Địa danh vùng ngã ba Bạch Hạc dưới góc nhìn văn hóa - Pdf 25

Đại học Quốc gia Hà Nội
Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển Cao Thị Nhật Diễm Địa danh Vùng ngã ba Bạch Hạc
dưới góc nhìn văn hóa
Luận văn thạc sỹ
Chuyên ngành Việt Nam học

Hà Nội – 2012
Đại học Quốc gia Hà Nội
Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển
Cao Thị Nhật Diễm

6. Cấu trúc luận văn 8
B. NỘI DUNG 9
Chương 1 VẤN ĐỀ ĐỊA DANH VÀ ĐỊA DANH VÙNG NGÃ BA BẠCH HẠC 10
1.1 Cơ sở nhận thức về địa danh 10
1.2 Khái quát về địa danh vùng ngã ba Bạch Hạc 12
1.2.1 Khái niệm “vùng văn hóa” 12
1.2.2 Vùng ngã ba Bạch Hạc 14
1.2.2.1 Tiểu vùng văn hóa đất Tổ 14
1.2.2.2 Vùng ngã ba Bạch Hạc 15
1.2.3 Phong Châu – Bạch Hạc – Việt Trì 15
1.2.4 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên và dân cư vùng ngã ba Bạch Hạc 17
1.2.4.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên 17
1.2.4.2 Đặc điểm dân cư – văn hóa xã hội 20
1.2.5 Đặc điểm về cách đặt tên của vùng ngã ba Bạch Hạc trong quá
trình phát triển 22
1.3 Tiểu kết 27
Chương 2 BẠCH HẠC - ĐỊA DANH CỦA NHỮNG TRUYỀN
THUYẾT 29
2.1 Truyền thuyết và cách thức giải mã truyền thuyết 29
2.2 Địa danh vùng ngã ba Bạch Hạc và những truyền thuyết 30
2.2.1 Xã Minh Nông và truyền thuyết “ vua Hùng dạy dân cấy lúa” 30
2.2.2 Làng Lâu Thượng và truyền thuyết “hôn nhân thời vua Hùng” 32
2.2.3 Thôn Lang Đài (Bạch Hạc) - Nơi gắn với truyền thuyết “đài thượng
võ” 32
2.2.4 Làng Dữu Lâu và hai truyền thuyết “ thời vua Hùng” 34
2.2.5 Làng Kim Quất Hạ và truyền thuyết “sản vật thời vua Hùng” 34
2.2.6 Làng Cẩm Đội và truyền thuyết “đọi đèn chống lụt” của Sơn

3.4.1 Lễ hội Tịch Điền 61
3.4.2 Hội hát xoan An Thái 63
3.5 Địa danh liên quan đến văn hoá ẩm thực 64
3.5.1 Hồng Hạc 65
3.5.2 Sông Hồng và cá Anh Vũ 65
3.5.3. Thịt chó Việt Trì 66
3.6 Tiểu kết 66
C. KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 78

A. MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu địa danh là một lĩnh vực rất quan trọng và cần thiết
trong nghiên cứu văn hóa và nghiên cứu khu vực. Bởi vì địa danh là một
dạng thức ngôn ngữ, về bản chất, bao giờ cũng có những mối quan hệ gắn
bó, những ảnh hưởng hay tác động qua lại với văn hoá, lịch sử, địa lý,
dân cư nơi nó tồn tại. Nghiên cứu địa danh trong những mối quan hệ với
các mặt có liên quan đó, đặc biệt nghiên cứu địa danh trong mối quan hệ
với văn hoá hiện đang là một trong những công việc được quan tâm hiện
nay. Và đó chính là lý do vì sao chúng tôi nghiên cứu địa danh vùng ngã
ba Bạch Hạc nhằm góp phần tìm hiểu những giá trị văn hoá của vùng đất
lịch sử này.

