua những chứng tích
lịch sử, người viết muốn khẳng định “cái lõi” của truyền thuyết. Qua những di tích khảo cổ,
những chứng tích có thật thì địa danh trên vùng ngã ba Bạch Hạc không chỉ có trong truyền
thuyết. Đó là những địa danh có thật, mang trong mình giá trị lịch sử và văn hóa vô cùng to
lớn. Thông qua đó góp phần khẳng định sự tồn tại của một kinh đô Văn Lang và triều đại các
vua Hùng trong lịch sử.
Những địa danh trên thành phố ngã ba sông không chỉ mang trong mình giá trị văn
hoá, lịch sử mà còn ghi dấu quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của một thành phố trẻ
trong quá trình hội nhập và phát triển. Từ một vùng đất hình thành thôn Việt Trì rồi đến thị
trấn Việt Trì, thị xã Việt Trì và đến năm 1962 thành lập thành phố Việt Trì. Trên mảnh đất
này không chỉ có những giá trị văn hoá truyền thống mà còn có những giá trị văn hoá mới
hình thành – những giá trị văn hoá của một xã hội hiện đại.

20
Thành phố Việt Trì là trung tâm của tỉnh Phú Thọ - một trong những cái nôi của loài
người. Có nhiều nền văn hoá khảo cổ của Bắc Việt Nam thuộc thời Tiền sử và Sơ sử đã có
vinh hạnh mang tên những địa danh của Phú Thọ : Sơn Vi (hậu kỳ đá cũ), Phùng Nguyên,
Đồng Đậu, Gò Mun (Sơ kỳ, Trung kỳ, Hậu kỳ thời đại Đồng thau). Nghiên cứu về địa danh
tỉnh Phú Thọ sẽ là đề tài hấp dẫn và thú vị. Chúng tôi sẽ tìm hiểu và nghiên cứu về vấn đề này
trong những công trình khoa học tiếp theo.

References
1. Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, NXB Khoa học xã hội, H.2004.
2. Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển, NXB Văn hóa thể thao, H.2005
3. Nguyễn Văn Âu, Địa danh Việt Nam, NXB Giáo dục, H.1993.
4. Nguyễn Văn Âu, Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia,
H.2000.
5. Vũ Kim Biên, Văn hiến làng xã vùng đất tổ Hùng Vương, Trung tâm UNESCO thông

21. Lê Trung Hoa, Địa danh học Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, HCM.2006
22. Đoàn Hải Hưng - Trần Văn Thục - Nguyễn Phi Nga, Những làng văn hóa văn nghệ
dân gian đặc sắc ở tỉnh Phú Thọ, NXB Từ điển Bách khoa, H.2009
23. Vũ Như Khôi, Nước Văn Lang thời đại vua Hùng đến nước Việt Nam thời đại Hồ Chí
Mnh, NXB Quân đội nhân dân, H.2005.
24. Phạm Thu Yến (chủ biên), Giáo trình văn học dân gian, NXB Đại học Sư phạm,
H.2002.
25. Nguyễn Xuân Lân, Địa danh tỉnh Phú Thọ, NXB Ty văn hoá tỉnh Phú Thọ, Phú Thọ
1974.
26. Nguyễn Xuân Lân, Địa chí tỉnh Vĩnh Phú, NXB Ty văn hóa tỉnh Vĩnh Phú, Vĩnh
Phú.1974
27. Lịch sử Đảng bộ thành phố Việt Trì, Việt Trì 1997.
28. Từ Thu Mai, Nghiên cứu địa danh Quảng Trị, Luận án Tiến sĩ khoa học Ngữ văn,
H.2004.
29. Từ Thu Mai, Sự phản ánh các phương diện văn hóa trong địa danh Quảng Trị, Tạp chí
Ngôn ngữ, số 12, tr 68 - 72
30. Nhiều tác giả, Kỷ yếu kinh đô Văn Lang, NXB Ty Văn hoá Thông tin Thể thao Vĩnh
Phú, Vĩnh Phú 1996.
31. Nhiều tác giả, Việt Trì xưa và nay, NXB Sở Văn hoá Thông tin Thể thao Phú Thọ - Hội
Văn nghệ Dân gian Phú Thọ, Phú Thọ 2001.
32. Nhiều tác giả, Văn nghê dân gian Việt Trì, NXB Sở Văn hoá Thông tin Thể thao Phú
Thọ - Hội Văn nghệ Dân gian Phú Thọ, Phú Thọ 2001.
33. Nhiều tác giả, Di tích lịch sử văn hoá thời đại Hùng Vương trên đất Việt Trì, NXB Sở
Văn hoá Thông tin Thể thao Phú Thọ, Phú Thọ 2006.

22
34. Nhiều tác giả, Tổng tập văn nghệ dân gian Đất Tổ (Tập 1, 2), NXB Sở Văn hoá Thông
tin Thể thao Phú Thọ - Hội Văn nghệ Dân gian Phú Thọ, Phú Thọ 2001.
35. Nhiều tác giả, Hùng Vương dựng nước, NXB Khoa học xã hội, H.1974
36. Nhiều tác giả, Thời đại Hùng Vương, lịch sử - kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội,


23
53. Bùi Thiết, Địa danh văn hoá Việt Nam, NXB Thanh Niên, H.1999.
54. Nguyễn Kiên Trường, Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng, Luận án tiến sĩ
khoa học ngữ văn, H.1996
55. Viện sử học, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, NXB Giaó dục, Đà Nẵng
2007.
56. Đinh Xuân Vịnh, Sổ tay địa danh Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, H.2002.
57. Trần Quốc Vượng (chủ biên), Cơ sở Văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục, H.2006.
58. Trần Quốc Vượng, Việt Nam cái nhìn địa văn hóa, NXB Văn hoá dân tộc, HN.1998
59. Viện sử học, Đại Nam nhất thống chí (tập IV), NXB Thuận Hoá, Huế 1992.
60. Nguyễn Khắc Xương, Truyền thuyết Hùng Vương, NXB Hội Văn nghệ dân gian Vĩnh
Phú, Vĩnh Phú 1997.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status