Mục đích : tìm hiểu những giá trị văn hoá ẩn sau mỗi địa danh trên
vùng đất Bạch Hạc.
Phạm vi nghiên cứu: dựa vào tư liệu điền dã và những sách vở mà
chúng tôi thu thập được về địa danh vùng ngã ba Bạch Hạc.
Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi chỉ xin tìm hiểu những giá trị
văn hoá ẩn sau một số địa danh vùng ngã ba Bạch Hạc chứ không có
tham vọng bao quát một cách toàn diện mọi giá trị văn hoá vùng Đất Tổ.
3. Lịch sử vấn đề
3.1. Về lịch sử xuất hiện và lịch sử nghiên cứu địa danh Bạch
Hạc.
Ngã ba sông Bạch Hạc – hợp điểm tam giang, là nơi hợp lưu của
ba dòng sông: sông Thao, sông Đà, sông Lô thuộc địa phận phường Bạch
Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đây là nơi hợp lưu ba con sông để
tạo nên một con sông chính - sông Hồng - của đồng bằng Bắc Bộ, cái nôi
của nền văn minh Việt cổ; và đây cũng là một danh thắng tuyệt đẹp đã
được cổ nhân nhắc đến trong nhiều tài liệu chính sử viết về vùng đất cố
đô Văn Lang xưa, với tên gọi như Bạch Hạc Tam Giang, Bạch Hạc từ,
Bạch Hạc Phong Châu.
Tên gọi Bạch Hạc xuất hiện lần đầu tiên trong Dư địa chí của
Nguyễn Trãi: “Phong Châu là Bạch Hạc thuộc Phủ Tam Đái bấy giờ”
[49; 23], “đất Phong Châu có cây chiên đàn, chim hạc trắng đậu ở trên
cây, thế mới gọi là Bạch Hạc.” [49; 28-29]. Rõ ràng, theo cách ghi của
Nguyễn Trãi, Bạch Hạc cũng là cách gọi khác của vùng đất Phong Châu.
Cách giải thích về ý nghĩa của địa danh là nơi “có chim Hạc trắng” quần
tụ mang ngụ ý đây là nơi “đất lành chim đậu”.
Trong Đại Việt sử ký toàn thư (Thế kỷ 17), Bạch Hạc gắn liền với
một dòng sông: “Nhâm Tuất [Thiệu Long] năm thứ 5 (1262) : tháng 3,
xuống chiếu cho các quân chế tạo vũ khí, chiến thuyền. Quân thủy, lục
tập trận ở chín bãi phù sa sông Bạch Hạc” [44; 39-40]. Cũng trong Đại
Việt sử ký toàn thư, địa danh ngã ba Bạch Hạc xuất hiện lần đầu : “Đinh

Địa danh Bạch Hạc còn được chép trong các thư tịch đời Nguyễn
liên quan đến các di tích của địa phương này. Sách Đại Nam nhất thống
chí mục Cổ Tích, tỉnh Sơn Tây chép “Thành cổ của Kinh Dương Vương ở
sau chùa Hoa Long thôn Việt Trì huyện Bạch Hạc có một gò đất, tương
truyền đó là nền thành cũ…”(59; 224).
Trong thời kỳ kháng chiến chống pháp và chống Mỹ, không có
nhiều tài liệu viết về Bạch Hạc.
Căn cứ vào những tài liệu tìm hiểu được, chúng tôi chỉ thấy tên địa
danh Bạch Hạc được ghi lại trong một số sách chứ chưa thấy một công trình
nào nghiên cứu về vùng đất này.
Trong giai đoạn hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về
vùng đất ngã ba sông. Tiêu biểu như Di tích và danh thắng vùng đất tổ
của Trần Kim Thau, Văn nghệ dân gian Việt Trì của nhiều tác giả…. Đặc
biệt vấn đề về kinh đô Văn Lang là đề tài thu hút được nhiều nhà nghiên
cứu lịch sử, văn hoá dân gian tìm tòi, nghiên cứu và cho ra đời một số
công trình liên quan đến vấn đề này như Truyền thuyết Hùng Vương
(Nguyễn Khắc Xương), Hùng Vương dựng nước (Nhiều tác giả - NXB
Khoa học Xã hội), Hùng Vương và lễ hội Đền Hùng (NXB Hội nhà văn-
1996)… Đặc biệt năm 1996, Sở Văn hoá Thông tin và Thể thao Vĩnh Phú
đã tổ chức hội thảo về kinh đô Văn Lang với sự tham gia của nhiều nhà
khoa học trung ương, địa phương và đã thống nhất một vấn đề, đó là sự
tồn tại của kinh đô Văn Lang trên đất Việt Trì. Hội thảo đã cho ra đời
cuốn Kỷ yếu Hội thảo kinh đô Văn Lang.
Tuy nhiên các công trình trên mới chỉ dừng lại ở mức độ nghiên
cứu và khẳng định sự tồn tại của kinh đô Văn Lang thời các vua Hùng mà
chưa có công trình nào nghiên cứu địa danh Bạch Hạc dưới góc nhìn văn
hoá, nhằm tìm hiểu những giá trị văn hoá ẩn sau mỗi địa danh trên mảnh
đất này. Với luận văn của mình, chúng tôi muốn miêu tả và tổng hợp một
cách khái quát những ý nghĩa văn hoá, lịch sử trên đất Bạch Hạc, trên cơ
sở những công trình nghiên cứu trước đây và từ những tìm tòi phát hiện

chỉ về một vùng đất liên quan đến Phong Châu, Bạch Hạc và Việt Trì
hiện nay. Luận văn của chúng tôi, với nhiệm vụ viết về địa danh vùng ngã
ba Bạch Hạc, như vậy, chỉ khuôn lại ở góc nhìn văn hoá giới hạn trong
một phạm vi hẹp của ngã ba Bạch Hạc. Nhiệm vụ của luận văn như thế
cũng chỉ là góp thêm kiến thức nhỏ bé của mình vào kho tàng kiến thức
chung về vùng đất lịch sử quan trọng này.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu.
Để có thể dựng lại bức tranh văn hóa cơ bản nhất về hệ thống địa
danh hiện đang tồn tại trên vùng ngã ba Bạch Hạc, chúng tôi đã cố gắng
sưu tầm, tập hợp ở mức độ cao nhất. Các cứ liệu địa danh được chúng tôi
thu thập được từ các nguồn :
- Tư liệu điền dã thực tế.
- Các tài liệu gồm: Địa chí tỉnh Phú Thọ, Lịch sử Đảng bộ thành
phố Việt Trì, bản đồ, các bài viết…có liên quan đến vùng ngã ba Bạch
Hạc.
Xử lý tư liệu :
- Thống kê, sắp xếp và phân loại theo chủ đề
- Tìm hiểu những yếu tố liên quan đến nội dung địa danh trong
dân gian như truyền thuyết hay lịch sử tên gọi, những lễ hội gắn với địa
danh v.v
Phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp chính được thực hiện trong luận văn là miêu tả nội
dung của địa danh trên cơ sở vận dụng tri thức của nhiều ngành như văn
hoá, lịch sử, ngôn ngữ, địa lý v.v. Đồng thời, để lý giải những nội dung
khác nhau ấy được tích hợp trong từng địa danh, chúng tôi dùng thủ pháp
phân tích, thống kê, tổng hợp. Như vậy, có thể nói phương pháp làm việc
trong luận văn là phương pháp có tính liên ngành hay đa ngành.
- Ngoài ra, khi thực hiện luận văn, chúng tôi có vận dụng lý thuyết
văn hoá để chỉ ra đặc trưng văn hoá của vùng.

Chương này người viết nêu khái niệm về truyền thuyết và cách
thức giải mã truyền thuyết, từ đó tìm hiểu địa danh thông qua việc giải
mã các truyền thuyết có liên quan đến các địa danh. Qua nhiều truyền
thuyết gắn với những địa danh trên vùng ngã ba Bạch Hạc, ta thấy phần
lớn những địa danh, những truyền thuyết đều gắn với thời các vua Hùng,
phản ánh đầy đủ các mặt văn hóa và tinh thần của cư dân Văn Lang xưa.
Những truyền thuyết này không phải chỉ là hư cấu bởi nó một phần phản
ánh cuộc sống, phản ánh lịch sử, phản ánh những tâm tư, tình cảm của
người dân. Qua những chứng cứ khảo cổ học, ta có thể chứng minh được
rằng có tồn tại thời đại Hùng Vương trong lịch sử.
Chương 3. Bạch Hạc : Bức tranh lịch sử - văn hóa qua địa danh
Chương này người viết tìm hiểu địa danh thông qua các di tích
khảo cổ học, di tích kiến trúc – tôn giáo, địa danh gắn với lễ hội và địa
danh liên quan đến văn hóa ẩm thực. Qua đó, ta có một cái nhìn đầy đủ
và toàn diện về lịch sử và văn hóa của vùng ngã ba Bạch Hạc. Đây không
chỉ là mảnh đất mang trong mình chiều dài 4000 năm lịch sử, bắt đầu từ
thời Hùng Vương dựng nước mà còn chứa đựng chiều sâu văn hóa. Bao
trùm toàn bộ văn hóa vùng ngã ba Bạch Hạc là văn hóa thời Hùng
Vương, văn hóa gắn liền với 18 đời họ Hùng. Địa danh di chỉ khảo cổ,
địa danh di tích kiến trúc tôn giáo, địa danh lễ hội và địa danh ẩm thực
minh chứng rằng thời đại Hùng Vương không chỉ tồn tại trong truyền
thuyết mà còn tồn tại trong hiện thực, trong lịch sử qua những chứng cứ
hùng hồn và thuyết phục.
Cuối cùng là phần Kết luận, Thư mục tham khảo và phần Phụ lục
gồm “Tên đường phố Việt Trì” và “Một số hình ảnh về vùng ngã ba Bạch
Hạc”.


đồng con người.
Tên đất, tên núi, tên rừng, tên biển, tên sông, tên đường phố, thậm
chí tên gọi các hành tinh bên ngoài Trái Đất đều là những địa danh.
Thuật ngữ địa danh nguyên thủy, trong tiếng Hy Lạp có cấu tạo
gồm hai bộ phận: topos (địa điểm) và anyma (tên gọi chung nhất với ý
nghĩa là “ tên gọi địa lý”). Nói khác đi, tất cả các tên gọi địa lý được đánh
dấu và ghi nhận bởi các địa danh. Địa danh chính là tên gọi được áp dụng
cho một đối tượng, không gian địa lý hoặc một đặc trưng địa hình, địa vật
nào đó, có tác dụng khu biệt nó với những cái xung quanh và xác định địa
điểm tồn tại của nó trong môi trường.
Ở Việt Nam, theo triết tự Hán - Việt, thuật ngữ địa danh có nghĩa
là “tên đất”. Tuy nhiên, hiện nay có rất nhiều cách hiểu về địa danh. Tác
giả Đào Duy Anh cho rằng: “ Địa danh là tên gọi các miền đất” [2; 220].
Còn trong Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên lại giải thích địa
danh là “ tên đất, tên địa phương” [38; 34]. Nguyễn Văn Âu cho rằng: “
Địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng mạc, hay là tên địa phương,
làng mạc” [3; 18].
Với cách tiếp cận địa danh theo góc nhìn ngôn ngữ học, Nguyễn
Kiên Trường quan niệm: “ Địa danh là tên riêng chỉ các đối tượng địa lý
tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt Trái đất” [54; 16].
Còn Lê Trung Hoa đưa ra cách hiểu:
“ Địa danh là những từ ngữ cố định được dùng làm tên riêng của các địa
hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ ( không có
ranh giới rõ ràng) và các công trình xây dựng thiên về không gian hai
chiều” [19; 21].
Còn tác giả Từ Thu Mai lại đồng ý với cách hiểu của Superanskaja:
“ Địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lý có vị
trí xác định trên bề mặt Trái đất” [28; 21] .
Nhìn chung, với những quan niệm khác nhau đó có một số sự khác
biệt nhất định trong các quan niệm trên chủ yếu xuất phát từ phương diện,

Hồng, khu vực Hồ Gươm, Hồ Tây ở Hà Nội ; hoặc nó tương đương
vùng, ví dụ khu vực (hay vùng) Tây Bắc; cũng có thể lớn hơn vùng và
tương đương miền, ví dụ khu vực (hay miền) Bắc, Trung, Nam. Trong
tiếng Viêt, thuật ngữ “miền” thì rõ ràng nghiêng về cách hiểu là lớn hơn
“vùng”.
Cũng cần nói thêm rằng, thuật ngữ “vùng” không chỉ liên quan đến
vùng kinh tế, mà cơ bản dùng để chỉ một vùng văn hóa. Ở phương Tây, từ
cuối thế kỷ XIX đã xuất hiện lý thuyết văn hóa vùng (Culture area). Năm
1894, O.T. Mason, lần đầu tiên trình bày lý thuyết văn hóa vùng trong tạp
chí American Anthropologist (Nhân loại học Mỹ), để làm cơ sở phân loại
các bộ lạc thổ dân da đỏ. Tiếp đó, vào những năm 1950, giới dân tộc học
ở Liên Xô cũ, trước tiên là các giáo sư N.N.Trebôcxarốp và M.G. Lêvin,
đã xây dựng lý thuyết về loại hình kinh tế - văn hóa và khu vực lịch sử -
dân tộc học, hay có thể gọi chung là lý thuyết lịch sử - văn hóa.
Các lý thuyết trên mặc dù khác nhau nhưng về cơ bản đều dựa vào
trình độ sản xuất các phương tiện sinh sống để phân chia các loại hình
kinh tế - văn hóa; ngoài ra còn chú ý đến các yếu tố cảnh quan - lãnh thổ,
quá trình cộng cư lâu dài, cùng chung vận mệnh lịch sử trong quá trình
hình thành, tồn tại, phát triển của các vùng văn hóa. Giới dân tộc học, văn
hóa học nước ta nhìn chung chịu ảnh hưởng nhiều của lý thuyết lịch sử -
văn hóa của các nhà khoa học Xô Viết.
Có thể quan niệm “vùng văn hóa” là một thực thể văn hóa, bao
gồm những đặc điểm về cảnh quan - lãnh thổ, trình độ và cách thức hoạt
động kinh tế, và các đặc điểm về văn hóa vật thể (nhà cửa, y phục, ăn
uống ), văn hóa phi vật thể (phong tục, tập quán, lối sống, tín ngưỡng -
tôn giáo ); trong đó có một số đặc trưng điển hình so với các vùng khác.
Văn hoá thống nhất trong đa dạng. Đặc trưng này thể hiện ngay
trong một nền văn hoá. Chính vì vậy, phân vùng là một trong những yêu
cầu có tính phương pháp luận trong nghiên cứu văn hoá.
Hiện có khá nhiều quan niệm về vùng văn hoá, trong đó quan niệm

nhà nước Văn Lang. Nơi này hội tụ cả ba dòng sông hùng vĩ của đất Bắc,
nên người xưa tin rằng ngã ba sông Bạch Hạc chính là nơi hợp “đại long
mạch” của đất tổ Hùng Vương.
Ngã ba Bạch Hạc chính là điểm hợp lưu của ba dòng sông. Vậy,
vùng ngã ba Bạch Hạc được xác định như thế nào? Theo định nghĩa của
Giaó sư Trần Quốc Vượng, vùng văn hóa trước hết là một không gian văn
hóa với một cấu trúc hệ thống bao gồm các tiểu hệ theo lối tiếp cận hệ
thống. Như vậy, khi tiếp cận một vùng văn hóa phải tiếp cận theo cấu trúc
hệ thống.
1.2.2.1 Tiểu vùng văn hóa đất Tổ
Căn cứ trên các sắc thái văn hóa địa phương, Ngô Đức Thịnh đã
phân chia vùng đồng bằng Bắc Bộ thành các tiểu vùng văn hóa và các đa
dạng văn hóa mang tính chuyển tiếp. Tiểu vùng văn hóa đất Tổ nằm trong
vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ. Tiểu vùng văn hóa này nằm gọn trong
địa giới tỉnh Phú Thọ và một phần của Sơn Tây cũ, gần trùng với xứ Đoài
như quan niệm dân gian. Thời các vua Hùng, vùng đất này là phần chính
của bộ Văn Lang, trung tâm của 15 bộ thời vua Hùng, nơi hợp lưu của
sông Đà, sông Lô với sông Thao để tạo ra dòng chảy sông Hồng. Thời
hậu Lê và đầu thời Nguyễn, vùng đất này thuộc trấn Sơn Tây, là một
trong “tứ trấn nội kinh”.
1.2.2.2 Vùng ngã ba Bạch Hạc
Theo như bài viết của Ngô Đức Thịnh thì vùng ngã ba Bạch Hạc
thuộc tiểu vùng văn hóa đất Tổ. Không gian văn hóa đất Tổ có một điểm
tương đồng và thống nhất từ ngàn xưa : không gian văn hóa mang đậm
dấu ấn của buổi bình minh dựng nước thời các vua Hùng. Nhắc đến vùng
ngã ba Bạch Hạc, ta nghĩ ngay đến vùng đất thiêng, cội nguồn của dân
tộc Việt, đến kinh đô Văn Lang xưa.
Ngã ba Bạch Hạc nằm trong địa giới thành phố Việt Trì ngày nay.
Thành phố Việt Trì còn có tên gọi là thành phố ngã ba sông. Địa giới
thành phố Việt Trì được xác địnhh từ Đền Hùng đến hết cầu Việt Trì

sông Mã, sông Chu hợp lưu; vùng Việt Trì với sông Thao, sông Lô, sông
Đà. Theo dòng chảy xuôi của thời gian, số phận của những trung tâm này
đi theo những hướng khác nhau. (theo Diệp Đình Hoa- [30; 71]).
Giaó sư Trần Quốc Vượng đã viết : Nếu chỉ nói một câu về vị thế
địa chính trị, địa chiến lược, địa văn hóa của kinh đô cổ đại Văn Lang thì
tôi xin nói rằng : đó là vùng NGÃ BA SÔNG (Hợp lưu Thao-Lô-Đà). Tổ
tiên ta có câu : TỤ NHÂN NHƯ TỤ THỦY. Đây là vùng Tam Giang –
Tam Đái thới Lý Trần, vùng Tây Đạo thời Lê, xứ Đoài cuả dân gian Lê-
Nguyễn…. Về mặt địa chính trị - địa văn hóa, ta có 3 “thủ đô” tự nhiên :
Việt Trì (Văn Lang), Cổ Loa (Âu Lạc), Thăng Long – Phố Hiến (Đại
Việt). Cha ông ta đã rất tài tình khi lựa chọn đất đóng đô, đến mức nhà
địa lý học tài danh Nguyễn Thiệu Lâu và chúng tôi đã mệnh danh Làng
Cả (Việt Trì), làng Chủ (Cổ Loa) và Đại La (Thăng Long) là những thủ
đô thiên nhiên của người Việt phương Nam. Có sông Thao từ Vân Qúy
đến, lại có sông Đà từ Tây Bắc cuộn về, lại có sông Lô (và phụ lưu là
sông Chảy, sông Gâm) từ Việt Bắc dồn về. Thế thì Việt Trì – Bạch Hạc -
Ngã ba Hạc là nơi hội tụ của nhiều luồng cư dân (30; 22-23).
Như vậy, theo cách nhìn địa văn hóa của giáo sư Trần Quốc Vượng
và nhiều học giả khác, không gian Việt Trì (hiện nay) và Phong Châu
(xưa) chính là vùng ngã ba Bạch Hạc. Chính ngã ba này là thực thể tự
nhiên thể hiện “vùng văn hóa” Phong Châu – Bạch Hạc – Việt Trì. Nói
một cách khác, vùng ngã ba Bạch Hạc chính là hiện thân tự nhiên của
“vùng văn hóa đất Tổ”.
1.2.4 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên và dân cư vùng ngã ba Bạch Hạc
1.2.4.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên
Vùng ngã ba Bạch Hạc là mảnh đất nằm giữa sự chuyển giao từ địa
hình đồi núi sang địa hình đồng bằng và là một đỉnh của tam giác châu
thổ sông Hồng, cái nôi của nền văn hóa Việt cổ. Chính vì vậy mà vùng
đất này có cả địa hình đồi núi trung du ( phía Bắc của Việt Trì) và địa
hình đồng bằng (phía Nam Việt Trì). Nơi đây cảnh đẹp hữu tình với núi

Với vị trí đặc biệt như vậy, Bạch Hạc - Việt Trì được các nhà sử
học và văn hóa học nước ta coi là một trong ba “ thủ đô tự nhiên” của
người Việt trong lịch sử: Làng Cả ( Việt Trì), Làng Chủ ( Cổ Loa) và Đại
La ( Thăng Long). Về mặt địa lý, nó tạo nên một tam giác châu thổ sông
Hồng nhưng cũng rất phù hợp với tiến trình lịch sử trải qua ba giai đoạn:
đỉnh Việt Trì (hơn 4000 năm), đỉnh Cổ Loa ( hơn 3000 năm) và đỉnh phố
Hiến ( hơn 400 năm).
Có thể nói Việt Trì – Bạch Hạc được chọn làm kinh đô của người
Văn Lang là điều tự nhiên, tất yếu bởi vị thế về mọi mặt hoàn toàn phù
hợp để xây dựng một trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của một đất
nước mà chủ nhân của nó là những cư dân của nền văn minh sông Hồng.
Điều này đã được chứng minh trong lịch sử khi mà vị trí của Việt Trì
được đánh giá rất cao trong suốt quá trình dựng nước, giữ nước của dân
tộc.
Trong thời kì phong kiến tự chủ, thành phố ngã ba sông luôn là
một tụ điểm kinh tế, tụ điểm dân cư, nơi trao đổi các luồng sản vật của
núi rừng Tây Bắc, Việt Bắc dồn về; hải sản từ miền biển lên; khiến nơi
đây trở thành một địa danh nổi tiếng sầm uất, trên bến dưới thuyền của
miền Tây Bắc.
Vùng ngã ba Hạc cũng nằm trên con đường thiên lý từ Vân Nam
(Trung Quốc) sang kinh đô Đại Việt. Nhiều triều đại phong kiến Việt
Nam thời Trần, thời Lê, thời Mạc đã chọn vùng ngã ba sông Bạch Hạc
làm vị trí trấn giữ phía Tây Bắc Thăng Long, bảo vệ triều đình và kinh đô
cả nước.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc,
Việt Trì – Bạch Hạc có một vị trí chiến lược hết sức quan trọng ở vùng
hậu phương. Nằm trên tuyến giao thông huyết mạch cả đường sắt, đường
bộ, đường thủy; đây là cây cầu nối giữa Nam Trung Quốc, Tây Bắc Việt
Nam với thủ đô Hà Nội và vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đây cũng là địa điểm
tập trung khu công nghiệp lớn quan trọng của cả nước phục vụ công cuộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status